Thực hiện chính sách phát triển viên chức khoa học ở nước ta hiện nay - Pdf 38

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HUẾ

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VIÊN CHỨC
KHOA HỌC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60 34 04 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. Nguyễn Minh Phương

HÀ NỘI, 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn Thạc sĩ Chính sách công với Đề tài “Thực hiện
chính sách phát triển viên chức khoa học ở nước ta hiện nay” là trung thực
và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác, đây là quá
trình học tập, nghiên cứu và hướng dẫn tận tình của Thầy giáo PGS.TS.
Nguyễn Minh Phương để hoàn thành luận văn.
Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về lời cam đoan này.

Học viên


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CBCC

: Cán bộ, công chức

CNH

: Công nghiệp hóa

HĐH

: Hiện đại hóa

KH&CN

: Khoa học và công nghệ

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Cơ cấu về độ tuổi
Bảng 2.2. Cơ cấu về chức danh khoa học
Bảng 2.3. Cơ cấu về trình độ chuyên môn
Bảng 2.4. Cơ cấu về trình độ tin học
Bảng 2.5. Cơ cấu về trình độ ngoại ngữ




nâng tầm trí tuệ và sức mạnh của dân tộc. Đảng và Nhà nước có chính sách
phát triển, phát huy và trọng dụng đội ngũ cán bộ KH&CN”.
Trong những năm gần đây, chính sách phát triển viên chức khoa học ở
nước ta đã từng bước được hoàn thiện và áp dụng vào thực tế. Tuy nhiên,
việc thực hiện vẫn còn nhiều vấn đề chưa phù hợp và chưa đem lại hiệu quả
như mong muốn. Do vậy, việc tăng cường thực hiện chính sách phát triển
viên chức khoa học ở nước ta hiện nay là vấn đề cấp bách vì: Thứ nhất, tiềm
lực KH&CN nước ta được tăng cường một bước đáng kể. Hiện nay cả nước
ta hiện có khoảng 2,4 triệu người có trình độ cao đẳng và đại học trở lên, gần
đây mỗi năm sinh viên ra trường trên dưới 200 nghìn người là lực lượng tiềm
năng tham gia hoạt động KH&CN. Thứ hai, đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa
học còn hạn chế về trình độ, cơ cấu chưa hợp lý, hiện chưa đủ mạnh để tạo ra
nhiều hơn nữa các sản phẩm KH&CN có chất lượng, đến ngưỡng để có thể
thương mại hóa, đáp ứng nhu cầu của thị trường, doanh nghiệp. Thứ ba, hiện
nay, cơ chế, chính sách chưa đủ mạnh để thu hút các nhà khoa học, chuyên
gia kỹ thuật trong và ngoài nước tham gia vào các hoạt động nghiên cứu khoa
học; việc thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực KH&CN vẫn còn
chưa hiệu quả, chưa tạo được môi trường và động lực thúc đẩy đội ngũ viên
chức khoa học đem hết tài năng cống hiến cho đất nước.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu đề tài “Thực hiện chính sách phát
triển viên chức khoa học ở nước ta hiện nay” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
quan trọng nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho việc tăng cường thực hiện
chính sách phát triển viên chức khoa học ở nước ta nhằm nâng cao hiệu quả
việc thu hút, trọng dụng, đãi ngộ cán bộ khoa học góp phần thực hiện mục
tiêu CNH, HĐH đất nước như đường lối của Đảng đã đề ra.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề phát triển KH&CN và phát huy nguồn nhân lực KH&CN đã
được nhiều người quan tâm nghiên cứu ở các góc độ khác nhau như:

giai đoạn hiện nay, Lê Thị Thu Hằng, 2014, đã đưa ra các quan điểm,
3


phương hướng và giải pháp khoa học và khả thi nhằm hoàn thiện thể chế
quản lý viên chức KH&CN ở nước ta hiện nay.
Bài viết: “Chính sách phát triển nguồn nhân lực khao học và công
nghệ” của ThS. Nguyễn Thúy Hà, 2013, trên Cổng thông tin điện tử Viện
Nghiên cứu lập pháp đã đánh giá thực trạng nguồn nhân lực KH&CN của
nước ta, chỉ ra các ưu điểm và hạn chế; từ đó đề ra định hướng phát triển
nguồn nhân lực KH&CN nhằm đáp ứng mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã
đề ra.
Bài viết: “Giải pháp phát triển KH&CN đến năm 2020, định hướng
đến năm 2030” đăng trên Cổng thông tin KH&CN thành phố Hải phòng đã
nêu rõ 8 giải pháp phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH và hội
nhập quốc tế thành phố Hải phòng đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.
Các công trình, bài viết trên là tài liệu tham khỏa bổ ích trong quá trình
nghiên cứu, biên soạn luận văn này
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa và phân tích làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản
và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách phát triển viên chức khoa học ở
nước ta, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường thực hiện chính
sách phát triển viên chức khoa học ở nước ta hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu hệ thống hóa những vấn đề lý luận về thực hiện chính
sách phát triển viên chức khoa học ở nước ta hiện nay.
- Nghiên cứu và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách phát triển
viên chức khoa học ở nước ta hiện nay.
- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường thực hiện chính sách phát

diện lý luận và thực tiễn:
- Luận văn góp phần làm rõ những vấn đề về thực hiện chính sách phát
5


triển viên chức khoa học, góp phần bổ sung hoàn thiện những vấn đề lý luận
về thực hiện chính sách công nói chung, thực hiện chính sách phát triển viên
chức khoa học nói riêng.
- Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách,
luận văn sẽ chỉ ra được những bất cập, hạn chế và nguyên nhân trong việc
thực hiện chính sách phát triển viên chức khoa học ở nước ta; từ đó đề ra các
yêu cầu, giải pháp cơ bản nhằm tăng cường việc thực hiện chính sách phát
triển viên chức khoa học ở nước ta hiện nay.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu
tham khảo phục vụ hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển viên chức khoa
học ở nước ta.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được kết
cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về thực hiện chính sách phát
triển viên chức khoa học ở nước ta
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách phát triển viên chức khoa
học
Chương 3: Định hướng và giải pháp tăng cường thực hiện chính sách
phát triển viên chức khoa học ở nước ta

6


Chương 1

1.1.1.2. Khái niệm viên chức khoa học
Căn cứ vào Luật Viên chức số 58/2010/QH12 và Luật KH&CN số
29/2013/QH13, có thể quan niệm: Viên chức khoa học là công dân Việt Nam
được tuyển dụng theo vị trí việc làm, giữ các chức danh nghiên cứu khoa học
tại các đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập. Viên chức khoa học được tuyển
dụng và quản lý theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương
của các đơn vị này theo quy định của pháp luật.
Theo Luật KH&CN năm 2013, chức danh nghiên cứu khoa học là tên
gọi thể hiện trình độ và năng lực nghiên cứu khoa học của cá nhân hoạt động
trong lĩnh vực khoa học, gồm: trợ lý nghiên cứu, nghiên cứu viên, nghiên cứu
viên chính, nghiên cứu viên cao cấp. Theo Nghị định số 40/2014/NĐ-CP
ngày 12/5/2014 quy định việc sử dụng, trọng dụng cá nhân hoạt động
KH&CN và Thông tư liên tịch số 24/2014/TTLT-BKHCN-BNV ngày
01/10/2014, chức danh nghiên cứu khoa học gồm: trợ lý nghiên cứu (hạng
IV), nghiên cứu viên (hạng III), nghiên cứu viên chính (hạng II), nghiên cứu
viên cao cấp (hạng I).
Viên chức khoa học được tuyển dụng, quản lý và sử dụng như viên
chức hoạt động trong các lĩnh vực chuyên môn khác; hoạt động của họ là
nghiên cứu khoa học, nghiên cứu cơ bản để đưa ra các luận cứ, luận điểm làm
cơ sở lý luận phục vụ cho việc xây dựng và ban hành chính sách phục vụ cho
hoạt động quản lý nhà nước, phục vụ cho nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội,
an ninh, quốc phòng mà nhà nước đặt ra.
1.1.1.3. Khái niệm chính sách phát triển viên chức khoa học
Khái niệm chính sách công được diễn đạt như sau: “Chính sách công là
một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của nhà nước nhằm lựa
chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ để thực hiện giải quyết các
vấn đề của xã hội theo mục tiêu đã xác định của đảng chính trị cầm
quyền”.[6]
8




1.1.2. Nội dung thực hiện chính sách phát triển viên chức khoa học
1.1.2.1. Tạo nguồn và tuyển dụng viên chức khoa học
Việc tuyển dụng viên chức khoa học vào các đơn vị sự nghiệp
KH&CN công lập được thực hiện theo chế độ hợp đồng làm việc, bao gồm
hợp đồng làm việc xác định thời hạn và hợp đồng làm việc không xác định
thời hạn. Thời gian thực hiện chế độ tập sự từ 03 đến 12 tháng và được quy
định trong hợp đồng làm việc xác định thời hạn. Sau thời gian tập sự nếu
người tập sự đạt yêu cầu thì người đứng đầu đơn vị sự nghiệp KH&CN công
lập quyết định hoặc làm văn bản đề nghị cấp có thẩm quyền quản lý viên
chức khoa học ra quyết định bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp, nếu người tập
sự không đạt yêu cầu hoặc bị xử lý kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên thì bị
chấm dứt hợp đồng làm việc.
Như vậy có thể thấy, quy định về việc tuyển dụng viên chức khoa học
hiện hành là phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn
chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của tổ chức KH&CN trên cơ sở các
nguyên tắc: bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng, khách quan và đúng
pháp luật; bảo đảm tính cạnh tranh; tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu
của vị trí việc làm; đề cao trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp
công lập; ưu tiên người có tài năng, người có công với cách mạng, người dân
tộc thiểu số.
Nguyên tắc tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm
và ưu tiên người có tài năng rất quan trọng đối với tuyển dụng viên chức
KH&CN. Tuyển dụng theo yêu cầu của vị trí việc làm sẽ chú trọng được đến
các yếu tố như tài năng, phẩm chất và trình độ của đội ngũ viên chức, tránh
được tình trạng cào bằng.
Người đứng đầu đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập được bảo đảm
quyền chủ động và đề cao trách nhiệm trong việc tuyển dụng, sử dụng và quản
lý viên chức. Nhờ đó phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị sự

thăng hạng chức danh nghề nghiệp từ hạng thấp lên hạng cao hơn liền kề
11


trong cùng ngành, lĩnh vực theo nguyên tắc bình đẳng, công khai, minh bạch,
khách quan và đúng pháp luật.
Viên chức khoa học cũng có thể được điều chuyển sang vị trí việc làm
mới nếu đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về mặt chuyên môn, nghiệp vụ của vị
trí việc làm đó, đồng thời khi đơn vị sự nghiệp khoa học công nghệ công lập
có nhu cầu.
Việc đào tạo, bồi dưỡng viên chức khoa học được quy định rõ là phải
căn cứ vào vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và nhu cầu phát
triển nguồn nhân lực của đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập. Bảo đảm tính
tự chủ của đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập trong hoạt động đào tạo, bồi
dưỡng. Thời gian qua, việc đào tạo, bồi dưỡng viên chức khoa học được thực
hiện dựa trên các văn bản của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền như Luật
KH&CN, Luật Viên chức, các Nghị định của Chính phủ, các quyết định, thông tư
hướng dẫn của các bộ, ngành có liên quan và của chính đơn vị sự nghiệp
KH&CN công lập ban hành. [7]
1.1.2.3. Đánh giá, thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức khoa học
Đánh giá viên chức khoa học là một nội dung quan trọng trong các quy
định về quản lý viên chức khoa học. Đánh giá viên chức khoa học là căn cứ
cho việc tiếp tục bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng,
khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chế độ, chính sách đối với viên chức. Việc
đánh giá viên chức khoa học ngoài việc căn cứ vào các quy định của Đảng,
quy định tại Luật Viên chức, Nghị định số 29/2012/NĐ-CP, thì cần căn cứ
vào Quyết định số 03/2008/QĐ-BKHCN ngày 19/3/2008 của Bộ trưởng Bộ
KH&CN về việc ban hành Quy chế đánh giá viên chức ngành KH&CN và
các quy định do các đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập quy định.
Quyết định này cũng quy định rõ những nguyên tắc, nội dung, tiêu

theo mức độ vi phạm, phải chịu một trong các hình thức kỷ luật: khiển trách, cảnh
cáo, cách chức (đối với viên chức quản lý), buộc thôi việc. Viên chức bị kỷ luật
bằng một trong các hình thức trên còn có thể bị hạn chế thực hiện hoạt động nghề
13


nghiệp theo quy định của pháp luật có liên quan. Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy
định, ứng với mỗi hình thức kỷ luật, viên chức sẽ bị kéo dài thời gian nâng bậc
lương từ 03 tháng đến 12 tháng; viên chức bị kỷ luật từ khiển trách đến cách chức
thì không thực hiện việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm trong thời hạn
12 tháng.
Công tác thi đua - khen thưởng và xử lý kỷ luật nếu không có sự công
bằng, minh bạch, dân chủ sẽ có tác động xấu tới đội ngũ viên chức, ảnh hưởng tới
tâm lý của người lao động.
1.1.2.5. Chế độ tiền lương và đãi ngộ viên chức khoa học
Đây được xem là chính sách đặc biệt quan trọng trong quản lý viên
chức khoa học. Lương và các chế độ đãi ngộ thỏa đáng sẽ giúp cho viên chức
yên tâm công tác, kích thích sự say mê sáng tạo trong hoạt động nghề nghiệp.
Chế độ tiền lương của đội ngũ viên chức hiện nay được thực hiện theo Nghị
định số 203/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 quy định mức lương tối thiểu và
Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 quy định về chế độ tiền
lương đối với CBCC, viên chức và lực lượng vũ trang.
* Về chế độ tiền lương: Luật Viên chức quy định về chế độ tiền lương
của viên chức làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập, theo đó lương sẽ
được trả tương xứng với vị trí việc làm, chức danh nghề nghiệp, chức vụ
quản lý và gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ theo cơ chế tự chủ, tự chịu
trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp công lập; được hưởng tiền làm thêm giờ,
tiền làm đêm, công tác phí và các chế độ khác theo quy định của pháp luật và
quy chế của đơn vị sự nghiệp công lập.
Bên cạnh đó, tại Điều 7 của Nghị định số 40/2014/NĐ-CP, việc nâng

- Được các thư viện, tổ chức thông tin KH&CN công lập tạo điều kiện
tiếp cận thông tin, cơ sở dữ liệu về KH&CN để thực hiện nhiệm vụ.
- Cá nhân được bổ nhiệm vào chức danh khoa học, chức danh công
nghệ hạng I trong các đơn vị sự nghiệp công lập được hỗ trợ kinh phí sử dụng
phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia khi thực hiện nhiệm vụ KH&CN sử
dụng ngân sách nhà nước, trừ trường hợp kinh phí này đã được dự toán trong
kinh phí thực hiện nhiệm vụ.
1.1.3. Ý nghĩa của thực hiện chính sách phát triển viên chức khoa học
15


1.1.3.1. Thực hiện chính sách nhằm biến ý đồ chính sách thành hiện thực
Thực hiện chính sách là việc áp dụng chính sách vào thực tiễn đời sống xã
hội. Chính sách là công cụ để thể chế hóa chủ trương, định hướng của Đảng. Bởi
vậy thực hiện chính sách chính là việc chuyển thể những định hướng, ý đồ đó từ
dạng văn bản thành các hành động cụ thể trong đời sống nhằm đạt được mục tiêu
đã đề ra. Thực hiện chính sách phát triển viên chức khoa học chính là việc chuyển
thể từ ý tưởng của nhà nước trong việc phát triển đội ngũ viên chức khoa học
thành những việc làm, hành động, những biện pháp cụ thể đối với đối tượng viên
chức khoa học cụ thể trong điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể. Từ đó tìm ra những
giải pháp phù hợp nhất để đáp ứng nhu cầu và trình độ năng lực thực tế của họ
nhằm đạt được mục tiêu định hướng.
1.1.3.2. Thực hiện chính sách nhằm từng bước thực hiện các mục tiêu chính
sách và mục tiêu chung
Việc triển khai thực hiện chính sách vào thực tế sẽ cho thấy rõ nhất và
cụ thể nhất những ưu điểm và hạn chế của chính sách, đồng thời mang lại kết
quả chính xác để xác định mức độ đạt được của mục tiêu đã đề ra. Từ đó, các
nhà hoạch định và xây dựng chính sách có căn cứ để điều chỉnh, hoàn thiện
nhằm từng bước thực hiện mục tiêu của chính sách.
Việc thực hiện các giai đoạn trong chu trình của chính sách không chỉ

1.2.1. Mục tiêu thực hiện chính sách phát triển viên chức khoa học
Theo tinh thần của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6, mục tiêu thực
hiện chính sách phát triển viên chức khoa học giai đoạn 2010 - 2015 được đề
ra như sau: hình thành đồng bộ đội ngũ cán bộ khoa học đủ về số lượng, có
trình độ cao, tâm huyết, trung thực, tận tụy. Phát triển các tổ chức KH&CN
mạnh, các nhà khoa học đầu ngành.Tăng nhanh số lượng các công trình được
công bố quốc tế và số lượng các sáng chế được bảo hộ trong nước và nước
ngoài. Cụ thể:
- Đến năm 2015, số cán bộ nghiên cứu KH&CN đạt 9 - 10 người/vạn
dân.
17


- Phấn đấu tăng tổng mức đầu tư xã hội cho KH&CN đạt 1,5% GDP
vào năm 2015. Bảo bảo mức đầu tư từ ngân sách cho KH&CN không dưới
2% tổng chi ngân sách Nhà nước hằng năm.
- Số lượng sáng chế đăng ký bảo hộ giai đoạn 2010 - 2015 tăng gấp 1,5
lần so với giai đoạn 2006 - 2010.
1.2.2. Những yêu cầu trong thực hiện chính sách phát triển viên chức khoa
học
1.2.2.1. Bảo đảm thực hiện mục tiêu chính sách phát triển viên chức khoa học
Khi chính sách được ban hành, việc quan trọng nhất là thực hiện đúng
mục tiêu của chính sách. Chính sách có đạt hiệu quả hay không? Có đảm bảo
đạt theo yêu cầu hay không?, …là do việc thực hiện theo mục tiêu của cán bộ
thực hiện chính sách. Việc thực hiện theo đúng mục tiêu có ý nghĩa hết sức
quan trọng trong thực hiện chính sách, giúp chính sách đi theo đúng hướng,
theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước.
Trong quá trình thực hiện chính sách phát triển viên chức khoa học
phải luôn đảm bảo mục tiêu chính sách đã đề ra, tập trung vào đúng đối tượng
hưởng thụ của chính sách là đội ngũ viên chức khoa học, bảo đảm kinh phí

chính sách.
1.2.2.3. Bảo đảm tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp công
lập khoa học
Tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp công lập khoa
học đã được quy định tại Khoản 1, Điều 13, Luật Khoa học và Công nghệ.
Theo đó, đơn vị sự nghiệp công lập khoa học có quyền tự chủ, tự chịu trách
nhiệm trong hoạt động KH&CN trong lĩnh vực đã được cấp giấy chứng nhận
đăng ký hoạt động. Các đơn vị sự nghiệp công lập khoa học được quyền tự
chủ trong việc sử dụng nguồn lực KH&CN của đơn vị mình, được quyền hợp
tác, liên doanh, ký kết các hợp đồng nghiên cứu khoa học, bồi dưỡng, đào tạo
nhân lực ... của đơn vị mình mà không phải phụ thuộc vào chỉ tiêu biên chế
từ các Bộ, ngành chủ quản.
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status