LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Phan Thị
Hồng Xuân- người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt
quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Phương
pháp dạy học Ngữ văn, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã
nhiệt tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
Xin gửi lời cảm ơn đến phòng tư liệu khoa Ngữ văn, thư viện trường
Đại học Sư phạm Hà Nội và các thầy cô đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu
thập tài liệu nghiên cứu đề tài này.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè đã
luôn ủng hộ, động viên tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành khóa luận.
Hà Nội, Tháng 4 năm 2016
Nguyễn Thị Kim Hoa
1
DANH MỤC QUY ƯỚC CHỮ VIẾT TẮT
2
VBK
: Văn bản kí
THPT
: Trung học phổ thông
nghệ, mối quan hệ của các sự vật, hiện tượng trở nên gần gũi, chúng ta dần
quen với các khái niệm liên môn, xuyên môn… Bên cạnh đó, quan điểm tích
hợp chiếm vị trí chủ đạo trong nền giáo dục của các nước như: Mĩ, Úc, Pháp,
Đức… Họ đã đưa quan điểm này vào biên soạn chương trình (CT) và chỉ đạo
phương pháp dạy học. Lí thuyết dạy học tích hợp đã được đưa vào kiểm
nghiệm và đạt được kết quả khách quan. Như vậy, quan điểm tích hợp không
đơn thuần chỉ là một đề xuất bước đầu mà đã trở thành một vấn đề mang tính
khoa học được vận dụng và có những thành tựu đáng kể.
Bên cạnh đó, chúng tôi nhận thấy, tích hợp là một nguyên tắc trong
biên soạn chương trình và Sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn hiện hành. Với tư
tưởng tích hợp hóa hoạt động học tập của học sinh (HS), tác giả Nguyễn Khắc
Phi, tổng chủ biên SGK Ngữ văn lớp 6, khẳng định: “Bên cạnh những hướng
cải tiến chung của bộ chương trình như giảm tải, tăng thực hành, gắn với đời
sống, nét cải tiến nổi bật của chương trình và SGK môn Ngữ văn là hướng tích
hợp”. Đúng như vậy, HS trong quá trình học tập, các phân môn kiến thức tuy
được chia ra riêng theo từng môn học, nhưng một thực tế là kiến thức của các
môn học có sự liên quan, gắn kết với nhau. Chính vì vậy, dạy học hiệu quả là
dạy học theo hướng tích hợp các phân môn, liên môn để tránh trường hợp HS
tiếp thu kiến thức một cách rời rạc và biệt lập.
Đổi mới quan điểm dạy học thể hiện từ nội dung đến phương pháp đều
“Lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo tổ chức nội dung chương
trình, biên soạn sách giáo khoa và lựa chọn phương pháp dạy học”.
Chúng tôi cũng nhận ra hiện trạng dạy học Ngữ văn còn nhiều hạn chế.
Về CT dạy học, cơ bản đã có những đổi mới theo hướng tích hợp. Bộ Giáo
dục trong những năm qua đã từng bước thay đổi SGK ở các cấp, tiến hành
4
thay sách và sửa nội dung sách cho phù hợp với điều kiện nhận thức hiện nay
và đổi mới bắt kịp với tri thức nhân loại. Bên cạnh đó, nền giáo dục của
rạc, giáo viên (GV) vẫn còn bỡ ngỡ, lúng túng trong phương pháp dạy học.
Với tất cả những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài Dạy học văn bản kí
trong chương trình Ngữ văn lớp 12 (Ban cơ bản) theo hướng tích hợp để tìm
hiểu, nghiên cứu và ứng dụng quan điểm tích hợp vào việc dạy học VBK trong
CT Ngữ văn lớp 12, nhằm nâng cao hiệu quả dạy học VBK ở THPT.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Lịch sử nghiên cứu về phương pháp dạy học tích hợp
Ở Việt Nam, từ những năm 90 của thế kỉ XX trở lại đây, vấn đề xây
dựng môn học tích hợp với những mức độ khác nhau mới thực sự được tập
trung nghiên cứu, thử nghiệm và áp dụng vào trường phổ thông, tiêu biểu là
các công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Hùng trong bài viết in
trên Tạp chí khoa học Giáo dục số 6/2006: Tích hợp trong dạy học Ngữ văn
cũng đã có cái nhìn khá toàn diện về tích hợp, những cơ sở, cách tích hợp
trong giảng dạy Ngữ văn và tác dụng của việc tích hợp.
Ở bậc Trung học cơ sở (THCS), Tác giả Đỗ Ngọc Thống trong cuốn
Đổi mới việc dạy và học môn Ngữ văn ở THCS (NXB Giáo dục, 2002) đã có
một hệ thống bài viết về quan điểm tích hợp và việc dạy học văn theo hướng
tích hợp. Tác giả chỉ rõ tính chất trong CT Ngữ văn THCS được thể hiện như
thế nào, những điểm mới và những điểm cần chú ý khi thực hiện CT, đặc biệt
là phương pháp dạy học. Trong bài viết Dạy học môn Ngữ văn THCS theo
nguyên tắc tích hợp, tác giả đã đưa ra khái niệm tích hợp trong dạy học Ngữ
văn, biểu hiện của tích hợp, chỉ ra những ưu điểm của nguyên tắc dạy học tích
hợp, tích hợp thể hiện trong việc xây dựng cấu trúc SGK, trong quá trình tổ
chức giờ học, thay đổi cách soạn giáo án, việc đánh giá chất lượng học tập
của HS.
Tác giả Nguyễn Văn Đường, trong báo cáo khoa học Tích hợp trong
dạy học Ngữ văn ở bậc THCS, cũng đề cập đến một số cơ sở lí luận và thực
6
7
Còn theo quan điểm của Xavier Rogier có bốn cách tích hợp môn học,
được chia thành hai nhóm lớn: Đưa ra những ứng dụng chung cho nhiều môn
học và phối hợp quá trình học tập của nhiều môn học khác nhau. Bốn cách
tích hợp gồm:
Cách 1: Những ứng dụng chung cho nhiều môn học, được thực hiện ở
cuối năm học, cuối cấp học.
Cách 2: Những ứng dụng chung cho nhiều môn học được thực hiện ở
những thời điểm đều đặn trong năm học.
Cách 3: Phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhau bằng đề
tài tích hợp. Cách này được áp dụng cho những môn học gần nhau về bản
chất, mục tiêu hoặc cho những môn học có đóng góp bổ sung cho nhau,
thường dựa vào một môn học công cụ. Trong trường hợp này môn học tích
hợp cùng một GV dạy.
Cách 4: Phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhau bằng các
tình huống tích hợp, xoay quanh những mục tiêu chung cho một nhóm môn,
tạo thành môn học tích hợp.
Drake and Burns (2004) đề xuất các định nghĩa của mình về ba hướng
tích hợp đó là: Tích hợp đa môn (Multidisciplinary Intergation); Tích hợp liên
môn: (Interdisciplinary Intergration); tích hợp xuyên môn (Transdisciplinary)
Theo Từ điển Giáo dục học, có các cách tích hợp sau: tích hợp các bộ
môn, tích hợp dọc, tích hợp ngang, tích hợp chương trình, tích hợp kiến thức,
tích hợp kĩ năng. Có thể tích hợp hoàn toàn hoặc tích hợp một phần, trong đó
lại có các cách: liên hợp, tổ hợp, tích hợp.
2.2. Lịch sử nghiên cứu về dạy học văn bản kí trong chương trình
THPT
Thể kí là thể loại văn học có từ lâu đời, trong nền văn học Việt Nam các
tác phẩm kí cũng có vị trí đáng kể. Thời hiện đại, kí được phát triển và chia làm
dẫn HS tìm hiểu tác phẩm từ góc nhìn ngôn ngữ.
9
Luận văn thạc sĩ khoa học Giáo dục của tác giả Trần Thị Quỳnh Trang
Hướng dẫn học sinh lớp 12 đọc hiểu văn bản “Người lái đò sông Đà” từ
góc độ trường nghĩa, đã bước đầu sử dụng con đường tiếp cận tác phẩm văn
học dưới góc độ trường nghĩa để khám phá cách sử dụng ngôn từ của nhà văn,
bóc dần các lớp ý nghĩa của từ ngữ, tìm hiểu hiện tượng chuyển nghĩa và các
hiện tượng cộng hưởng ý nghĩa để thấy nội dung tư tưởng cũng như giá trị
nghệ thuật của tác phẩm. Công trình vừa có hiệu quả trong dạy học Văn và
trong dạy học Tiếng Việt. Tuy nhiên, luận văn mới đề ra các phương pháp,
biện pháp dạy học tác phẩm trên bình diện trường nghĩa- một phạm vi nhỏ
của ngôn ngữ nghệ thuật mà chưa khai thác hết nội dung kiến thức thuộc
nhiều lĩnh vực có trong tác phẩm.
Về văn bản Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường
đến nay có những công trình nghiên cứu như:
Khóa luận tốt nghiệp Đại học của tác giả Nguyễn Phương Lan Dạy học
bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường từ góc
nhìn văn hóa, công trình nghiên cứu này đã góp phần đưa nội dung văn bản
lại gần hơn với thực tế, giúp HS có cái nhìn gần gũi đối với tác phẩm, khai
thác tác phẩm từ góc nhìn văn hóa nhằm tìm một hướng đi mới cho tác phẩm.
Khóa luận tốt nghiệp Đại học của tác giả Trịnh Thị Quỳnh Dạy học
bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường trên cơ
sở so sánh với tùy bút “Người lái đò sông Đà”, công trình này rất mới và
sáng tạo. Từ việc tìm hiểu các tài liệu nghiên cứu, sự nhìn nhận đánh giá của
người đọc về tác phẩm này, người viết đã tổng hợp lại để khai thác tác phẩm
trên cơ sở so sánh đối chiếu với tùy bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn
Tuân như một hướng đi mới cho tác phẩm. Từ đó tìm ra phương pháp nhằm
qua đó chúng tôi đưa ra được những kết luận khái quát, đồng thời giải quyết
được nội dung đề tài.
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn: Ở phương pháp này,
chúng tôi tiến hành điều tra, khảo sát thực tiễn về CT dạy học THPT đặc
biệt là thực tiễn dạy học thể loại kí ở lớp 12. Qua đó, thu nhận từ phía HS,
11
GV những ưu, nhược điểm của phương pháp dạy học đang được sử dụng
và định hướng dạy học tích hợp.
- Phương pháp chuyên gia: Thông qua các báo cáo khoa học, đề cương
và ý kiến góp ý của GV giàu kinh nghiệm hướng dẫn về dạy học tích hợp…
chúng tôi tiến hành tham khảo, chỉnh lí, hoàn thiện và bổ sung đề tài nghiên
cứu của mình.
- Phương pháp thống kê: Phương pháp này được sử dụng để thống kê
các đơn vị kiến thức trong bài học để có định hướng dạy học tích hợp.
6. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, khóa luận của chúng tôi triển
khai thành 3 chương như sau:
Chương 1. Cơ sở khoa học của việc dạy học theo hướng tích hợp
Chương 2. Tổ chức dạy học văn bản kí trong chương trình Ngữ văn lớp
12 (ban cơ bản) theo hướng tích hợp
Chương 3. Thiết kế giáo án thể nghiệm sư phạm
12
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC
Như vậy, tích hợp về cơ bản là sự hợp nhất, sự kết hợp, đan trộn kiến
thức có liên quan với nhau theo hệ thống, để vận dụng vào giải quyết vấn đề
chung trong một phạm vi kiến thức nhất định.
2
Quan điểm về dạy học tích hợp
Theo cách hiểu truyền thống từ trước đến nay, dạy học tích hợp nghĩa
là liên kết nội dung kiến thức của các môn học, các lĩnh vực có liên quan với
nội dung kiến thức của môn học. Ví dụ khi dạy học một văn bản nhật dụng
như: “Cầu Long Biên chứng nhân lịch sử” có thể lồng ghép kiến thức của
môn lịch sử, môn địa lí đồng thời kết hợp kiến thức về môi trường, giao thông
và xã hội…Và để hiểu nội dung trên một cách khoa học thì theo Từ điển giáo
dục cũng đã viết: “Dạy học tích hợp là hành động liên kết các đối tượng
nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác
nhau trong cùng một kế hoạch dạy học”.
Dạy học tích hợp hiểu theo nghĩa hẹp là: “Việc đưa những vấn đề nội
dung của nhiều môn học vào một giáo trình duy nhất trong đó những khái
niệm khoa học được đề cập đến theo một tinh thần và phương pháp thống
nhất” [22;12], có thể tích hợp hoàn toàn hoặc một phần của các môn học.
Có các kiểu tích hợp như:
Tích hợp các bộ môn: Quá trình xích gần và liên kết các ngành khoa
học lại với nhau trên cơ sở của những nhân tố, những quy luật giống nhau,
chung cho các bộ môn, ngược lại với quá trình phân hóa chúng.
Tích hợp dọc: Kiểu tích hợp trên cơ sở liên kết hai hoặc nhiều môn học
thuộc cùng một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực gần nhau.
Tích hợp ngang: Kiểu tích hợp trên cơ sở liên kết các đối tượng học
tập, nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học khác nhau.
Tích hợp chương trình: Tiến hành liên kết hợp nhất nội dung các môn
học có nguồn tri thức khoa học và có những quy luật chung gần gũi nhau.
Thứ tư, để dạy học theo hướng tích hợp có hiệu quả, cần tránh các nội
dung học tập ngang bằng nhau, vì những nội dung có tính quan trọng hơn,
khó hơn sẽ tạo động lực và phục vụ cho nội dung ở quá trình học tập tiếp
theo.
15
Như vậy, quan điểm dạy học theo hướng tích hợp giúp thúc đẩy quá
trình học tập đạt được kết quả cao, đồng thời nội dung kiến thức tránh được
sự rời rạc, lẻ tẻ, HS có thể tiếp thu kiến thức một cách hệ thống. Dạy học tích
hợp giúp khai thác tốt nhất năng lực vốn có và nhu cầu giải quyết vấn đề của
HS.
2
Quan điểm tích hợp trong dạy học Ngữ văn
Quan điểm tích hợp trong CT Ngữ văn hiện nay đã được chú trọng, CT
mới khẳng định: “Lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo tổ chức nội
dung chương trình, biên soạn SGK và lựa chọn các phương pháp giảng dạy”.
Có thể nói quan điểm dạy học tích hợp đã xuyên suốt CT từ nội dung đến
phương pháp dạy học.
Tác giả Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên) trong lời nói đầu SGK Ngữ
văn 6 đã khẳng định: “Bên cạnh hướng cải tiến chung của bộ chương trình
như giảm tải, tăng thực hành, gắn đời sống, nét cải tiến nổi bật của chương
trình và sách giáo khoa môn Ngữ văn là hướng tích hợp” và CT THPT là sự
tiếp tục hoàn thiện và phát triển quan điểm tích hợp trong dạy học Ngữ văn.
Quan điểm tích hợp trong dạy học Ngữ văn thể hiện ở nội dung CT và
SGK như sau:
Môn học Ngữ văn hiện nay là sự kết hợp của 3 phân môn đó là: Tiếng
Việt, Làm văn, Văn học. Ba phân môn này có sự liên kết với nhau trong dạy
học: Ví dụ khi dạy phân môn Tiếng Việt, người dạy lấy ví dụ minh họa từ
tâm, định hướng, thúc đẩy khả năng tự học, chủ động, tự giác tìm hiểu, mở
rộng tri thức.
- Khắc phục tính hàn lâm, giảm tải: Hạn chế được kiến thức quá tải, CT
quá nặng đối với người học như trước đây. Tuy nhiên vấn đề này cần cân
nhắc kĩ lưỡng trong quá trình tiến hành.
- Nguyên tắc tích hợp: Rất quan trọng, phát huy được năng lực hỗ trợ
lẫn nhau giữa các đơn vị kiến thức giữa các phân môn trong cùng môn học,
hoặc giữa các môn học với nhau.
Các phương pháp dạy học:
17
Ba phân môn trong bộ môn Ngữ văn tuy có liên quan với nhau, nhưng
để tìm ra hướng dạy học đạt hiệu quả cao nhất trước nay vẫn là một vấn đề
khó. Dựa trên cơ sở nội dung CT xây dựng theo hướng tích hợp, GV triển
khai dạy học bộ môn theo hai hướng chính:
Tích hợp “Trong từng thời điểm” (một tiết học, một bài học) là tích hợp
ngang (intégaration horizontale). Đó là kiểu tích hợp nội dung văn bản với nội
dung của hai phân môn như Tiếng Việt và Làm văn.
Tích hợp “Theo từng vấn đề” (integration vertical)- tích hợp dọc: Là
giúp HS củng cố, ôn tập kiến thức cũ, vận dụng rèn luyện kiến thức mới vào
giải quyết vấn đề mới, vừa khơi gợi hứng thú ở HS về những bài học sau qua
việc liên hệ bài học với nội dung đã dạy hoặc sẽ dạy ở hai phân môn kia và ở
chính phân môn ấy.
Quan điểm dạy học tích hợp thể hiện một cách thống nhất từ mục tiêu
chương trình, tên gọi, nguyên tắc và phương pháp dạy học bộ môn. Để áp
dụng quan điểm này vào dạy học Ngữ văn yêu cầu GV phải nắm vững cơ chế
dạy học hiện đại lấy HS làm trung tâm, phát huy tính tích cực, chủ động sáng
tạo của người học.
sự của đối tượng miêu tả” (Hà Minh Đức). Các nhà viết kí thường đi nhiều,
biết nhiều, những hiện thực khách quan phong phú đã “mở ra cho thể kí khả
năng tháo vát hiếm có so với các thể loại văn xuôi khác” (Hoàng Phủ Ngọc
Tường). Không một thể loại văn học nào có thể cung cấp những kiến thức về
văn hóa (Địa lí, lịch sử, nghệ thuật…) sâu sắc như thể kí.
Thứ hai, “văn học là nghệ thuật của ngôn từ”, kí là một thể loại văn
học với đầy đủ các phẩm chất của một tác phẩm văn học, tập trung cái hay,
cái đẹp của một tác phẩm nghệ thuật. Ngôn ngữ thể kí phong phú, tinh tế,
giàu màu sắc. Theo Nguyễn Tuân cách diễn đạt của thể kí rất đa dạng và phức
tạp. Ở kí các biện pháp tu từ ngữ âm và tu từ cú pháp như: sử dụng láy, so
sánh nhân hóa, liên tưởng được sử dụng tạo âm hưởng, nhịp điệu cho câu văn.
Nhận xét về câu văn trong thể kí, Nguyễn Trung Thành từng viết: “Có
gì đấy đang trào dậy trong tôi, như một linh cảm mơ hồ, như một hơi men
say, một con sông ngầm xao động ở chỗ sâu kín nhất trong tâm hồn… một
19
giọng hát dân ca, ngân nga bát ngát như cánh cò trên đồng lúa Việt Nam
chạy tới chân trời, có lúc rụt rè, e thẹn như khóc mất người yêu mới gặp, có
lúc tinh nghịch duyên dáng như những đôi chân nhỏ thoăn thoắt gánh lúa
trên những con đường làng trộn lẫn bóng tre và bóng nắng” (Đường chúng
ta đi- Nguyễn Trung Thành) và nói như Nguyễn Tuân “Kí có quyền dùng tất
cả các cách của truyện, kịch, thơ ca, và cả các cách thức của điện ảnh, sân
khấu, ca vũ, hội họa, điêu khắc…”. Như vậy, so với những ngôn từ nghệ thuật
khác kí có xu hướng mở rộng, dung nạp nhiều hình thức, sáng tạo phong phú
hơn.
Thứ ba, hình tượng tác giả trong thể kí có vai trò vô cùng quan trọng và
nổi bật. Trong tác phẩm kí, sự thật của cuộc sống được tác giả đưa vào không
còn thô kệch mà nhờ có những chất liệu nghệ thuật mà chúng trở nên tinh tế,
độc đáo đầy tính nghệ thuật. Thể loại này vừa có yếu tố truyện vừa có sự
sự trau dồi kinh nghiệm và hình thức truyền đạt sáng tạo rất lớn của GV để
giúp cho HS vừa tiếp thu được bài học vừa rèn luyện cho bản thân những kĩ
năng, năng lực phong phú cần vận dụng trong cuộc sống.
2
1
Cơ sở thực tiễn
Chương trình và Sách giáo khoa Ngữ văn THPT biên soạn theo hướng
tích hợp
Tiếp nối những kiến thức ở bậc học THCS, nội dung CT Ngữ văn
THPT thực hiện trên tinh thần tích hợp, không thể tách rời ba phân môn Văn
học, Làm văn, Tiếng Việt. CT lấy kiểu văn bản làm trục đồng quy, mỗi văn
bản văn chương ưu tú cung cấp nhiều dữ kiện cho sự trau dồi Tiếng Việt và
Làm văn. Ngược lại kiến thức về Tiếng Việt và Làm văn càng giúp quá trình
Đọc- hiểu văn bản của HS có hiệu quả hơn. Chính vì thế, nội dung của mỗi
bài học thường có đủ ba phần: Văn học, Tiếng Việt, Làm văn. Như vậy, trên
tinh thần tích hợp cả ba phân môn đã trở thành một bộ phận hữu cơ của một
cơ thể hoàn chỉnh, không tách rời mà có sự liên kết nội tại, phụ thuộc và bổ
sung cho nhau.
Học Ngữ văn để trau dồi tình cảm, thầm mĩ và nhân cách. Đó là một
mục tiêu vô cùng quan trọng. Song CT Ngữ văn THPT còn chú trọng đến
21
phương diện văn hóa của văn bản văn chương. Văn chương trong nhà trường
cung cấp những hiểu biết về nhiều phương diện của đời sống. Nếu như văn
bản nghị luận xã hội và văn bản nhật dụng đối với CT THCS là một kiểu văn
bản còn khá mới mẻ, quá trình tiếp nhận văn bản không thể tránh khỏi những
bỡ ngỡ thì đến bậc học THPT, nội dung CT ở cấp học này chú trọng thêm ở
hai kiểu văn bản đó.
đa các kiến thức liên quan đến bài học để khai thác triệt để vấn đề có trong bài
học. Các hoạt động được tổ chức trong lớp học, hay trong các tiết học ngoại
khóa góp phần rất lớn trong việc thúc đẩy năng lực tự học của HS. Nhưng
thực tế thì ít GV thực hiện được điều đó.
Chính vì vậy, để khắc phục những hạn chế nêu trên, phải có CT tập
huấn hơn nữa về chuyên môn cho GV, đồng thời nhà trường phải tạo điều
kiện tốt nhất, có những chính sách khích lệ GV, để từ đó chất lượng dạy học
ngày càng được nâng cao.
1.2.3. Văn bản kí trong chương trình THPT
Tên văn bản
Tác giả
Lớp
Hưng Đạo Đại Vương Trần Ngô Sĩ Liên
10
Quốc Tuấn (CT đọc thêm)
Thái sư Trần Thủ Độ (CT đọc Ngô Sĩ Liên
10
thêm)
Hiền tài là nguyên khí quốc gia
Thân Nhân Trung
10
Vào phủ chúa Trịnh
Lê Hữu Trác
11
Những ngày đầu của nước Việt Võ Nguyên Giáp
12
Nam mới (CT đọc thêm)
Người lái đò sông Đà (Trích)
Nguyễn Tuân
12
Về thời gian: Định hướng dạy học tích hợp mới xuất hiện và áp dụng
vào dạy học. Phần lớn GV và HS còn bỡ ngỡ. Chính vì vậy, hiệu quả đạt được
chưa cao.
Về phương tiện: Hiện nay cơ sở vật chất đã có những bước cải tiến,
nhưng vẫn chưa đáp ứng được với nhu cầu học tập. Công nghệ thông tin mới
chỉ áp dụng nhiều ở một số trường học lớn.
Với người hướng dẫn là GV, có thể nói đây là nhóm bài chiếm vị trí nhỏ
trong CT dạy học, nên thường không được sự quan tâm và nghiên cứu nhiều.
Các GV thường có những nhận thức sai lầm như: Đây là nhóm bài cũng giống
như các tác phẩm văn xuôi, thường hướng về lối phân tích tác phẩm văn xuôi
mà quên đi một mặt phản ánh hiện thực và yếu tố nhật dụng của văn bản kí.
Hơn nữa, vốn kiến thức của giáo viên về dạng văn bản này chưa được mở rộng,
chuyên sâu, phương pháp dạy học chưa đạt được kết quả cao…
Với chủ thể tiếp nhận là HS thường có tâm lí coi trọng môn khoa học tự
nhiên đã có trong tiềm thức của các em và lớn dần theo từng cấp học. Đến
24
năm lớp 12 thì các em chủ yếu chuyên sâu vào môn chính theo khối học của
mình mà gần như quên đi những môn học phụ dẫn đến tình trạng xa lánh môn
Ngữ văn hay HS thường không có hứng thú với những dạng văn bản lạ, các
em chưa tìm thấy được nguồn cảm hứng để đi sâu tìm hiểu.
Từ những lí do như vậy mà dạy học kí nói chung hay hai VBK lớp 12
nói riêng đã chưa có được những hiệu quả cao nhất. Hướng dạy học tích hợp
phù hợp và sẽ góp phần nâng cao hiểu quả dạy học nhóm bài này.
25