Phần mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thế giới đã biết đến các nhà lãnh đạo quân sự tài ba của Việt Nam. Một
số trong họ đã đợc ghi vào bộ sử biên niên các nhà quân sự nổi tiếng thế giới
nh Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Huệ, Võ Nguyên Giáp Không chỉ đánh giặc
giỏi mà ngời Việt Nam còn đóng góp cho nhân loại nhiều nhà t tởng, nhiều nhà
văn hoá lớn tầm cỡ thế giới. Và không phải ngẫu nhiên mà UNESCO, khi liệt
kê các nhà văn hoá lớn của thế giới, đã phải dành chỗ để ghi tên tuổi của các
nhà t tởng lớn của Việt Nam nh Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Chí Minh. Lịch
sử dân tộc ta thật là vĩ đại, cho nên việc tiếp tục khai thác, nghiên cứu sâu
hơn, tổng kết khoa học hơn di sản t tởng, trớc hết là t tởng triết học của ông cha
ta, chỉ ra cho đợc những giá trị lâu bền trong di sản đó, cố gắng tìm trong đó
bản sắc, những khía cạnh độc đáo cần kế thừâ và phát triển, giải thích cho đợc
cái làm nên bản sắc dân tộc đó.. Mặt khác, cũng chính việc tổng kết di sản này,
rút ra những bài học, những kinh nghiệm của quá khứ sẽ góp phần không nhỏ
cho công cuộc xây dựng và phát triển mọi mặt đất nớc hiện nay và sắp tới. T tởng của Nguyễn Trãi là một trong những đóng góp lớn cho di sản vĩ đại đó,
đáng để cho chúng ta khai thác, nghiên cứu.
Giới lý luận và những ngời quan tâm đến chính trị thế giới đã từng biết
đến một khái niệm dân tộc nổi tiếng mang tính phổ quát, lần đầu tiên đợc
Stalin ra trong tác phẩm Chủ nghĩa Mác và vấn đề dân tộc, song điều mà các
học giả thế giới ít biến đến là, ngời đầu tiên trong lịch sử thế giới cố gắng tìm
kiếm và đã đa ra đợc một ý nghĩa dân tộc tơng đối có hệ thống và toàn diện
lại là một ngời Việt Nam. Đó chính là Nguyễn Trãi, nhà văn hoá lớn đã đợc
thế giới công nhận và xếp hạng.
Trong tập kỷ yếu Kỷ niệm 600 năm sinh Nguyễn Trãi, nhiều tác giả
đã chỉ ra rằng Nguyễn Trãi là nhà quân sự, chính trị, ngoại giao nhà văn hoá
lớn. Cống hiến của Nguyễn TRãi đã đợc một số tác giả nói tới. Chẳng hạn,
1
2
cống hiến của ông cho đất nớc, một sự đóng góp mang tầm cỡ thế giới ở thế
kỷ XV, mà thế giới ít biết đến.
4. Phơng pháp nghiên cứu.
Để tạo nên sự phong phú, sâu sắc và tính chính xác cho tiểu luận tôi đã
vận dụng một cách linh hoạt về lí luận chính trị học, đồng thời kết hợp phơng
pháp duy vật biện chứng, phơng pháp logic lịch sử, phơng pháp phân tích
5. Kết cấu của tiể luận.
Chơng I: Logic của quá trình hình thành và phát triển t tởng chính trị
của Nguyễn Trãi.
1. Đại Việt thế kỉ XIV nửa đầu thế kỉ XV
2. Cuộc đời, thân thế, sự nghiệp.
Chơng II: Quan niệm dân tộc trong t tởng chính trị của Nguyễn Trãi.
1. Quốc gia dân tộc
2. Dân tộc - đồng nghĩa với t tởng lấy dân làm gốc của Hồ Chí Minh.
Chơng III: Kế thừa và phát triển t tởng dân tộc trong lịch sử của lịch sử
Việt Nam.
3
Nội dung
Chơng I:
Logic của quá trình hình thành và phát triển
t tởng chính trị của Nguyễn Trãi
1. Đại Việt thế kỉ XIV - đầu thế kỉ XV
1.1. Tình hình xã hội.
khó khăn cho nhân dân.
Năm 1369, Trần Dụ Tông chết không có con trai nối ngôi. Bà Thái Hậu
(vợ Trần Minh Tông) đa Nhật Lễ, con thứ của một đại vơng nhà Trần lên làm
vua. Nhật Lễ vốn là con của một ngời phờng chèo, họ Dơng, nên khi lên làm
vua, hàng ngày chỉ vui chơi, hoang dâm, rợu chè, rắp tâm xoá họ Trần
thay bằng họ Dơng của mình, nên tìm cách giết hại các quý tộc cao cấp nhà
Trần. Thái Hậu biệt giết. Tớng quốc Trần Nguyên Trác mu cùng 18 quý tộc
lật đổ Dơng Nhật Lễ cũng bị bắt giết hết. Cả triều Trần hoang mang mãi một
năm sau mới cùng nhau hạ đợc Nhật Lễ, đa Trần Phủ lên, tức Trần Nghệ
Tông. Nhà Trần suy, dòng họ Trần không còn có khả năng khôi phục uy tín
ngày xa của mình nữa.
b. Các cuộc khởi nghĩa của nông dân, nô tì.
Từ đầu thế kỉ XIV, do mất mùa đói kém, nông dân đã phải bán vợ, bán
con, bán minh làm nô tì cho các qúy tộc, địa chủ giàu có. Bọn này nhân đó
xâm chiếm hoặc mua rẻ ruộng đất, mở rộng điền trang, tăng thêm số ngời làm.
Nhiều nhà chùa cũng trở thành chru đất lớn với rất nhiều điền nô. Cùng với
tình trạng đó, các cuộc chiến tranh với Ai Lao, Chămpa lại buộc nông dân
nghèo phải bỏ ruộng đồng. Nhà nớc không còn sức quan tâm đến sản xuất
nông nghiệp, sửa đáp và bảo vệ đê điều, các công trình thuỷ lợi. Trong nửa sau
thế kỉ XIV đã có 9 lần vỡ đê, lụt lớn. Có những năm vừa hạn vừa lụt nh năm
1348, 1355, 1393 v.v.. Hậu quả tất nhiên của thiên tai và chiến tranh là mất
mùa, đói kém. Chỉ tính từ đầu thế kỉ XIV cho đến năm 1379 đã có hơn 10 nạn
đói lớn, dân nghèo phải bán cả nhà cửa, con cái, ruộng vờn. Ngân quỹ trống
rỗng, Nhà nớc nhiều lần cho nhà giàu nộp tiền, thóc để nhận quan tớc nhng
5
không giải quyết nổi nạno đối và thiếu thốn. Năm 1378, vua Trần phải chấp
thuận đề nghị của quan lại, buộc mỗi dân đinh phải đóng 3 quan tiền thuế
đinh hàng năm. Tớng quốc triều Trần là TRần Nguyên Đán mới ngày nào đó
nô các nhà vơng hầu nhân đó, trốn khỏi điền trang ngày càng nhiều.
Năm 1379, ở Thanh Hoá, Nguyễn Thanh tụ tập nông dân khởi nghĩa, tự
xng là Linh đức vơng, hoạt động ở vùng Lơng Giang (sông Chu); Nguyễn Kỵ
cũng xng vơng hoạt động ở Nông Cống.
Đầu năm 1390, nhà s Phạm S Ôn phất cờ khởi nghĩa ở Quốc Oai (Hà
Tây). Nghĩa quân ngày càng đông, lực lợng ngày càng hùng hậu, đã kéo về
đánh kinh thành Thăng Long, Trần Nghệ Tông và Trần Thuận Tông phải bỏ
chạy sang Bắc Giang và cho gọi tớng Hoàng Phụng Thế đang chỉ huy quân
chống cự quân Chămpa ở Hoàng Giang về đánh. Nghĩa quân chiếm kinh thành
trong 3 ngày rồi rút lên Quốc Oai, sau đó bị đàn áp.
Năm 1399, cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Nhữ Cái nổ ra ở vùng Sơn Tây,
Vĩnh Phúc, nhân Trần Thuận Tông bị giết. Mãi đến đầu năm 1400, cuộc khởi
nghĩa mới bị dập tắt.
Khởi nghĩa nông dân cuối thời Trần đã nói lên cuộc khủng hoảng suy
thoái của triều đại thống trị, những mâu thuẫn sâu sắc trong chế độ ruộng đất
và nông nghiệp đơng thời. Các cuộc khởi nghĩa không chỉ lôi cuốn nông dân
nghèo mà còn cả hàng loạt nông nô, nô tì ở các điền trang của vơng hậu, quý
tộc.
c. Nguy cơ xâm lợc từ phơng Bắc.
Năm 1368, sau khi lật đổ nhà Nguyên, vua Minh Thái Tổ ổn định dần
tình hình nội bộ Trung Quốc rồi bắt đầu sai quân lấn chiếm các nớc phơng
Nam. Sự suy yếu của nhà Trần là điều kiện thuận lợi cho chúng thực hiện mu
đồ bành trớng của mình.
Năm 1384, quân Minh đánh Vân Nam, bắt nhà Trần phải cung cấp lơng
thực cho chúng. Vua Trần buộc phải cho ngời vận chuyển 5000 thạch lơng lên
nộp.
Năm 1388, nhà Minh sai sứ sang đòi ta nộp các thứ quả ngon ngọt và
mợn đờng đi đánh Chămpa bằng cách bắt nhà Trần nộp 50 thớt voi, dặt nhà
trạm chứa sẵn lơng thảo cho quân của họ. Nhng đây chỉ là một sự thăm dò.
7
tây đô thống chế. Sau khi tham gia một số cuộc hành quân chống đánh quân
8
Chăm pa, tuy công không lớn nhng đến 1387 thì đợc Nghệ Tông nâng lên
chức Đồng bình chơng sự, quyền nh tể tớng cùng vua bàn việc nớc. Dựa vào
chức quyền và sự tin yêu của thợng hoàng Nghệ Tông, Lê Quý Ly tìm cách đa
dần ngời trong họ và bè phái vào nắm các chức quan trọng trong tiều và trong
quân đội.
Năm 1388 vua Trần cùng thái uỷ Trần Ngạc mu giết Lê Quý Ly, chẳng
may việc bại lộ. Quý Ly tâu việc đó với Nghệ Tông và dùng áp lực của Nghệ
Tông phế vua làm Linh đức vơng, đem giam ở chùa T Phúc rồi cho ngời giết
chết. Năm 1391, Thái uỷ Trần Ngạc cùng một số quý tộc Trần bị Quý Ly giết
nốt. Sự chuyên quyền của Quý Ly lên đến cao độ khiến Trần Nghệ Tông, bấy
giờ đã gần kề cái chết, rất lo lắng, cho gọi Quý Ly vào cung dặn dò: Nay thế
nớc suy yếu.. sau khi ta chết rồi, quan gia (chỉ vua Trần) đánh giúp thì giúp,
nếu là ngời hèn kém, ngu dốt thì ngơi tự lấy lấy nớc . Quý Ly rạp đầu khóc,
khớc từ.
Năm 1395, Thợng hoàng Trần Nghệ Tông mất. Quý Ly đợc phong
Nhập nội phụ chính thái s bình chơng quân quốc trọng sự, tớc Tuyên trung vệ
quốc đại vơng. Quyền hành hầu nh nằm hết trong tay Quý Ly.
Năm 1397, Quý Ly cho xây kinh đô mới ở An Tôn (Vĩnh Lộc Thanh
Hoá) rồi sau đó bắt vua dời vào ở đây, làm lên nhờng ngôi cho con (mới ba
tuổi) tức Thiếu đế.
Năm 1399, Quý Ly cho ngời giết Trần Thuận Tông (cha của Thiếu đế).
Một số quý tộc, đại thần của nhà Trần bao gồm các tớng Trần Khát Chân,
Trần Nguyên Hãn, Trụ quốc Trần Nhật Đôn, hành khiến Hà Đức Lân v.v.. tổ
chức cuộc mu sát Lê Quý Ly, chẳng may việc tiết lộ. Tất cả bọn họ cùng thân
thuộc cộng hơn 370 ngời đều bị giết, tịch thu gia sản, con gái bị bắt làm tì,
con trai bị dìm chết hoặc chôn sống. Việc bắt bớ diễn ra suốt mấy năm.
Để kiểm tra việc thực hiện chủ trơng hạn điền, năm 1398, Hồ Quý Ly
cho các quan về địa phơng làm lại sổ ruộng đất. Ai có ruộng t phải kê khai rõ
số ruộng và cắm thẻ ghi tên của mình trên mảnh ruộng. Sau 5 năm sổ sách
phải làm xong, ruộng nào không có ai nhận thì Nhà nớc sung công.
- Về tài chính: cải cách nổi bật nhất là việc ban hành tiền giấy, thu hồi
hết tiền đồng. Năm 1396, Hồ Quý Ly cho lu hành tiền giấy gọi là thông bảo
10
hội sao, gồm 7 loại: 10 đồng, 30 đồng, 1 tiền, 2 tiền, 3 tiền, 5 tiền và 1 quan,
đều có hình in khác nhau. Nhà nớc cũng quy định, ai làm tiền giả phải tội
chết, 1 quan tiền đồng đổi đợc 1 quan hai tiền giấy; ai còn dùng tiền đồng, bị
bắt cũng phải tội nh làm giả. Năm 1403, trớc phản ứng của nhân dân, nhà Hồ
ban điều luật về tội không tiêu tiền giấy, nâng giá thành hay đóng cửa hàng.
Nhà Hồ cũng đặt chức thị giám, ban mẫu về cân thớc, thng đấu.
Năm 1402, nhà Hồ định lại biểu thuế đinh và thuế ruộng. Thuế đinh chỉ
đánh vào ngời có ruộng đợc chia; ngời không có ruộng, trẻ mồ côi, đàn bà goá
không phải nộp. Thuế đánh theo lũy tiến: ngời có 5 sào ruộng, nộp 5 tiền có trên 2 mẫu 6 sào nộp 3 quan.
Thuế ruộng t: 5 tháng/mẫu
Đất bãi thu: từ 3 quan đến 5 quan/mẫu.
- Về xã hội: một chính sách có tầm quan trọng lớn là hạn chế nô tì.
Năm 1401, nhà Hồ quy định các quan lại, quý tộc chiếu theo phẩm chất chỉ đợc nuôi một số nô tì, nông nô nhất định. Số thừa ra sung công. Mỗi gia nô đợc
Nhà nớc đền bù 5 quan tiền, trừ loại mới nuôi hoặc gia nô ngời nớc ngoài, số
gia nô còn lại phải ghi dấu hiệu ở trán theo tớc phẩm của chủ.
Cùng năm đó, nhà Hồ cho các lộ làm lại sổ hộ, biên hết tên những ngời
2 tuổi trở lên. Những dân phiêu tán đều bị lkoại ra ngoài sổ, dân kinh thành
trú ngụ ở các phiên trấn phải trở về quê quán. Khi sổ làm xong, số dân từ 1560 tuổi tăng lên gấp hai lần.
Năm 1403, sau khi đánh chiếm đợc vùng đất từ Hoá Châu đến Cổ Luỹ
(bắc Quảng Ngãi) nhà Hồ những ngời có của mà không có ruộng vào, biên
làm quân ngũ, ở lại trán giữ lâu sài. Sau đó kêu gọi nhà giàu nộp trâu để đa
dày 0,70m. Cổng xây rất công phu, ghép đá hình vòm, cao 8m. Trong thành
có khu dinh thự, nay còn lại những con rồng đá chạỵ dọc bậc thềm..
Do nhu cầu tăng cờng lực lợng quân sự, chuẩn bị chống ngoại xâm,
những năm cuối thế kỉ XIV đầu thế kỉ XV cũng xuất hiện những súng đại
bác (thần cơ sang pháo), những thuyền lớn đi biển có lầu với tên gọi Tải lơng
cổ lâu, sự thực là những thuyền chiến. Ngời sáng chế và chỉ đạo chế tác, theo
sử sách ghi lại, là Hồ Nguyên Trừng, con cả của Hồ Quý Ly, giữ chức Tả tớng
quốc.
12
Tóm lại, cuộc khủng hoảng xã hội ở nửa sau thế kỉ XIV đã phản ánh
tình trạng suy thoái của nhà Trần cũng nh tính chất lỗi thời của cấu trúc Nhà
nớc đơng thời. Nhân vật Hồ Quý Ly đã ra đời và nổi bật l ên trong bối cảnh
đó. Từng bớc tiến lên nắm mọi quyền hành, Hồ Quý Ly đã mong muốn cứu
vãn tình thế đặc biệt khó khăn và phức tạp đó và ông đã kiên quyết thực hiện
cuộc cải cách. Có thể thấy, đó là một cuộc cải cách toàn diện, từ chính trị đến
kinh tế tài chính, văn hoá giáo dục, xã hội.
Hồ Quý Ly dự định xoá bỏ đặc quyền và thế lực của tầng lớp quý tộc
Trần, xây dựng một Nhà nớc quan liêu không đẳng cấp, quyền lực tập trung,
để trực tiép giải quyết những khó khăn trong nớc và chống lại các thế xâm lợc
từ bên ngoài. Tuy nhiên, cuộc cải cách có chỗ quá mạnh so với thời đó (nh
phép hạn điền), có chỗ cha thật triệt để (gia nô, nô tì không đợc giải phóng).
Chính sách tiền tiệ nhằm thu lại và hạn chế việc sử dụng đồng trong chỉ dùng
hàng ngày, tập trung nguyên vật liệu phục vụ quốc phòng một nhu cầu bức
thiết. Nhng, lu hành tiền giấy là một vấn đề hoàn toàn mới mẻ đối với nớc ta
đơng thời, khôgn đáp ứng đúng thực tiễn phát triển còn hạn chế của Đảng
hàng hoá cuối thế kỉ XIV. Cải cách văn hoá, giáo dục có ý nghĩa tiến bộ đầy
đủ hơn.
phía Nam Đại Ngu. Một số quan chức cũ của nhà Trần đã phản lại Tổ quốc,
xin hàng quân Minh làm rối hàng ngũ kháng chiến.
- Cuộc kháng chiến và thất bại của nhà Hồ
Trớc thái độ thách thức của vua Minh, từ những năm 1403 1404, nhà
Hồ đã khẩn trơng chuẩn bị phóng vệ. Biên giới phía Nam đợc củng cố bằng
nhiều cuộc hành quân và di dân khai hoang, bảo vệ. Năm 1405, nhà Hồ thành
lập 4 kho quân khí (xởng chế tạo vũ khí), thăm dò cho dân đóng cọc chặn
vùng sông Bạch Hạc (Phú Thọ) ngăn giặc từ bắc xuống, hạ lệnh cho nhân dân
các vùng gần đờng lớn thông từ bắc xuống kinh thành Thăng Long phải phá
bỏ lúa má khi có giặc đến lại lệch cho dân ở Tam Đái, Bắc Giang (bắc Sông
Hồng) chuẩn bị nhà cửa sẵn ở vùng đất hoang phía Nam sông, tích trữ lơng
14
thực để khi giặc đến thì di chuyển, cho dân phu đắp thành Đa Bang (Tiên
Phong Hà Tây)
Cuối năm 1406, quân Minh vợt qua Lạng Sơn đánh về Thăng Long.
Đầu năm 1407 chúng vợt sông Hồng đánh vào thành Đa Băng. Cuộc chiến
đấu diễn ra quyết liệt. Quân ta chết rất nhiều nhng vẫn cố thủ. Ngày 20-11407, thành Đa Bang thất thủ, tuyến phóng ngự bị phá vỡ. Giặc tràn vào
Thăng Long, cớp bóc của cải, phá hoại cung điện, nhà cửa. Hồ Nguyên Trừng
đóng quân ở Hoàng Giang (Hà Nam). Giặc Minh đem quân tấn công, buộc
quân của Trừng rút về Muộn Hải (Giao Thuỷ Nam Định). Trong lúc đó
quân của Hồ Đỗ, Hồ Xạ bị thua ở mạn Bắc, cũng rút về Muộn Hải hợp sức với
Hồ Nguyên Trừng để chiến đấu. Hai bên đổi luỹ đánh nhau. Bị bệnh tật nhiều,
quân Minh phải rút về Hàm Tử (Hng Yên). Hồ Nguyên Trừng tập trung quân
tấn công giặc nhng bị thua to, phải cùng Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thơng rút về
Thanh Hoá, đóng lại ở Tây Đô (Vĩnh Lộc). Tháng 5-1417, quân Minh do Trơng Phụ, Mộc Thạnh chỉ huy tấn công Tây Đô. Hồ Quý Ly cùng đình thần
chạy vào Nghệ An. Một số quân tớng nhà Hồ đầu hàng quân Minh, dẫn đờng
cho chúng đánh vào. Nhiều tớng của nhà Hồ bị bắt, cuối cùng, mấy cha con
hàng ngàn năm lịch sử và 500 năm trởng thành trong độc lập, tự chủ, nhân dân
Đại Việt đã liên tục nổi dậy cầm vũ khí chống quân xâm lợc đô hộ, giành lại
nền độc lập quý báu của Tổ quốc.
Lam Sơn (Thọ Xuân Thanh Hoá) lúc bấy giờ đợc gọi theo tên Nôm
là làng Cham, là hơng thuộc huyện Lơng Giang, phủ Thanh Hoá. Đó là một
vùng đồi nói thấp xen kẽ những dải rừng tha và cánh đồng hẹp. Phía trên, Lam
Sơn tiếp giáp với những núi rừng trùng điệp của thợng du Sông Chu, sông Mã,
phía dới liền với vùng đồng bằng rộng lớn của Thanh Hoá. Về mặt giao thông,
Lam Sơn nằm bên tả ngạn sông Chu, một mạch máu giao thông quan trọng
giữa miền núi và miền biển.
Lam Sơn là quê hơng của ngời anh hùng Lê Lợi và là căn cứ buổi đầu
của cuộc khởi nghĩa do Lê Lợi lãnh đạo.
Lê Lợi (1385 1433) vốn là một hào trởng có uy tín và ảnh hởng lớn ở
vùng Lam Sơn. Bài văn bia Vĩnh Lãng do Nguyễn Trãi soạn, cho biết rõ ông
tổ ba đời của Lê Lợi là Lê Hối đã tổ chức khẩn hoang, lập nên một trang trại ở
16
vùng này. Từ đó đời đời làm quân trởng một phơng. Nhân dân địa hơng
quen gọi là Lê Lợi là Đạo Cham.
Bia Vĩnh Lăng ghi: Tuy gặp thời loạn lớn mà chí càng bền, ẩn náu
trong núi rừng, chăm nghề cày cấu. Vì giận quân giặc tàn bạo lấn hiếp nên
càng chuyên tâm về sách thao lợc, dốc hết cửa nhà, hậu đãi tân khách. Theo
dõi cuộc khởi nghĩa Trần Ngỗi, Trần Quý Khoáng, Lê Lợi biết rõ thời thế,
cho là tất cả không thành công, bởi thế không dự và hết sức ẩn kính hình tích,
không lộ tiếng tăm. Lê Lợi bí mật chuẩn bị một cuộc khởi nghĩa mới và dùng
trang trại Lam Sơn cùng toàn bộ tài sản của mình để lo toan nghiệp lớn.
Sau khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng. Đất nớc trở lại thanh
bình. Ngày 15 tháng 4 năm Mậu Thân (29 tháng 4 năm 1428) Lê Lợi chính
ngời nớc ta thành ngời Ngô cả. Than ôi, hoạ loạn tột cùng đến thế ! (Đại việt
sử ký toàn thứ, Q10, từ 53a)
Tơng truyền lúc ấy, Nguyễn Trãi muốn giữ tròn đạo hiếu, đã cùng em
trai là Nguyễn Phi Hùng theo cha anh sang Trung Quốc. Nhng đến ải Nam
Quan, nghe lời dặn con là ngời có học lại có tài. Vậy nên tìm cách rửa nhục
cho nớc và trả thù cho cha. Lọ là cứ phải đi theo cha, khóc lóc nh đàn bà mới
là hiếu sao? ông đã trở về Đông Quan (Thăng long)
(1) Với tấm lòng của 1 ngời phải một cái gì để rửa nhục cho đất nớc và
báo thù.
(2) Tất cả những biến cố đó đã tác động sâu sắc vào nhận thức, t tởng
của Nguyễn Trãi thôi thúc ông suy t, ngẫm nghĩ, tìmn ra những lý do của
những sự kiện mang tính nghịch lý của lịch sử và rút ra những bài học bổ ích
cho công cuộc cứu nớc. Nhà Hồ là một vơng triều tiến bộ, Hồ Quý Ly và
những ngời đứng đầu đất nớc lúc đó đều là những ngời yêu nớc, có tinh thần
dân tộc, trớc sau chủ trơng kiên quyết đánh giặc và có gần 6 năm để chuẩn bị
cho cuộc kháng chiến. Nhà Hồ lại có quân đội đông, vũ khí tốt và một hệ
thống phòng tuyến xây dựng công phu.
Thế mà chỉ nửa năm, cuộc kháng chiến thất bại đau xót, cơ nghiệp nhà
Hồ tan võ.
Hoạ phúc hữu môi phi nhất nhật
Anh hùng di hận kỷ thiên niên
18
(Hoạ húc gây mầm không một chốc
Anh hùng để hận mấy nghìn năm)
Với một tri thức uyên tác, một phơng pháp t duy sắc sảo, Nguyễn Trãi
đã tìm ra câu trả lời:
Thung một trùng tùng hải lăng tiền,
Trầm gian thiết toả diệc đồ nhiên
vui vẻ.
Trong cuộc hội kiến lần đầu này, truyện kể lại Hãn có nhận xét: Lê
Lợi có tớng nh Việt Câu Tiễn, nghĩa là, chỉ có thể giúp nhau trong lúc hoạn
nạn, không thể ở với nhau lúc sung sớng, nên cả hai cùng bỏ đi. Nhng, một
thời gian sau, nghe tin Lê Lợi sắp dựng cờ khởi nghĩa, ông lại cùng Trần
Nguyên Hã, hai ngời đổi tên là Trần Văn và Trần Võ, tìm vào Lôi Giang yết
kiến Lê Lợi. Lần này, sử sách ghi: Hãn lén thấy Lê Lợi uy nghiêm, khí tớng
thay đổi. Bấy giờ, Hãn mới dâng kiếm máu của nội tổ là Trrần Quang Khải,
còn Nguyễn Trãi thì dâng Bình Ngô Sách. Lê Lợi xem nh bắt đợc hai báu vật:
thanh kiếm giúp quy phục con cháu Họ Trần và lòng dân; Bình Ngô Sách giúp
kế sách chiến thắng Quân Minh. Từ đó, Nguyễn Trãi và Trần Nguyên hãn
luôn luôn ở bên cạnh Lê Lợi nh là hai cánh tay mặt và trái của Lê Lợi trong
suốt 10 năm kháng chiến. Ngoài Bình Ngô Sách, Nguyễn Trãi giúp Lê Lợi tổ
chức hai Hội Thề để củng cố tinh thần đoàn kết và chấm dứt chiến tranh với
Nhà Minh.
Hội Thề Lũng Nhai (1416) Tơng tự nh Vờn Đào kết nghĩa. Năm 1416,
sau khi 18 vị anh hùng, hào kiệt khắp nơi dã quy tụ đông đủ dới ngọn cờ của
Lê Lợi, và để củng cố tinh thần đoàn kết, Lê Lợi tổ chức ngày ăn thề gọi là
Hội Thề Lũng Nhai trong rừng Lam Sơn, Thanh Hoá. Trong Hội thề này có
thể Nguyễn Trãi cha có mặt. Sau đó, con số tăng thêm và gồm: Lê Lợi, Lê Lai,
Nguyễn Thân, Lê Văn An, Lê Văn Linh, Lê Hiếu, Lê Liêu, Nguyễn Trãi,
Nguyễn Chích, Nguyễn Xí, Nguyễn Thận, Trần Nguyên Hãn, Cẩm Quý, Xa
Khả Tham, Lý Tuấn, Trịnh Khả, Trịnh Võ, Trơng Lôi, Trơng Chiến, Lu
Trung, Lu Nhân Chú, Bùi Quốc Hng, Võ Uy.
Theo Hoàng Xuân Hãn, lời thề đó do Lu Nhân Chú tuyên đọc nh sau:
20
Nay ở nớc tôi, tôi phụ đạo Lê Lợi đứng đầu với 18 ngời từ Lê Lai đến
Quan ra hàng và phải dự Hội thề Đông Quan : cam kết rút quân về nớc và
không xâm phạm nữa.
Sau chiến thắng này, Nguyễn Trãi lại thảo Bình Ngô Đại Cáo để bố cáo
cuộc kháng chiến chống quân Minh đã thành công vẻ vang. Bình Ngô Đại cáo
đợc dánh giá là Bản tuyên ngôn độc lập lần thứ hai sau Bản tuyên ngôn độc
lập lần thứ nhất của Ngô Quyền tức bài thơ Nam Quốc Sơn Hà.
Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế c
Tiệt nhiên định phận tại thiên th
Nh hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại h
Bản tuyên ngôn do Nguyễn Trãi thảo có đoạn viết đại ý:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân. Quân điếu phạt trớc lo trừ bạo. Nh nớc
Đại Việt ta từ trớc vốn xng nền văn hiến đã từ lâu. Nớc non bờ cõi đã chia.
Phong tục Bắc, Nam cũng khác. Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc
lập. Cùng Hán, Đờng, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phơng. Tuy mạnh,
yếu có lúc khác nhau, song hào kiệt thời nào cũng có (Theo bản dịch của Ngô
Tất Tố).
Dới triều Lê mà vị vua khai sáng là anh hùng Lam Sơn Lê Lợi tức Lê
Thái Tổ (1428-1433), Nguyễn Trãi lại hăm hở mong đem tài sức ra phò vua,
giúp dân dựng nớc. Nhng từ đây, lý tởng xây dựng đất nớc của ông gặp rất
nhiều khó khăn. Triều Lê thành lập sau thắng lợi của một cuộc chiến tranh
giải phóng dân tộc, nên buổi đầu trọng võ hơn văn . Nguyễn Trãi đợc phong tớc Quan phục hầu, giữ chức Nhập n ội hành khiển, Thợng th bộ lại, kiêm coi
công việc Viện khu mặt, có lúc giữ chức Trung Th, coi việc Môn hạ sảnh và
Tam quán. Trong hàng ngũ văn quan, cong vị của ông khá cao, nhng triều Lê
bị các võ quan chi phối và ông thể thi thố hết tài năng. Giữa các võ quan cũng
hình thành các thế lực theo quan hệ địa phơng hoặc thân thuộc. Vua Lê Thái
Tổ có nhiều cố gắng trong xây dựng triều chính và phục hng đất nớc, nhng
bản thân nhà vua cũng không khống chế đợc các thế lực võ quan, lại nghi kỵ
một số công thần khai quốc có uy tín lớn. Năm 1429 nhà vua ra lệnh bắt Trần
ta, dẫn ta tiến đến nh Nghiêu, Thuấn, thật cũng lớn lao kỳ vĩ thay ! Nguyễn
Trãi cảm động và phấn khởi tâu: Nhà vua nói nh thế, thật là may mắn cho n23
ớc nhà vậy. (D địa chí trong Nguyễn Trãi toàn tập, Hà Nội 1976, tr245). Nhng lợi dụng nhà vua còn ít tuổi, bọn quyền thần càng lũng đoạn trièu chính,
bọn quan lại xu nịnh, tham nhũng càng ra sức hoành hành. Nguyễn Trãi đã
đấu tranh quyết liệt với bọn chúng, nhng điều trớ trêu, đau đớn là trong tay
bọn quyền thần và ông hoàn toàn bị cô lập. Đây là những năm tháng đau buồn
nhất của Nguyễn Trãi mà nhiều lúc đã bộc lộ những câu thơ nôm chua chát:
Đã biết cửa quyền nhiều hiểm hóc
Cho hay đờng lợi cực quanh co
Hay:
Ngoài chng mọi chốn đều thông hết,
Bui (chỉ) một lòng ngời cực hiểm thay.
Chán nản đến thất vọng, Nguyễn Trãi đành phải từ quan về sống ẩn dật
tại Côn Sơn, giữa núi non hùng vĩ của đất trời vói biết bao kỷ niệm của thời
thơ ấu khi sống với ông ngoại Trần Nguyên Đán, nơi náu mình trên đờng cứu
nớc thời Minh thuộc. Nguyễn Trãi cố gắng vui thơ ca, với non nớc, với cuộc
sống thanh bạch, an nhàn. Nhng vói một con ngời nặng lòng yêu nớc thơng
dân tha thiết, nuôi lý tởng đuổi giặc cứu nớc để xây dựng một quốc gia độc lập
và giàu mạmh, để thực thi t tởng nhân nghĩa đa lại thanh bình và yên vui cho
mọi ngời, một con ngời giàu nghị lực và ý chí nh Nguỹen Trãi thì ẩn dật đâu
phải lẽ sống của ông. Vì vậy khi nhà vua trởng thành, bắt dầu nắm triều chính,
trừng phạt một số quyền thần, năm 1439 mời Nguyễn Trãi trở lại giữ chức vụ
trong triều. Tuy tuổi đã 60, ông vẫn hăm hở đem tài sức ra cống hiến cho đất
nớc với niềm hi vọng:
Thơng thần nh ngựa đến tuổi già, còn kham rong ruổi,
Cho thần nh quan năm rét, càng dạn tuyết sơng.
Quần môn mặc kệ dèm pha,
Thánh ý c bền tín nhiệm
Chơng II:
quan niệm dân tộc trong
t tởng chính trị của nguyễn Trãi
1. Quốc gia dân tộc
25