TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
BỘ MÔN GIÁO DỤC THỂ CHẤT
HỒ THIÊN PHÚC
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN MỘT SỐ BÀI TẬP NHẰM NÂNG
CAO NĂNG LỰC ĐÁNH CẦU THUẬN TAY CAO SÂU CHO
NAM SINH VIÊN HỌC LỚP PHỔ TU CẦU LÔNG KHÓA 40
MÃ NGÀNH: 52140206
Cần Thơ 2015
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
BỘ MÔN GIÁO DỤC THỂ CHẤT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN MỘT SỐ BÀI TẬP NHẰM NÂNG
CAO NĂNG LỰC ĐÁNH CẦU THUẬN TAY CAO SÂU CHO
NAM SINH VIÊN HỌC LỚP PHỔ TU CẦU LÔNG KHÓA 40
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Th.S. Châu Hoàng Cầu
Ngày nay trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và
sự hội nhập của nền kinh tế thế giới. Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến
việc nâng cao trình độ dân trí, giáo dục cho mọi tần lớp nhân dân nhằm tạo ra
con người mới, phát triển một cách toàn diện về mọi mặt: Đức – Trí – Thể Mỹ.
1
Trong thời đại kinh tế mở cửa này thì thể dục thể thao lại có một vị trí
quan trọng trong việc mở rộng các mối quan hệ với các nước trong khu vực và
trên thế giới, góp phần vào sự phát triển chung của xã hội.
Những năm gần đây thể dục thể thao Việt Nam cũng đã gặt hái được
một số thắng lợi trên các đấu trường quốc tế và khu vực như các môn: Võ, cầu
lông, điền kinh, cờ vua, bắn súng. Những thắng lợi ấy đã khẳng định sự phát
triển vượt bậc của nền thể thao Việt Nam với bạn bè quốc tế. Góp phần với
các môn thể thao khác mang vinh quang về cho đất nước trong đó không thể
không kể tới môn thể thao cầu lông.
Cầu lông thế giới phát triển rất nhanh về cách đánh, kỹ thuật mới
không ngừng ra đời. Do đó huấn luyện viên, giáo viên và người tập không chỉ
cần nghiên cứu về mặt lý luận chuyên môn mà còn phải học hỏi và hiểu biết
những cơ sở khoa học khác, chỉ có như vậy mới đáp ứng được những yêu cầu
ngày càng cao của giảng dạy và huấn luyện phù hợp với xu thế phát triển
nhanh chóng của môn thể thao cầu lông trong và ngoài nước.
Giảng dạy và huấn luyện cầu lông là một quá trình giáo dục chuyên
môn, chủ yếu bằng các bài tập nhằm hoàn thiện các phẩm chất năng lực, các
mặt của trình độ giảng dạy và huấn luyện nhằm đảm bảo cho người tập đạt
hiệu quả cao nhất trong tập luyện. Các bài tập được sử dụng trong giảng dạy
và huấn luyện phải đảm bảo tính khoa học, được nghiên cứu trong lý luận và
được kiểm chứng trong thực tiễn. Ngoài ra trong quá trình tập luyện, giáo
viên, huấn luyện viên và người tập phải nổ lực sáng tạo, bởi kiểm tra đạt kết
Để thực hiện được mục tiêu của đề tài đặt ra chúng tôi phải tiến hành
giải quyết ba nhiệm vụ sau:
2.2.1. Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng đánh cầu thuận tay cao sâu
của nam sinh viên chuyên ngành lớp Phổ tu cầu lông khóa 40.
2.2.2. Nhiệm vụ 2: Lựa chọn một số bài tập nâng cao năng lực đánh
cầu thuận tay cao sâu của nam sinh viên chuyên ngành lớp Phổ tu cầu lông
khóa 40. Từ đó ứng dụng các bài tập trong thực tiển giảng dạy.
3
2.2.3. Nhiệm vụ 3: Đánh giá hiệu quả của việc lựa chọn một số bài
tập nâng cao năng lực đánh cầu thuận tay cao sâu của nam sinh viên chuyên
ngành lớp Phổ tu cầu lông khóa 40.
4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Quan điểm của Đảng và nhà nƣớc về vai trò của thể dục thể
thao trong nhà trƣờng
Thể dục thể thao là một bộ phận quan trọng của nền giáo dục XHCN.
Nhằm đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện có tri thức, có đạo đức và hoàn
thiện về thể chất.
Tăng cường sức khỏe cho nhân dân, nang cao trình độ thể chất, góp
phần làm phong phú đời sống tinh thần, và giáo dục con người. Đảng ta đã
khẳng định “ Mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con người, do
con người” nhân tố con người đóng vai trò quan trọng và được đặc ở vị trí
trung tâm trong tất cả cá lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội.
phải dạy và học TDTT”.
1.2. Nguồn gốc và chức năng của TDTT
1.2.1. Nguồn gốc của TDTT
Thể dục thể thao ra đời và phát triển theo sự phát triển của xã hội loài
người đó là cơ sở sinh tồn của tất cả mọi hoạt động, là mọi hoạt động thực tiễn
cơ bản nhất. Thể dục thể thao được phát sinh trong những điều kiện sinh hoạt
vật chất nhất định của xã hội đặc biệt là săn bắn. Trong thời cổ xưa con người
sống thành những bầy lớn sinh sống bằng săn bắn là bộ phận sản xuất ra vật
phẩm tiêu dùng chủ yếu nhất của thời đó. Ngay cả trong quá trình giải quyết
những vấn đề thiết thân: Ăn, mặc, ở, của mình. Tất cả mọi hoạt động của con
người điều phục vụ săn bắn là cuộc thi giữa con người và con vật về sức
nhanh, sức mạnh, sức bền, thực tế đấu tranh khốc liệt để sinh tồn đó buộc con
người phải biết dạy và học. Đây chính là điều kiện khách quan để TDTT ra
đời, mặt khác do mọi hoạt động tư duy có rất sớm những kinh nghiệm hoạt
động của con người được tập hợp lại nhiều lần trong cuộc sống và dần dần
được tích lũy lại đã làm cho con người nhận thức được hiện tượng tập luyện,
vì họ hiểu rằng chạy càng nhiều thì chạy càng nhanh, càng dẻo dai hiệu quả
của sự săn bắn càng tốt hơn. Vì vậy trong tập luyện con người nhận thấy việc
tập luyện là rất cần thiết để chuẩn bị lao động, để lao động được khỏe, dẻo dai,
6
bền bỉ. Cho nên người ta tập động tác tương tự như ném, leo trèo dần dần quá
trình lao động và tập luyện con người đã tích lũy kinh nghiệm và truyền từ đời
này sang đời khác. Đây chính là điều kiện chủ quan để TDTT ra đời. Vậy
chức năng vốn có của TDTT là chuẩn bị cho lao động, đi trước lao động.
Trong thời kỳ này TDTT mang tính thực dụng trực tiếp cùng với sự phát triển
của loài người đặc biệt là sự phát triển của khoa học kỹ thuật làm giảm nhẹ
sức lao động của con người. Vì vậy vai trò của TDTT lại mang tính thực dụng
gián tiếp nó chuẩn bị thể lực cho con người. Ngoài ra, nó còn có nhiều vai trò,
Chức năng công nghệ thông tin: TDTT không những là vật dẫn những
thông tin có ích đối với xã hội loài người trong lĩnh vực này, mà còn là vật
chuyển tải những giá trị TDTT sang con người, tập thể, đất nước, thế hệ khác.
1.3. Đặc điểm sinh lý của lứa tuổi sinh viên
Đa số sinh viên có độ tuổi từ 19 đến 25. Cơ thể của người từ lúc sinh
ra đến khoảng 25 tuổi phát triển theo hướng đi lên, sau đó chậm dần và suy
giảm theo quy luật sinh học. Từ đó sự thích nghi của các hệ thống cơ quan
quan trọng trong cơ thể con người đối với những điều kiện sống mới và thay
đổi môi trường cũng trở nên khó khăn. Ở lứa tuổi này về cơ bản các cơ quan
và hệ thống quan trọng nhất của cơ thể ngừng phát triển theo chiều cao vì bộ
xương đã được xương hóa, nhưng lại phát triển theo chiều ngang và tăng trọng
lượng cơ thể. Nếu được tập luyện thể dục thể thao thường xuyên thì mức độ
linh hoạt của các khớp xương có thể thay đổi. Song khả năng giải phẩu sinh lý
của khớp phải là yếu tố quyết định khi lựa chọn động tác trong tập luyện thể
dục thể thao.
Ở lứa tuổi từ 19 đến 25 cơ bắp đã phát triển tạo điều kiện thuận lợi để
tập luyện phát triển sức mạnh và sứ bền. Cơ thể con người có năng lực hoạt
động cao. Tập luyện thể dục thể thao có hệ thống, khoa học sẽ làm tăng lực co
cơ chính là nhờ tăng số lượng và tiết diện ngang cũng như tăng dần sự đàn hồi
của cơ.
Hệ thần kinh:
Các tố chất thần kinh tiếp tục phát triển chậm để đi đến hoàn thiện,
khả năng tư duy phân tích tổng hợp, trừu tượng hóa phát triển thuận lợi cho sự
8
hình thành phản xạ có điều kiện. Chức năng của hệ thống thần kinh trung
ương thể hiện ở 3 đặc trưng chủ yếu của quá trình thần kinh mà Pap – Lốp đã
chỉ ra cường độ hưng phấn và ức chế; tính cân bằng của quá trính hưng phấn
và ức chế; tính linh hoạt chuyển đổi giữa hai quá trình trên. Thời gian phản xạ
phụ thuộc vào huyết áp tối đa, trở lực của mạch ngoại biên và tính đàn hồi của
thành động mạch. Bình thường huyết áp tối đa từ 100 – 150 mmHg; Dưới 100
mmHg là huyết áp thấp. Trên 300 mmHg là huyết áp cao. Huyết áp tối thiểu
từ 65 – 85 mmHg là trung bình. Chỉ số huyết áp bình thường phụ thuộc vào
lứa tuổi và giới tính. Chỉ số huyết áp là chỉ số tương đối ổn định, trong tập
luyện thể dục thể thao huyết áp ít thay đổi….
Hệ hô hấp:
Xác định khả năng tối đa của đọ sâu hô hấp. Vì vậy, nó là các chỉ số
quan trọng về khả năng hoạt động của bộ máy hô hấp. Dung tích sống phụ
thuộc vào dung tích chung và sức mạnh của các cơ hô hấp, vào lực cản của
lồng ngực và phổi khi chúng co giãn. Dung tích sống của phổi bao gồm thể
tích hô hấp, thể tích khí hút vào bổ sung và thể tích dự trữ thở ra. Dung tích
sống của mổi người rất khác nhau và phụ thuộc vào kích thước cơ thể, giới
tính và lứa tuổi. Ở Việt Nam dung tích sống trung bình của lứa tuổi 20 – 25 ở
nam là 3500ml và ở nử là 2600ml. Để xác định dung tích sống, người ta sử
dụng phế dung kế. Trong thực tiển hoạt động thể dục thể thao để xác định
dung tích sống của phổi, người ta sử dụng test Rozenfall. Trong hoạt động thể
dục thể thao lượng thông khí phổi tăng dần lên phụ thuộc vào công suất hoạt
động. Hoạt động với công suất thấp, thông khí phổi tăng lên chủ yếu là do
tăng khí lưu thông. Hoạt động với công suất tăng dần thí tần số hô hấp tăng
song song với thông khí phổi, khi lượng khí lưu thông tăng lên gần giới hạn
của dung tích sống. Như vậy để có lượng khí lưu thông tăng cao, sự tham gia
của các cơ hô hấp là yếu tố quan trọng.
1.4. Các đặc điểm của tố chất thể lực lứa tuổi sinh viên
Tố chất thể lực của con người là tổng hòa các chất lượng của cơ thể
biểu hiện trong từng điều kiện cụ thể của đời sống, học tập, nghiên cứu khoa
học và hoạt động thể dục thể thao. Khả năng vận động là biểu hiện bên ngoài
10
Độ linh hoạt của quá trình thần kinh: Thể hiện khả năng biến đổi
nhanh chóng giữa hưng phấn và ức chế trong trung tâm thần kinh. Ngoài ra,
độ linh hoạt thần kinh còn bao gồm cả tốc độ dẫn truyền xung động trong các
dây thần kinh ở ngoại vi. Sự thay đổi nhanh chóng giữa hưng phấn và ức chế
làm cho các nơron vận động có khả năng phát xung động với tần số cao làm
cho đơn vị thả lỏng nhanh, đó là các yếu tố tăng cường tốc độ và tần số động
tác.
Tốc độ co cơ: Tốc đọ co cơ phụ thuộc trước tiên vào tỉ lệ sợi cơ nhanh
và sợi cơ chậm trong bó cơ, các cơ có tỉ lệ sợi cơ nhanh cao, đặc biệt là sợi cơ
nhanh nhóm II – A có khả năng tốc độ cao hơn.
Cơ sở sinh lý để phát triển sức nhanh:
Là tăng cường độ linh hoạt và tốc độ dẫn truyền hưng phấn ở trung
tâm thần kinh và bộ máy vận động, tăng cường sự phối hợp giữa các sợi cơ và
các cơ, nâng cao tốc độ thả lỏng cơ.
Phát triển tố chất sức nhanh: Đảm bảo phát triển tố chất sức nhanh,
chúng ta cần lưu ý đến quá trình sử dụng phương pháp, hệ thống bài tập và
lượng vận động phù hợp cho đối tượng tập luyện mới đem lại kết quả, song nó
được ưu tiên và chú trọng trong những giai đoạn đầu tập luyện.
Trong rèn luyện năng lực sức nhanh cần chú ý:
-
Bài tập cho phép thực hiện đến mức giới hạn.
-
Bài tập phải được tiếp thu đến mức kỹ xảo mới tập trung vào thực
hiện được tốc độ.
không rơi vào tình trạng lạm dụng các bài tập phát triển tốc độ quá nhiều gây
ra hiện tượng chặn tốc độ làm ức chế hệ thần kinh trung ương và làm giảm sút
tốc độ trong quá trình tập luyện sức nhanh.
Hoàn thiện các nhân tố ảnh hưởng đến tốc độ tối đa người ta sử dụng
đa dạng loại hình bài tập với nhiều mục đích khác nhau như hoàn thiện kỹ
thuật, phát triển sức mạnh tốc độ, khả năng hoạt động linh hoạt của các khớp,
biên độ thực hiện động tác…
1.4.2. Tố chất sức mạnh
Khái niệm: Sức mạnh là khả năng khắc phục lực cản bên ngoài hoặc
chống lại lực cản đó nhờ sự nổ lực của cơ bắp. Sức mạnh có quan hệ chặt chẽ
với các tố chất thể lực khác, với kỹ thuật động tác và tâm lý người tập.
Trong hoạt động khắc phục, lực cản là lực chống lại chuyển động.
Trong hoạt động nhượng bộ, lực cản là lực tác động theo hương chuyển động.
Cơ bắp có thể phát huy sức mạnh trong những trường hợp sau:
+ Không thay đổi chiều dài của cơ chế (chế độ tĩnh lược).
+ Giảm độ dài của cơ (chế độ khắc phục).
+ Tăng độ dài của cơ (chế độ nhượng bộ).
Phân loại: dựa vào chế độ làm việc của cơ vừa nêu trên, ta có thể phân
sức mạnh thành các loại sau:
Sức mạnh tĩnh: thể hiện ở những hoạt động tĩnh hoặc ở các hoạt động
chậm.
13
Sức mạnh tốc độ: thể hiện ở những hoạt động mạnh, giữa lực cản và
tốc độ có mối quan tỷ lệ nghịch.
Sức mạnh bộc phát: biểu hiện chỉ số mạnh lớn nhất trong một thời
gian ngắn nhất.
Ngoài ra, để so sánh sức mạnh của những người có trọng lượng cơ thể
khác nhau, người ta sử dụng khái niệm: Sức mạnh tuyệt đối và sức mạnh
-
Bài tập thực hiện với cường độ tối đa.
-
Bài tập phải được thể hiện về khả năng phối hợp cao.
-
Bài tập với trọng tải bên ngoài phù hợp cho độ tuổi không gây
ảnh hưởng đến phát triển thể chất, thể trạng của cơ thể nhất là đối với người
tập còn trẻ.
-
Thời gian của bài tập phải đủ sao cho khi thực hiện bài tập không
bị ức chế thần kinh.
Chính vì vậy về nguyên tắc là phải áp dụng các bài tập đòi hỏi thực
hiện động tác tối đa, trong đó thành phần của lượng vận động và quãng nghỉ
phải hợp lý để việc rèn luyện sức mạnh tuân theo hướng tăng cường độ sau đó
mới tăng trọng tải. Khi đưa ra bài tập phát triển sức mạnh chúng ta phải xác
định trên cơ sở diễn biến của hệ thần kinh – cơ bắp.
1.4.3.
Tố chất sức bền
Khái niệm: Sức bền là khả năng thực hiện lâu dài một hoạt động nào
đó. Khái niệm sức bền như một tố chất thể lực, vì vậy có tính tương đối cao,
mới có hiệu quả phát triển sức bền chung.
Phƣơng pháp giãn cách tƣơng đối: đặc điểm của phương pháp này
là quãng nghỉ ngắn và quãng nghỉ không phục vụ cho sự hồi phục hoàn toàn,
cường độ từ 60 – 75% cường độ tối đa, khối lượng tương đối lớn nhờ số lần
lặp lại nhiều từ 5 – 20 lần/giáo án, số lần lập lại nhiều hay ít phụ thuộc vào cự
ly chạy – cường độ - quãng nghỉ và đặc điểm trình độ của người tập mà số lần
đưa ra cho hợp lý. Sử dụng phương pháp này nhằm phát triển sức bền ưa khí
bằng các bài tập yếm khí với tốc độ tới hạn, trên tới hạn thực hiện quãng nghỉ
ngắn sẽ diển ra khả năng hấp thụ oxy thông qua cự ly chạy từ 100 – 300m và
tổng khối lượng từ 2 – 3,5km/giáo án hoặc thời gian thực hiện bài tập kéo dài
2 đến 5 phút và lặp lại 2 – 3 tổ/ giáo án. Xác định hiệu quả của bài tập tốt là
16
mạch đập từ 150 – 170 lần/phút và hàm lượng axit lactic ở trong máu từ 2 – 4
mol/lít.
Phƣơng pháp giãn cách tuyệt đối: mục đích chính là tạo điều kiện
khả năng cơ thể hoạt động trong điều kiện thiếu dưỡng khí hỗ trợ cho việc
phát triển sức bền cơ sở, làm tiền đề và nền tảng cho phát triển sức bền chuyên
môn. Khi vận dụng cường độ ở phương pháp này chỉ sử dụng tối đa đến 84%
cường độ tối đa, nếu không sử dụng vượt quá sẽ phát triển sức bền tốc độ.
Khối lượng sử dụng phương pháp này không lơns, tối đa / giáo án tổng là 1,5
– 2 km và quãng nghỉ từ 2 đến 5 phút sau mổi lần thực hiện.
1.4.4. Tố chất mềm dẻo
Khái niệm: Mềm dẻo là khả năng thực hiện các động tác với biên độ
lớn của hệ vận động .
Mềm dẻo được thể hiện ở trình độ linh hoạt của các khớp, độ đàn hồi
của cơ bắp và dây chằn. Do đó người ta thường đánh giá mềm dẻo theo số đo
độ góc hay chiều dài.
hạn chế.
- Khả năng giải quyết nhanh và đúng những tình huống xuất hiện bất
ngờ trong hoạt động các yếu tố ảnh hưởng, khéo léo được coi là tố chất vận
động loại 2. Phụ thuộc vào sự phát triển các tố chất khác như sức mạnh, sức
nhanh, sức bền, mức độ phát triển khéo léo liên quan chặt chẽ với trạng thái
chức năng của hệ thần kinh trung ương.
Phát triển tố chất linh hoạt khéo léo: Khi vận dụng các bài tập phát
triển năng lực linh hoạt khéo léo cần sử dụng các bài tập sau:
- Các bài tập với tư thế kéo giản trong thời gian dài khoảng 10 –
20’’ và lặp lại 3 – 4 tổ.
- Các bài tập với động tác đá lăng nhằm tăng sức kéo giãn đến mức
tối đa của cơ với biên độ lớn và thực hiện 3 – 4 tổ, mổi tổ 5 – 15 lần.
- Các bài tập với tư thế động tác nhằm tăng khả năng phối hợp vận
động.
Khi sử dụng các bài tập nhằm tăng khả năng linh hoạt khéo léo cần
vận dụng những biện pháp:
18
- Đa dạng hóa việc thực hiện động tác.
- Thay đổi điều kiện bên ngoài.
- Thực hiện động tác yêu cầu về thời gian.
- Thay đổi việc thu nhận thông tin.
Tóm lại: qua thực tiển nghiên cứu, các nhà khoa học chứng minh rằng
các tố chất thể lực có mối quan hệ mật thiết với nhau, chúng hổ trợ nhau phát
triển, nếu tách rời một trong những tố chất thể lực đều không có ý nghĩa phát
triển. Thật vậy, tố chất thể lực chung bao gồm 5 tố chất cơ bản: sức nhanh, sức
mạnh, sức bền, mềm dẻo và linh hoạt khéo léo. Trong 5 tố chất có tác dung và
ý nghĩa phát triển thể chất và thể trạng khác nhau, như:
- Tố chất sức nhanh: có tác dụng giúp cho người tập hoạt động
động viên cầu lông.
Đối với thể thao Việt Nam cầu lông cũng có những bước phát triển và
tiến bộ rõ rệt, thu hút được một số lượng lớn người tham gia tập luyện ở mọi
lứa tuổi, và thành phần xã hội.
1.6. Cơ sở lý luận kỹ thuật đánh cầu thuận tay cao sâu
Đặc điểm nổi bậc của kỹ thuật đánh cầu thuận tay cao sâu là: một kỹ
thuật tấn công quan trọng được sử dụng khi cầu đối phương đánh sang ở trên
cao bên phải, mang tính chất ổn định và tấn công lớn. Đặc điểm đó được biểu
hiện như sau:
Đánh cầu là một động tác được thực hiện với tộc độ nhanh và có lực,
cùng với ảnh hưởng trọng lực của bản thân cầu nên sau khi cầu lên đến điểm
cao nhất thì là lúc cơ thể vươn cao hết mức, điểm tiếp xúc giữa cầu và vợt
chếch trên cao sang phía bên phải, cách xa đầu khoảng 1m, thực hiện kỹ thuật
đánh cầu.
Kỹ thuật đánh cầu thuận tay cao sâu:
- Giai đoạn chuẩn bị: Trước hết phải phán đoán chuẩn xác phương
hướng và điểm rơi của cầu đối phương đánh sang, nghiêng người lùi sau, làm
sao cho cầu ở vị trí phía trên lệch ra trước vai phải cơ thể mình. Vai trái đối
diện với lưới chân trái ở trước, chân phải ở sau, trọng tâm rơi vào chân phải.
Tay trái co khuỷu giơ lên tự nhiên, tay phải cầm vợt, cánh tay co khuỷu tự
nhiên, đưa vợt lên phía trên vai phải, hai mắt chú ý nhìn cầu đến.
20
- Giai đoạn đánh cầu: Khi đánh cầu, bắt đầu từ động tác chuẩn bị,
cánh tay phải đưa ra sau, theo đó khuỷu tay nâng lên cao hơn hẳn so với vai
để đưa vợt ra sau đầu, cổ tay duỗi tự nhiên (lòng bàn tay hướng lên trên). Sau
đó, với sự phối hợp dùng sức nhịp nhàng của động tác chân sau đạp đất, quay
người hóp bụng, lấy vai làm trục, cánh tay kéo theo cẳng tay nhanh chóng vẩy
những tình huống khó khăn bằng sự điều chỉnh của tay.
Phát triển trình độ cầu lông phải đề cập đến sự phát triển theo con
đương phức tạp hóa kỹ thuật. Chính vì vậy, trong quá trình tập luyện thi đấu
mỗi người phải sử dụng tốt các kỹ thuật đơn lẽ và vận dụng nhiều các miếng
chiến thuật khác nhau, phù hợp với đối tượng và tình huống thi đấu.
Nhưng trong thực tế không có một vận động viên nào lại hoàn thiện
tất cả các kỹ thuật thi đấu ở mức độ như nhau, mỗi vận động viên điều phải sử
dụng được một kỹ thuật tấn công sắc bén để dành được điểm tuyệt đối.
Trong cầu lông có nhiều kỹ thuật đơn lẽ như kỹ thuật phát cầu, kỹ
thuật đánh cầu, kỹ thuật đập cầu. Việc rèn luyện các kỹ thuật đều phải rèn
luyện các kỹ năng, kỹ xảo, từ đó mà có các miếng chiến thuật được hình
thành nhờ sự kết hợp nhuần nhuyễn các kỹ thuật riêng lẽ nhằm giải quyết
những nhiệm vụ đề ra phù hợp với tình huống đánh cầu.
Lịch sử phát triển cầu lông đã cho thấy, có rất nhiều xu hướng đánh
cầu khác nhau trong từng thời kỳ nhất định song với xu hướng cầu lông hiện
đại là: Tích cực tấn công, sử dụng các cú đánh thuận tay để dứt điểm nhanh
chóng và đã chứng tỏ được tính ưu việt của chúng.
Thực tiển trong thi đấu các vận động viên có đẳng cấp cao ở Việt
Nam thường sử dụng lối đánh tấn công là chính và rất có hiệu quả đã đưa lại
cho họ những thứ hạng cao ở các giải thi đấu lớn. Như vậy, đã chứng tỏ được
uy lực và tầm quan trọng của lối đánh tích cực tấn công toàn diện. Muốn
22
thắng thì vận động viên chỉ có một con đường duy nhất là phải tích cực tấn
công và nhanh chóng dứt điểm.
Kỹ thuật tấn công là một phần rất quan trọng trong hệ thống kỹ thuật
cầu lông, trong thi đấu nếu vận động viên vận dụng tốt kỹ thuật tấn công có
thể làm đối phương bị động hoặc mắc sai lầm tạo điều kiện dành thắng lợi.