Tiểu Luận
Đề tài: Quan điểm của Mác –Lê nin về con đường biện chứng của
sự nhận thức chân lý.
1.Mở đầu:
Chủ nghĩa duy vật biện chứng coi nhận thức không phải là sự
phản ánh đơn giản, thụ động mà nhận thức là quá trình phản ánh
hiện thực khách quan, gắn liền với hoạt động thực tiễn. Quá trình đo
được Lê nin chỉ ra như sau: “ từ thực quan sinh động đến tư duy
trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn. Đó là con đường
biện chứng nhận thức chân lý”.
Con đường biện chứng của nhận thức chân lý là một đề tài đa
được xuất hiện nhiều. Và khi đo, vấn đề này đa co rất nhiều ý kiến,
nhận xét, quan điểm khác nhau, vì khả năng nhận thức của mỗi con
người là không giống nhau. Ở đo trong lịch sử Triết học, Hê ghen co
thể được coi là người co công lao to lớn trong việc xác định vai tro
của logic trong nhận thức chân lý. Nhưng với Hê ghen là biện chứng
của ý niệm , ý niệm thuần túy. Ăng ghen đánh giá rằng Hê ghen là
chủ nghĩa duy vật lộn đầu , cũng co thể cho rằng Hê ghen đa tạo ra
một con người nhưng con người đo lại đầu lộn xuống đất và hai
chân ở trên. Dựng lại con người đo để no đứng bằng hai chân nhờ
vào triết học Mác-Lê nin, từ tự nhiên, khách quan hình thành nên
1
nhận thức bên trong con người , trước con người, co các hiện tượng
tự nhiên, đo là những con người bản năng , man rợ, không tự tách
khỏi thế giới tự nhiên. Người co ý thức tự tách khỏi giới tự nhiên
khỏi đo tức là của sự nhận thức thế giới, chúng là những điểm nút
giúp con người nhận thức và nắm vững. Lê nin đa khẳng định rằng ,
vào bộ oc con người, trên cơ sở thực tiễn nhằm tạo ra tri thức về thế
giới quan. Đây là quá trình diễn ra khá phức tạp, bao gồm nhiều giai
đoạn, trình độ vong khâu khác nhau song đây là quá trình biện
chứng đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy
trừu tượng đến thực tiễn
1.
Trực quan sinh động
Là giai đoạn mở đầu của quá trình nhận thức, là phản ánh trực
tiếp các sự vật, hiện tượng của hiện thức khách quan, thông qua các
giác quan của con người. Giai đoạn này, nhận thức được thực hiện
qua ba hình thức cơ bản là: cảm giác, tri giác, biểu tượng.
a.
Cảm giác
Cảm giác là hình thức đầu tiên, đơn giản nhất của nhận thức
cảm tính, là sự phản ánh những mặt, những thuộc tính riêng lẻ của
sự vật, hiện tượng một cách trực tiếp. Đây là hình thức của sự phản
ánh hiện thực khách quan đầu tiên của nhận thức. Cảm giác được
hình thành là do co sự chuyện hoa năng lượng kích thích bên ngoài
thành yếu tố của ý thức.Theo Lốc cơ: “ Không co gì trong lý tính
con người mà lúc đầu không co trong cảm giác. Cảm giác là sự nhận
3
thức trực tiếp và cảm giác mang tính lịch sử xa hội”. Cảm giác là
nguồn gốc của mọi sự hiểu biết, là kết quả của sự chuyển hoa những
năng lượng kích thích từ bên ngoài thành yếu tố của ý thức.Chính vì
thế mà Lê nin đa viết “Cảm giác là hình ảnh chủ quan cuả thế giới
khách quan.”No là cơ sở hình thành nên tri giác.
b.
tiếp nhau của hình thức nhận thức cảm tính. Trong nhận thức cảm
tính đa tồn tại cả cái bản chất lẫn không bản chất , cả cái tất yếu và
ngẫu nhiên, cả cái bên trong lẫn bên ngoài về sự vật. Nhưng ở đây,
con người chưa phân biệt được cái gì là bản chất với không bản
chất, đâu là tất yếu với ngẫu nhiên , đâu là cái bên trong với cái bên
ngoài. Yêu cầu của nhận thức đoi hỏi phải tách ra và nắm lấy cái
bản chất, tất yêu, bên trong, chỉ co chúng mới co vai tro quan trọng
cho hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người. Như vậy, dừng
lại ở nhận thức cảm tính sẽ gặp phải mâu thuẫn giữa một bên là thực
trạng chưa phân biệt được đâu là cái bản chất, tất yếu , bên trong,
đâu là cái không bản chất, ngẫu nhiên bên ngoài với một nhu cầu tất
yếu phải phân biệt được những cái đo thì con người mới co thể nắm
được quy luật vận động và phát triển của sự vật. Khi giải quyết mâu
thuẫn ấy, nhận thức sẽ vượt lên một trình độ mới, cao hơn về chất,
2.
đo là tư duy trừu tượng.
Tư duy trừu tượng
Tư duy trừu tượng là đặc trưng của giai đoạn nhận thức lý tính,
là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, là sự phản ánh trực tiếp các
sự vật, hiện tượng của hiện thực khách quan, co thể phản ánh được
mối liên hệ bẩn chất tất nhiên bên trong sự vật co khả năng phản ánh
sự vật sâu sắc hơn, đầy đủ hơn. Tư duy là đối tượng nghiên cứu của
nhiều khoa học khác nhau, goc độ lý luận nhận thứ chỉ chú ý nghiên
cứu tư duy như sảm phẩm co tính quy luật trong sự phát triển lịch
5
sử thực tiễn xa hội. Trong quá trình đo, con người biến đổi thực tiễn
khách quan vad hoàn thiện tư duy mình. Đây là giai đoạn nhận thức
là cái phản ánh, thế giới khách quan là cái bị phản ánh cùng vân
động biến đổi theo.Trong thực tiễn, khái niệm mới luôn được hình
thành, khái niệm đa co được bổ sung thêm nội dung mới, khái niệm
không con phù hợp sẽ bị loại bỏ. Sự hình thành khái niệm là kết quả
của sự khái quát, tổng hợp biện chứng các đặc điểm, thuộc tính của
sự vật, hay một lớp sự vật. Vì vậy các khái niệm vừa co tính khách
quan vừa co tính chủ quan, vừa co mối quan hệ tác động qua lại với
nhau, vừa thường xuyên vận động và phát triển. No chẳng những
linh động, mềm dẻo, nằng động mà con là điểm nút,của quá trình tư
b.
duy trừu tượng, là cơ sở để hình thành phán đoán.
Phán đoán
Nếu khái niệm phản ánh thuộc tính chung, bản chất của đối
tượng thì phán đoán chỉ phản ánh một thuộc tính, một mối liên hệ
của một loại đối tượng. Phán đôán biểu hiện về hình thức ngôn ngữ
thành một mệnh đề, một câu. No cho ta hiểu biết tin cậy về sự vật
hiện tượng. Trong khoa học, phán đoán là những luận điểm khoa
học. Phải xem xét phán đoán trong mối liên hệ, không cô lập, không
tách rời hoặc coi là tổng số đơn giản đơn các khái niệm tạo thành.
Người ta vận dụng phán đoán trong quá trình quy lý. Là hình thức
của tư duy liên kết ấy khẳng định hoặc phủ định một đặc điểm, một
thuộc tính nào đo của đối tượng. Ví dụ: “ người Việt Nam đều co
long yêu nước” là một phán đoán. Bởi vì ở đo co sự liên kết khái
niệm “ người Việt Nam” với khái niệm “ long yêu nước”.Sự liên kết
khẳng định thuộc tính “ yêu nước” trong người Việt Nam. Theo
trình độ phát triển của nhận thức, phán đoán được phấn chia làm ba
7
Nhận thức cảm tính và lí tính là hai giai đoạn khác nhau về
chất trong quá trình nhận thức
8
Nhận thức cảm tính là sự phản ánh trực tiếp mang lại những
hình ảnh bề ngoài về sự vật.
Nhận thức lý tính là sự phản ánh gián tiếp mang tính trừu
tượng, khái quát
Nhận thức cảm tính và lý tinh thống nhất biện chứng với
nhau.Chúng đều phản ánh thế giới vật chất co cùng một cơ sở sinh
lý duy nhất là hệ thần kinh của con người đều phải chịu sự chi phối
của lịch sử xa hội. Để nhận thức trở nên chính xác hơn, sâu sắc cần
phải phát triển nhận thức cảm tính lên nhận thức lý tính. Từ nhận
thức lý tính phải tiếp tục tiến đến thực tiễn đến thực tiễn, bởi vì
muốn biết tri thức co chân thực hay không thì phải dùng thực tiễn
làm tiêu chuẩn . Hơn nữa, mọi nhận thức suy cho cùng đều xuất phát
từ nhu cầu thực tiễn và trở lại phục vụ thực tiễn. Nhận thức cảm tính
và lý tính là những nấc thang hợp thành chu trình nhận thức.
Phần 3. Kết luận
Nhận thức cảm tính phản ánh trực tiếp thông qua các cơ quan
thụ cảm nên đem lại cho ta hiểu biết bề ngoài, phiến diện, chưa phân
biệt được cái riêng và cái chung, bản chất và hiện tượng, nội dung
và hình thức…
Nhận thức lý tính phản ánh gián tiếp, khái quát từ cảm tính
nen đem lại cho ta hiểu biết sự vật hiện tượng trong tính bản chất
sâu sắc.
Hai hình thức này thống nhất với nhau, xen kẽ, tác động qua
lại bổ sung cho nhau, phụ thuộc nhau, không tách rời . Mỗi hình
thức nhận thức co vai tro nhất định không thay thế và không thể