Bình luận vấn đề hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay - Pdf 38

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI
___ ___

BÀI TIỂU LUẬN CÁ NHÂN
Môn: Công pháp quốc tế
Đề tài:Bình luận vấn đề hợp tác quốc tế trong đấu tranh
phòng chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay

Họ và tên: Đặng Chí Nguyện
Lớp
:K2I
Mã SV

:1453801010182
Hà Nội 2016

MỤC LỤC
1|Page


2|Page


A.

Lời mở đầu

Luật quốc tế có vai trò quan trọng trong việc đấu tranh phòng chống, ngăn
ngừa tội phạm nói chung và tội phạm quốc tế nói chung. Luật quốc tế là cơ sở
để hợp tác trong đấu tranh phòng chống tội phạm trên phạm vi toàn cầu. Khi sự

tội phạm này thể hiện ở các dấu hiệu sau:






Tội phạm được thực hiện không phải ở chỉ một quốc gia mà có thể được thực
hiện ở một vài lãnh thổ quốc gia hoặc trên lãnh thổ không thuộc thẩm quyền
Tài Phán của quốc gia
Tội phạm có dấu hiệu có yếu tố nước ngoài về chủ thể, khách thể hoặc địa
điểm thực hiện tội phạm. Ví dụ : chủ thể của tội phạm có quốc tịch khác
nhau, khách thể tội phạm là lợi ích liên quan tới nhiều quốc gia khác nhau…
Chỉ áp dụng pháp luật quốc gia sẽ không thể giải quyết triệt để được loại tội
phạm này để đạt được kết quả cao trong đấu tranh phòng chống tội phạm có
tính chất quốc tế cần phải sử dụng các công cụ pháp lý quốc tế như các điều
ước quốc tế song phương ,đa phương...
b) Phân loại

Tội phạm có tính chất quốc tế không chỉ xâm hại an ninh trật tự pháp lý
của một quốc gia mà còn đe dọa cả an ninh hòa bình của cộng đồng quốc tế .
Việc phân loại tội phạm có tính chất quốc tế đóng vai trò quan trọng và cần thiết
trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Từ đó sẽ xác định được mức độ
nguy hiểm của tội phạm đó đối với cộng đồng quốc tế cũng như đối với từng
quốc gia. Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau trong việc phân loại tội
phạm có tính chất quốc tế căn cứ vào tính chất cũng như hậu quả của loại tội
phạm đó gây ra cho cộng đồng quốc tế ví dụ nhóm tội phạm xâm phạm biến hòa
bình và quan hệ quốc tế như tội phạm khủng bố, tội đe dọa an ninh hàng
không… hoặc tội phạm xâm phạm đến quá trình phát triển kinh tế văn hóa xã
hội.Có một số tội phạm mang tính chất quốc tế chủ yếu sau: tội cướp biển ,tội

c) Mọi hành động nhằm xúi giục người khác phạm những hành động được
xác định ở điểm a hoặc b hay phạm phải với chủ định làm dễ dàng cho
các hành động đó”.
Như vậy ta có thể đưa ra định nghĩa về cướp biển như sau: “Hành vi
cướp biển là hành động trái phép dùng hành động hay bắt giữ hoặc bất kỳ sự
cướp phá nào do do thủy thủ hoặc hoặc hành khách trên một chiếc tàu bay hay
hay một phương tiện bay tư nhân gây nên vì những mục đích riêng tư nhằm
chống lại một chiếc tàu hay một phương tiện bay khác hay chống lại những
người hay của cải ở trên con tàu hoặc phương tiện bay đỗ ở trên biển cả hoặc
nhằm chống lại một chiếc tàu hay một phương tiện bay người hay của cải, ở một
nơi không thuộc quyền tài phán của một quốc gia nào.”
Khái niệm công ước 1982 đưa ra trên cơ sở ghi nhận và thừa kế khái niệm
cướp biển trong công ước 1958 và mở rộng hơn so với quy định truyền thống về
khái niệm hành vi cướp biển.
Thẩm quyền bắt giữ
Bắt giữ có căn cứ
b.



Thẩm quyền bắt giữ được quy định tại điều105,công ước 1982 :
“Mọi quốc gia ở biển cả, hay ở bất cứ nơi nào khác không thuộc quyền tài
phán của bất kỳ quốc gia nào, đều có thể bất giữ một chiếc tàu hay một phương
tiện bay đã trở thành cướp biển, hoặc một chiếc tàu hay một phương tiện bay bị
chiếm đoạt sau một hành động cướp biển và đang nằm trong tay bọn cướp biển,
và đều có thể bắt giữ người và của cải ở trên con tàu hay phương tiện bay đó.
5|Page


Các tòa án của quốc gia đã tiến hành việc bắt đó có thể công bố các hình phạt

bay quân sự, hoặc các tàu thuyền hay phương tiện bay khác mang các dấu hiện
bên ngoài chứng tỏ rõ ràng là của một cơ quan Nhà nước và được tiến hành
nhiệm vụ này, mới có thể thực hiện việc bắt giữ vì lý do cướp biển”.
Như vậy, không phải bất kì tàu , phương hay phương tiện bay nào cũng có
thể thực hiện hành vi bắt giữ này, quy định này đảm bảo sự ổn định trên biển cả,
nhằm tránh tình trạng giả mạo, gây rối loạn an ninh nơi biển khơi.
2.

Tội buôn bán nô lệ và buôn bán người
a. Tội buôn bán nô lệ

Theo điều 1 của công ước 1926 về buôn bán nô lệ thì ta có một số khái
niệm như sau:
Nô lệ là địa vị hay tình trạng của một người mà bất kỳ hoặc mọi quyền
lực gắn liền với quyền sở hữu đều được thực hiện đối với họ.
6|Page


Buôn bán nô lệ bao gồm mọi hành vi liên quan đến việc đoạt được, giành
được hay chuyển nhượng một người với mục đích bắt họ làm nô lệ; mọi hành vi
liên quan đến việc kiếm được một nô lệ để bán hay trao đổi họ; mọi hành vi
chuyển nhượng thông qua việc bán hay trao đổi một nô lệ có được với mục đích
đem bán hoặc trao đổi họ, và nói chung, mọi hành vi buôn bán hay vận chuyển
nô lệ.
Sau khi công ước 1926 về vấn đề nô lệ ra đời thì đã có một số đã có hàng
loạt những công ước, nghị định bổ sung về vấn đề này như: Nghị định thư bổ
sung 1953 cho công ước 1926, Công ước 1956 về việc hủy bỏ chế độ nô lệ,
buôn bán nô lệ, các cơ cấu thực tiễn giống như chế độ nô lệ, Công ước 1966 về
quyền dân sự và chính trị. Qua đó có thể thấy được vấn đề buôn bán nô lệ là một
vấn đề nóng bỏng, được quan tâm rất lớn của cộng đồng các quốc gai trên thế

gia của liên hợp quốc :Buôn bán người có nghĩa là việc mua bán, vận chuyển,
7|Page


chuyển giao, chứa chấp và nhận người nhằm mục đích bóc lột bằng cách sử
dụng hay đe doạ sử dụng vũ lực hay bằng các hình thức ép buộc, bắt cóc, gian
lận, lừa gạt, hay lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương hay bằng việc
đưa hay nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người đang
kiểm soát những người khác. Hành vi bóc lột sẽ bao gồm, ít nhất, việc bóc lột
mại dâm những người kháchay những hình thức bóc lột tình dục khác, các hình
thức lao động hay phục vụ cưỡng bức, nô lệ hay những hình thức tương tự nô lệ,
khổ sai hoặc lấy các bộ phận cơ thể”.
Những hậu quả rất lớn mà loại tội phạm này để lại, tại điều 9 và điều 10
của nghị định thư về việc ngăn ngừa, phòng chống và trừng trị việc buôn bán
người, đặc biệt là phụ nữa và trẻ em , bổ sung công ước về chống tội phạm có tổ
chức xuyên quốc gia của liên hợp quốc đã quy định như sau:
Điều 9. Ngăn ngừa việc buôn bán người: “Các quốc gia thành viên sẽ đề
ra các chính sách, chương trình toàn diện và các biện pháp khác để:ngăn ngừa và
chống việc buôn bán người; bảo vệ các nạn nhân của việc buôn bán người, đặc
biệt là phụ nữ và trẻ em, không bị trở thành nạn nhân của việc buôn bán người
một lần nữa.Các quốc gia thành viên sẽ nỗ lực thi hành các biện pháp như
nghiên cứu, thông tin và các chiến dịch truyền thông đại chúng cũng như các
sáng kiến xã hội và kinh tế để ngăn ngừa và chống hành vi buôn bán người.Các
chính sách, chương trình và các biện pháp khác được đề ra theo điều này, nếu
thích hợp, sẽ bao gồm việc hợp tác với các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức
liên quan khác và các thiết chế xã hội dân sự.Các quốc gia thành viên sẽ thực
hiện và tăng cường các biện pháp, bao gồm việc thông qua hợp tác song phương
hoặc đa phương, để loại bỏ các nhân tố làm cho những người, đặc biệt là phụ nữ
và trẻ em, trở thành các đối tượng dễ bị xâm hại của việc buôn bán người, chẳng
hạn như nghèo đói, kém phát triển và thiếu cơ hội bình đẳng. Các quốc gia thành

3.

Tội phạm khủng bố quốc tế

Khái niệm khủng bố được quy định trong nhiều điều ước quốc tế như
công ước Giơnevơ năm 1937, công ước New York năm 1999..trên những cơ sở
đó ta có thể hiểu khủng bố hành vi tấn công hoặc đe dọa tấn công gây thiệt hại
nghiêm trọng đến tính mạng sức khỏe tài sản của người dân và các mục tiêu dân
sự khác gây hoảng loạn trong cộng đồng dân cư nhằm đạt được những mục đích
chính trị (ép buộc chính phủ ,tổ chức cá nhân hành động hoặc không hành động,
thực hiện hành động nào đó vì lý do tôn giáo, do cá nhân hoặc tổ chức thực hiện.
Chống khủng bố là các hoạt động đơn phương ,tập thể tiến hành nhằm
loại bỏ các nguy cơ đe dọa hòa bình chống chiến tranh thúc đẩy nhân quyền phát
triển kinh tế bằng các chủ trương chính sách hoạt động an ninh quốc phòng và
các quốc gia có thể thực hiện các hoạt động chống khủng bố thông qua việc
tham gia ký kết các điều ước song phương , đa phương về hoạt động chống
khủng bố.
Hành vi chống khủng bố rất đa dạng như xâm hại tính mạng thân thể con
người tài sản hay tổng hợp các loại hành vi đó ví dụ khủng bố ngày 11 tháng 9
năm 2001 tại Hoa Kỳ. Hiện nay theo quy định của công ước quốc tế về chống
khủng bố hành vi chống khủng bố bao gồm các hành vi chống lại an toàn hàng
không dân dụng ,chống lại an toàn hành trình hàng hải và những công trình cố
định trên thềm lục địa, tài trợ khủng bố xâm phạm tính mạng sức khỏe con
người, tài sản bằng các thiết bị gây nổ, chống lại những người được hưởng bảo
hộ quốc tế bao gồm viên chức ngoại giao, bắt cóc con tin, xâm phạm an toàn
sức khỏe tính mạng tài sản con người bằng thiết bị hạt nhân.
Mục đích mục đích cuối cùng của tội phạm khủng bố là mục tiêu chính trị
ví dụ công ước 1979 New York bị chồng bắt cóc con tin quy định hành vi thuộc
phạm vi điều chỉnh công ước phải là hành vi bắt giữ giam giữ đe dọa sẽ giết chết
9|Page

bắt cóc con tin”.
Công ước đã quy định các hành vi bắt cóc và cầm giữ con tin cùng sự đe
dọa giết hại con tin, hành vi gây thương tích hoặc tiếp tục cầm giữ con tin nhằm
mục đích đòi hỏi bên thứ 3 thực hiện hành vi nào đó như là điều kiện trực tiếp
hoặc gián tiếp để phóng thích con tin đều bị coi là tội phạm. Trong trường hợp
người thực hiện hành vi bắt cóc con tin nhưng chưa hoàn thành hoặc tham gia
hoạt động bắt cóc con tin với tư cách là đồng phạm cũng bị xem như là tội phạm
theo công ước này.
Công ước còn có quy định các quốc gia thành viên có nghĩa vụ trừng trị
các hành vi bắt cóc con tin bằng các hình phạt nghiêm khắc như tội phạm
nghiêm trọng của nước mình . Trong quá trình đấu tranh chống lại tội phạm này
có nghĩa vụ sẵn sàng hợp tác với nhau để có thể ngăn ngừa và chống chỉ thích
đáng tội phạm bắt cóc con tin
10 | P a g e


5.

Tội phạm đe dọa an ninh hàng không dân dụng

Theo công ước Lahaye 1970 quy định những hành vi sau đây là tội phạm:
Các hành vi bất hợp pháp được cá nhân bất kì thực hiện trên máy bay nhằm mục
đích chiếm đoạt hoặc giành quyền kiểm soát máy bay bằng vũ lực hoặc đe dọa
bằng vũ lực và hình thức bạo lực khác .
Chủ thể (theo công ước Montrean 1971): Bất kỳ cá nhân nào cũng được
coi là thực hiện hành vi tội phạm nhiều những cá nhân đó thực hiện bất hợp
pháp và các hành vi bạo lực đối với người khác đang ở trên máy bay trong thời
gian bay an ninh chuyến bay.
Hành vi: hành vi đeo dọa an ninh chuyến bay,hành vi của cá nhân phá
hoại máy bay đang trong thời gian khai thác, các hành vi đặt, để các vật thể

các phụ lục I và II của Công ước thống nhất về các chất ma tuý năm 1961 và
trong Công ước 1961 đã sửa đổi theo Nghị định thư 1972;“Các chất hướng thần”
11 | P a g e


có nghĩa là bất kỳ chất tự nhiên hay tổng hợp nào hoặc bất kỳ nguyên liệu tự
nhiên nào trong các Bảng I, II, I Quyền tài phán (công ước 1961).
Thấy được sức ảnh hưởng to lớn của ma túy đối với sức khỏe và cuộc
sống con người nên cấn phải phòng chống và đẩy lùi loại tội phạm này.Mục
đích của Công ước này là thúc đẩy sự hợp tác giữa các bên của Công ước để họ
có thể giải quyết có hiệu quả những khía cạnh khác nhau của hoạt động buôn
bán bất hợp pháp có quy mô quốc tế các chất ma tuý và các chất hướng thần.
Khi thực hiện những nghĩa vụ của mình theo quy định và Công ước, các bên sẽ
áp dụng những biện pháp cần thiết kể cả biện pháp mang tính pháp lý và hành
chính phù hợp với những quy định cơ bản của hệ thống pháp luật nước mình.
( khoản 1 điều 2 công ước 1971).
Công ước có quy định vè thẩm quyền tái phán của quốc gia tại điều
4(công ước phòng chống buôn bán bất hợp pháp chất ma túy và chất hướng
thần), quy định được thế nào là hành vi phạm tội và các hình thức xủa phạt hợp
lý.
Tại ký họp thứ 17 của Đại hội đồng Liên hợp quốc vào năm 1990 đã
thông qua tuyên bố chính trị và chương trình hành động toàn thế giới về hợp tác
đấu tranh phòng chống viếc sản xuất, cất giữ, lưu thông và phổ biến bất hợp
pháp các chất ma túy và chất hướng thần. Tuyên bố đã ghi nhận lại các quy định
của cả ba công ước 1961, 1971, 1988 sồng thời tuyên bô đã đưa ra chương trình
mười năm chống lạm dụng chất ma túy từ năm 1990 đến 2000.
8.

Tội làm tiền giả


đối với người đó.(giáo trình trường đại học Kiểm Sát Hà Nội).
b.

Nội dung

Chủ thể : các quốc gia độc lập có chủ quyền là chủ thể cơ bản và chủ yếu
của luật quốc tế đồng thời cũng chính là chủ thể tham gia vào hoạt động dẫn độ
tội phạm. Trong hoạt động dẫn độ tội phạm sẽ có chủ thể là quốc gia yêu cầu và
quốc gia được yêu cầu. Quốc gia yêu cầu là quốc gia mà quyền và lợi ích bị cá
nhân tiến hành hành vi xâm hại một cách trực tiếp quốc gia được yêu cầu ở nơi
cá nhân này đang hiện diện. Quốc gia yêu cầu sẽ đưa ra yêu cầu dẫn độ khi phát
hiện ra cá nhân đó đang ở trên lãnh thổ quốc gia yêu cầu .Quốc gia được yêu cầu
căn cứ vào pháp luật quốc gia và quy định của luật quốc tế để chấp nhận hoặc từ
chối yêu cầu dẫn độ đó.
Cơ sở pháp lý của hoạt động dẫn độ :Các điều ước quốc tế được ký kết
giữa các quốc gia hữu quan chính là cơ sở pháp lý cho hoạt động dẫn độ. Nguồn
gốc của hoạt động dẫn độ tội phạm điều ước quốc tế,tập quán quốc tế, luật quốc
gia.
Đối tượng dẫn độ: đối tượng chính của hoạt động dẫn độ là các tội phạm
là cá nhân thực hiện trên lãnh thổ của quốc gia mình và đang tiến hành trên lãnh
thổ của quốc gia khác .
c.

Các nguyên tắc

Nguyên tắc có đi có lại: Đây là một trong những nguyên tắc rất phổ biến
trong nhiều lĩnh vực của đời sống quốc tế. Nội dung của nguyên tắc có đi có lại
đối với hoạt động dẫn độ tội phạm quy định rằng các quốc gia được yêu cầu dẫn
độ khi tiến hành các hoạt động dẫn độ tội phạm nếu nhận được sự bảo đảm chắc
chắn từ phía quốc gia yêu cầu rằng trong trường hợp dẫn độ tương tự phát sinh

a. Khái niệm

Tương trợ tư pháp hình sự là việc cơ quan có thẩm quyền của các quốc
gia liên quan, căn cứ vào các điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia thực hiện
một hoặc một số hoạt động để trao đổi thông tin,tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu
triệu tập nhân chứng thu thập và cung cấp chứng cứ , truy cứu trách nhiệm hình
sự và thực hiện các yêu cầu tương trợ tư pháp khác về hình sự nhằm hỗ trợ, giúp
đỡ lẫn nhau trong giải quyết vụ án có yếu tố nước ngoài.( giáo trình trường đại
học Kiểm Sát Hà Nội).
Nội dung
Phạm vi tương trợ tư pháp về hình sự
b.



Phạm vi tương trợ tư pháp về hình sự bao gồm các hoạt động cơ bản sau:
thu thập chứng cứ, lấy lời khai của người có liên quan, trợ giúp công tác điều tra
giúp đỡ trong việc bắt giam, giữ người họăc tạo điều kiện cho việc cung cấp
chứng cứ tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu tư pháp ,khám xét và giữ kiểm tra vật
chứng và các địa điểm, thu thập thông tin vật chứng liên quan đến vụ án cung
cấp bản gốc hoặc bản sao có xác nhận những tài liệu, hồ sơ liên quan, xác định,
thu hồi tài sản do phạm tội mà có ,xác định truy tìm công cụ, phương tiện phạm
tội xác minh địa chỉ, nhận dạng người làm chứng, người bị tình nghi phân tích
nạn nhân và các hoạt động tương trợ tư pháp không trái với nguyên tắc và luật
pháp của nước được yêu cầu.
14 | P a g e





3.
4.
5.
6.

Giáo trình Luật Quốc tế trường Đại học Kiểm sát Hà nội
Công ước về luật biển 1982
Công ước về nô lệ 1926, công ước bổ sung 1956
Công ước 1979 về đấu tranh chồng bắt con tin
Công ước Lahaye 1970, Công ước Montrean 1971
Công ước 1961, Công ước 1971

17 | P a g e




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status