MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1
1.1.
1.2.
Chương 2
2.1.
2.2.
Chương 3
3.1.
3.2.
3.3.
THỰC CHẤT VÀ NHỮNG NHÂN TỐ CƠ BẢN QUY
ĐỊNH PHÁT TRIỂN VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA HỌC
SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUẬN HÀ
ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thực chất phát triển văn hóa ứng xử của học sinh trung
học phổ thông quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
Những nhân tố cơ bản quy định phát triển văn hóa ứng
xử của học sinh trung học phổ thông quận Hà Đông,
thành phố Hà Nội
THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
TRONG PHÁT TRIỂN VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA
HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUẬN HÀ
3
10
10
28
39
39
50
60
60
67
74
84
86
91
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn hóa ứng xử là sự thể hiện sinh động, phong phú, sâu sắc tính cách
của một cá nhân trong quan hệ xã hội. Theo đó, văn hóa ứng xử có vai trò hết
sức quan trọng trong quan hệ giữa người với người trong xã hội. Vì vậy, phát
triển văn hóa ứng xử là tất yếu của mỗi con người trong cộng đồng xã hội. Đối
với học sinh trung học phổ thông nói chung, học sinh trung học phổ thông quận
Hà Đông, thành phố Hà Nội nói riêng, vấn đề phát triển văn hóa ứng xử của họ
xử có văn hóa. Bên cạnh đó, vẫn còn một số chủ thể trong môi trường văn hóa
học đường quận Hà Đông chưa thật sự quan tâm, chú trọng đến phát triển văn
hóa ứng xử của học sinh trung học phổ thông trong quận. Đây là một trong
những nguyên nhân cơ bản nhất làm cho phát triển văn hóa ứng xử của học
sinh trung học phổ thông quận Hà Đông chưa toàn diện.
Từ những nội dung trên đặt ra vấn đề có tính cấp bách đối với nghiên cứu
phát triển văn hóa ứng xử của học sinh trung học phổ thông quận Hà Đông,
thành phố Hà Nội hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Thứ nhất, tổng quan tình hình nghiên cứu các vấn đề về văn hóa
Trong những năm gần đây, văn hóa ứng xử là vấn đề đã thu hút nhiều nhà
khoa học quan tâm nghiên cứu với nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, ở các phạm
vi khác nhau, nổi bật là các công trình khoa học, các bài viết, bài báo sau:
Khi nghiên cứu văn hóa và nhân cách, đặc biệt là nghiên cứu văn hóa và
nhân cách trong điều kiện chủ nghĩa xã hội phát triển, các nghiên cứu của
AV.Lunatsaroxki, PN.Phedoxeep, AG.Egrop, GL.Gomman, AK.Uledop và
LN.Cogan (Liên Xô) đã luận chứng khá sâu sắc dưới góc độ triết học, xã hội
học, chỉ ra sự tương tác chặt chẽ giữa văn hóa và nhân cách; khẳng định sự tồn
tại trọn vẹn của con người, sự phát triển toàn diện lực lượng sáng tạo, trí tưởng
tượng, đời sống tình cảm cũng như đời sống thể lực của con người; đó là các
hiện tượng cơ bản của văn hóa. GS La Quốc Kiệt, nhà nghiên cứu ở Trung
Quốc, trong “Tu dưỡng đạo đức tư tưởng” (2003) đã đưa ra quan điểm về nhân
4
cách, giá trị, luận chứng bản chất và sự thống nhất giữa giá trị bản thân và giá
trị xã hội trong nhân cách; đặc biệt, đã làm rõ khái niệm "tố chất văn hóa", coi
đó là tố chất cơ sở, nó thẩm thấu và ảnh hưởng rất mạnh đối với sự hình thành,
phát triển các tố chất khác. Việc tu dưỡng tố chất văn hóa là điều kiện tiên
đình văn hóa khi mới bước vào đổi mới. Các tác giả dự báo xu hướng phát
triển nếp sống văn hóa tiếp theo qua mối quan hệ ứng xử trong gia đình, giao
tiếp xã hội và sinh hoạt cá nhân; tức là những nội dung cơ bản trong văn hóa
ứng xử với môi trường xã hội và với bản thân.
Trần Ngọc Thêm “Cơ sở văn hóa Việt Nam” [54]. Cho đến nay công
trình đã được tái bản lần thứ hai. Trong đó tác giả dành hai chương để bàn về
văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Văn hóa ứng
xử được tác giả quan niệm gồm hai hàm nghĩa: tận dụng và ứng phó thông
qua giao lưu và tiếp biến văn hóa.
Trần Văn Bính (chủ biên) “Văn hóa Thăng Long - Hà Nội hội tụ và tỏa
sáng” [3]. Tuy không trực tiếp bàn về văn hóa ứng xử, nhưng thông qua việc
làm sáng tỏ các giá trị văn hóa Thăng Long - Hà Nội (văn học, kiến trúc, mỹ
thuật, giáo dục, lễ hội...), các tác giả đã cung cấp một cái nhìn tổng quan về
lịch sử, về đặc điểm chung của văn hóa ứng xử và mối tương quan giữa văn
hóa Thăng Long - Hà Nội với văn hóa các vùng, miền trên đất nước (Phú
Xuân - Huế, Sài Gòn - TP Hồ Chí Minh). Hội tụ và tỏa sáng là đặc trưng tiêu
biểu của văn hóa Thăng Long - Hà Nội, trong đó có văn hóa ứng xử.
Nguyễn Viết Chức (chủ biên), “Văn hóa ứng xử của người Hà Nội với
môi trường thiên nhiên” [11]. Các tác giả tập trung làm rõ mối quan hệ giữa môi
trường thiên nhiên và văn hóa ứng xử đối với môi trường thiên nhiên ở người Hà
Nội, từ truyền thống đến hiện đại. Trước thách thức của toàn cầu hóa trong quá
trình đẩy mạnh CNH, HĐH các tác giả đã đề xuất một số phương hướng, quan
điểm, giải pháp và điều kiện xây dựng văn hóa ứng xử của người Hà Nội với
môi trường thiên nhiên.
Phan Quang Long, luận văn thạc sĩ, “Văn hóa ứng xử của người Hà Nội trong
thời kỳ đổi mới hiện nay” [33]. Phạm Minh Thảo, “Hỏi đáp về văn hóa ứng xử của
người Việt” [52], tác giả đưa ra một loạt câu hỏi liên quan đến những tình huống căn
bản nhất của văn hóa ứng xử, đồng thời trả lời một cách khái quát nhưng đầy đủ, sâu
sắc thông qua những ví dụ thực tiễn, dẫn chứng sinh động. TS Đoàn Trọng Thiều,
6
Luận giải những vấn đề bản chất, quy luật của phát triển văn hóa ứng xử
của học sinh trung học phổ thông quận Hà Đông, thành phố Hà Nội hiện nay.
7
Làm rõ thực trạng phát triển văn hóa ứng xử của học sinh trung học
phổ thông quận Hà Đông, thành phố Hà Nội hiện nay.
Đề xuất các giải pháp cơ bản phát triển văn hóa ứng xử của học sinh
trung học phổ thông quận Hà Đông, thành phố Hà Nội hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu văn hóa ứng xử và phát triển văn hóa ứng xử của học sinh
trung học phổ thông quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
* Phạm vi nghiên cứu
Là những vấn đề liên quan đến quá trình phát triển văn hóa ứng xử của học
sinh các trường trung học phổ thông ở quận Hà Đông, thành phố Hà Nội (từ năm học
2010 - 2011 đến nay).
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam; chủ trương, chính
sách, hướng dẫn của Nhà nước; điều lệ, quy chế, quy định của Bộ Giáo dục
và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo về văn hóa, đạo đức và xây dựng con
người mới Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.
* Cơ sở thực tiễn
Là hiện trạng và những báo cáo tổng kết, đánh giá của các cơ quan
chức năng có liên quan, của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội và của các
trường trung học phổ thông ở quận Hà Đông và kết quả của điều tra khảo sát
xã hội học hiện nay.
* Phương pháp nghiên cứu
1.1.1. Đặc điểm văn hóa ứng xử của học sinh trung học phổ thông
quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
Quan niệm về văn hóa
Xung quanh khái niệm văn hóa, hiện nay vẫn còn có nhiều cách định
nghĩa khác nhau, bởi lẽ văn hóa là sản phẩm do lao động của con người tạo ra
mà hoạt động lao động của con người rất đa dạng, thuộc nhiều lĩnh vực khác
nhau. Tuy nhiên, có thể tiếp cận khái niệm văn hóa theo hai góc độ. Theo
nghĩa rộng, văn hóa là toàn bộ những giá trị do con người sáng tạo ra tồn tại
cả ở dạng văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, văn hóa vật thể và văn hóa phi
vật thể. Như vậy, theo nghĩa rộng văn hóa được hiểu là cái đối lập với những
phản giá trị cũng do con người sáng tạo ra. Cuộc đấu tranh giữa giá trị và phản
giá trị là quy luật phổ biến nhất cho sự phát triển văn hóa. Trong lịch sử phát
triển loài người, con người không ngừng sáng tạo ra nhiều các giá trị văn hóa,
nhưng cũng phải thường xuyên đấu tranh chống lại những phản giá trị. Những
phản giá trị là do những con người lạc hậu, quay lưng lại truyền thống lịch sử,
chống lại tiến bộ xã hội. Thông thường, lực lượng xã hội này đại diện cho
những giai cấp lạc hậu, lỗi thời và những người còn thiếu lương tâm, chạy theo
thói ích kỷ cá nhân. Khi tiếp cận khái niệm văn hóa theo Nghĩa hẹp, văn hóa là
những giá trị thuộc đời sống tinh thần xã hội. Như vậy, hiểu văn hóa theo
nghĩa hẹp thì văn hóa là một mặt trong quan hệ với đời sống vật chất xã hội đó
là đời sống tinh thần xã hội như tư tưởng, ngôn ngữ v.v..
Với những nội dung của văn hóa như trên cho thấy, văn hóa liên quan
sâu sắc đến sự ứng xử, đến chuẩn mực và biểu tượng mã văn hóa. Văn hóa
khác với các lĩnh vực khác ở nhiều nội dung. Trong đó, văn hóa phản ánh hiện
10
thực xã hội không chỉ bằng lý thuyết, khái niệm, phạm trù mà còn bằng biểu
tượng văn hóa. Biểu tượng văn hóa là một vật có thể cảm quan được, có thể là
một màu sắc, có thể là một hình thù, một vật, v.v.. Những biểu tượng ấy có thể
khách biệt. Nếu như chuẩn đạo đức thì cái thiện nổi lên, cái thẩm mỹ thì cái
đẹp nổi lên và văn hóa thì rộng hơn và nổi lên là giá trị. Cả Chân - Thiện - Mỹ
đều có ý nghĩa tiến bộ xã hội, cho nên bản chất phát triển hoàn thiện nhân
cách con người, của xã hội là tiến đến cái Chân - Thiện - Mỹ.
Quan niệm về ứng xử
Trong ứng xử, con người luôn chủ động lựa chọn thái độ, hành vi, cử
chỉ, cách nói năng, tùy thuộc vào tri thức, kinh nghiệm và nhân cách của mỗi
người. Theo đó, có thể quan niệm, ứng xử là phản ứng của con người đối với
sự tác động từ bên ngoài đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định
được thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, lời nói của con người khi tiếp xúc
với người xung quanh.
Như vậy, ứng xử là phản ứng của con người trước sự tác động của
người khác hay môi trường tự nhiên trong một tình huống cụ thể nhất định,
là biểu hiện bản chất nhân cách của mỗi cá nhân thông qua ngôn từ, cử chỉ,
thái độ, phong thái, hành vi trước sự tác động của các yếu tố bên ngoài. Từ quan
niệm trên có thể rút ra những điểm cơ bản về ứng xử của con người như sau:
Một là, ứng xử là những phản ứng của con người đáp lại đối với tự
nhiên; là điều chủ thể cảm thấy, nhận thấy, hiểu mình đang đứng trước tình
huống nào để tổ chức hoạt động đáp trả lại tình huống đó.
Hai là, trong ứng xử những suy nghĩ của chủ thể luôn được biểu hiện
ra bên ngoài thông qua hành động, cử chỉ, ngôn ngữ, sắc thái tình cảm, v.v.
mà đối tác và những người xung quanh có thể quan sát và nhận biết được.
Ba là, ứng xử không diễn ra một cách tùy tiện mà thường tuân theo
khuôn mẫu nhất định nào đó, do cộng đồng người quy định.
Bốn là, ứng xử thể hiện ở chỗ con người không chỉ chủ động trong
giao tiếp mà còn chủ động trong phản ứng có sự lựa chọn, có tính toán. Sự lựa
chọn đó có được là dựa trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm của mỗi cá nhân.
12
toàn bộ xã hội thừa nhận và làm theo. Theo đó, văn hóa ứng xử của con người
được thể hiện ở những nội dung sau:
Thứ nhất, văn hóa ứng xử thể hiện trước hết ở hành vi ứng xử. Hành vi
ứng xử là sự thực hiện và thể hiện các khuôn mẫu mang tính lý tưởng kết tinh
những giá trị và chuẩn mực mà cá nhân và cộng đồng hướng tới. Văn hóa ứng
xử là một phương diện để thể hiện nhân cách và bản lĩnh của con người trong
hoạt động thực tiễn gắn với trình độ văn hóa.
Thứ hai, văn hóa ứng xử còn thể hiện qua kỹ năng ứng xử. Kỹ năng
ứng xử không phải trên trời rơi xuống, cũng không phải do di truyền. Một
người muốn có được kỹ năng ứng xử đạt đến chuẩn mực văn hóa thì phải
thông qua quá trình học tập, rèn luyện kỹ năng ứng xử từ hoạt động thực tiễn,
bồi dưỡng tư tưởng, đạo đức, lối sống có văn hóa.
Thứ ba, văn hóa ứng xử thể hiện qua cách nói, cách viết của con
người. Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết là ngôn ngữ của cử chỉ là phương
tiện thể hiện văn hóa của con người, nó phản ánh quá trình hoạt động tạo ra
lối suy nghĩ của con người. Ngôn ngữ gắn liền với học vấn và tính cách của
con người, nó cho phép chia sẻ xúc cảm, tình cảm, ý nghĩ, kinh nghiệm,
khát vọng, trí nhớ, nhu cầu, tư tưởng của con người.
Thứ tư, văn hóa ứng xử thể hiện qua thái độ ứng xử. Thái độ ứng xử
của con người là một vấn đề có tính chất định hướng cơ bản và thường xuyên
cho văn hóa ứng xử (thái độ lựa chọn các khuôn mẫu ứng xử, thái độ thể hiện
kỹ năng ứng xử…). Văn hóa ứng xử là một bộ phận cấu thành nên tổng thể
văn hóa do đó nội hàm khái niệm này cũng rất rộng lớn. Vì vậy, để tìm hiểu,
đánh giá được văn hóa ứng xử của một cộng đồng người một cách đầy đủ, cần
nhìn nhận văn hóa ứng xử theo bốn chiều kích của con người: Chiều cao:
quan hệ với tự nhiên; chiều rộng: quan hệ với xã hội; chiều sâu: quan hệ với
chính mình; chiều lịch sử: quan hệ với tổ tiên và con cháu mai sau. Ngoài ra,
để tìm hiểu văn hóa ứng xử của một cá nhân trong cộng đồng người cần nhìn
14
Đa Sỹ, v.v.. Đây chính là những nét văn hóa riêng về môi trường văn hóa so
15
với học sinh trung học phổ thông ở các địa phương khác trên địa bàn thành phố
Hà Nội. Mặt khác, do quá trình phát triển của công nghiệp hóa và đô thị hóa,
nên học sinh trung học phổ thông quận Hà Đông không chỉ có người bản địa
mà còn đến từ các tỉnh khác nhau. Vì vậy, nó tạo nên một diện mạo của sự
giao thoa văn hóa giữa các chủ thể học sinh trong các trường trung học phổ
thông trên địa bàn quận Hà Đông hiện nay.
Đặc điểm văn hóa học sinh trung học phổ thông quận Hà Đông mang
sắc thái của một thế hệ người đang trong quá trình tiếp nhận và định hình văn
hóa nhân cách ở giai đoạn cận kề với giai đoạn vượt qua văn hóa lứa tuổi lệ
thuộc vào gia đình. Nhìn chung văn hóa của học sinh là văn hóa của lứa tuổi
gắn liền với văn hóa gia đình, khu dân cư. Văn hóa học sinh trung học phổ
thông quận Hà Đông khác với văn hóa học sinh cấp dưới ở tính chất cận kề
với giai đoạn dần vượt ra khỏi sự quản lý của gia đình, bước vào tự lập. Trong
thời gian ba năm học, từ học sinh lớp 10 đến học sinh lớp 12, học sinh từng
bước thoát ly sự quản lý của gia đình và dần bước vào tự lập. Tốt nghiệp lớp
12, họ bị phân tán theo các hướng phát triển khác nhau, không chỉ về tính chất
nghề nghiệp, mà còn phân hóa nhanh về tính tự lập trong ứng xử văn hóa.
Một bộ phận tiếp tục bước vào học ở bậc học cao hơn; một bộ phận làm nghĩa
vụ quân sự; một bộ phận đi làm theo các hướng nghề nghiệp khác nhau, thậm
chí có một số nhanh chóng hình thành gia đình mà mình là chủ thể chính, v.v..
Đặc điểm văn hóa học sinh trung học phổ thông quận Hà Đông còn
mang sắc thái của những chủ thể văn hóa đang tiếp tục cận kề đến sự phân
tán. Phân tán cả về thiên hướng nghề nghiệp cả về tính chất hoạt động, mà
ở đó bộc lộ sự phân hóa về tính chất, đặc điểm rất rõ nét. Văn hóa học sinh
này bắt đầu từng bước chuyển sang giai đoạn dần thoát ly khỏi kiểm soát
của gia đình, khu phố tạo ra tính tự lập. Đây là dấu hiệu khá khác biệt so
để bước vào đời với những thiên hướng, nghề nghiệp khác nhau. Văn hóa ứng
xử của học sinh trung học phổ thông hàm chứa nhiều khuynh hướng phát
triển, nhiều nội dung của văn hóa xã hội cao hơn.
Từ gia đình ra xã hội, văn hóa ứng xử của học sinh trung học phổ thông
từng bước thoát ra khỏi sự điều chỉnh của gia đình và tiến dần đến tính chủ
17
thể trong ứng xử xã hội. Học sinh trung học phổ thông quận Hà Đông thể hiện
tính độc lập khá cao so với học sinh cấp dưới trong quan hệ ứng xử. Đặc điểm
này luôn tiềm ẩn những xu hướng trái ngược nhau. Những học sinh giữ được
nét văn hóa ứng xử truyền thống gia đình thì ứng xử trong mở rộng quan hệ
xã hội thường có văn hóa. So với văn hóa ứng xử của học sinh cấp dưới thì
văn hóa ứng xử của học sinh trung học phổ thông có nhiều pha tạp bởi sự xâm
nhập của văn hóa ứng xử xã hội cao hơn.
Quan hệ giữa học sinh trung học phổ thông quận Hà Đông với thầy,
cô giáo trong trường cũng có những biểu hiện mới và sắc thái độc đáo hơn
so với bậc học trung học cơ sở về văn hóa ứng xử. Văn hóa ứng xử của học
sinh trung học phổ thông bắt đầu hình thành những bước phát triển mới, là
giai đoạn thể hiện tính chủ thể cao hơn. Giai đoạn tiếp nhận giá trị văn hóa
ứng xử theo khuôn mẫu, chuẩn mực của gia đình, của thầy, cô bắt đầu giảm
dần và hướng đến dung nạp những văn hóa ứng xử của xã hội bên ngoài
môi trường giáo dục tăng lên, định hình văn hóa ứng xử của học sinh trung
học phổ thông có tính độc lập cao hơn.
Trong quan hệ giữa học sinh trung học phổ thông quận Hà Đông với
nhau cũng có những biểu hiện mới về văn hóa ứng xử. Học sinh trung học
phổ thông quận Hà Đông bắt đầu có những dấu hiệu của sự tinh tế và cũng có
cả xu hướng thiếu tính lịch lãm trong văn hóa ứng xử. Sự tinh tế thường xuất
hiện ở những học sinh giữ được cốt cách tâm hồn của văn hóa truyền thống,
nhanh nhạy tiếp thu mặt tích cực của văn hóa xã hội, văn hóa học đường cộng
của học sinh trung học phổ thông quận Hà Đông là vấn đề tất yếu khách quan.
Song, trong tính khách quan ấy cũng bao hàm những dấu ấn chủ quan là nhận
thức, vận dụng cái khách quan và định hướng phát triển văn hóa dân tộc nói
chung và văn hóa học đường nói riêng. Vì vậy, phát triển văn hóa ứng xử của
học sinh trung học phổ thông quận Hà Đông đã có dấu ấn của chủ thể, đó là sự
nhận thức, định hướng và đưa ra mục tiêu, nội dung, yêu cầu về chuẩn mực văn
hóa ứng xử của học sinh trung học phổ thông nhằm đáp ứng yêu cầu các chuẩn
mực của con người mới Việt Nam hiện nay.
19
Từ hướng tiếp cận trên bước đầu luận văn quan niệm: Phát triển văn
hóa ứng xử của học sinh trung học phổ thông quận Hà Đông, thành phố Hà
Nội là quá trình tiếp nhận chuẩn mực ứng xử và quá trình tự tu dưỡng, rèn
luyện, nâng văn hóa ứng xử của học sinh trung học phổ thông lên một tầm
cao mới đáp ứng với chuẩn mực văn hóa ứng xử học đường của quận Hà
Đông.
Phát triển văn hóa ứng xử của học sinh trung học phổ thông quận Hà
Đông là quá trình biện chứng từ thấp đến cao, gắn liền với quá trình nhận thức,
vận dụng, giải quyết những mâu thuẫn mang sắc thái văn hóa ứng xử của một
lớp học sinh trung học phổ thông quận Hà Đông. Mỗi bước phát triển của văn
hóa ứng xử đều gắn với sự vận động của những mâu thuẫn có sắc thái riêng,
đồng thời xâu chuỗi với nhau có tính lôgic.
Mục đích phát triển văn hóa ứng xử của học sinh trung học phổ thông
quận Hà Đông nhằm phát huy các giá trị đạo đức, văn hóa và văn hóa ứng xử
tốt đẹp của dân tộc và của người Hà Nội, làm phong phú các hoạt động văn
hóa tinh thần, đảm bảo môi trường văn hóa học đường trong sáng, lành mạnh;
đồng thời ngăn chặn và đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức, văn hóa ứng xử của
một bộ phận học sinh nói chung và học sinh trung học phổ thông nói riêng.
Chủ thể phát triển văn hóa ứng xử của học sinh trung học phổ thông
quận Hà Đông bao gồm các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, các thầy, cô
giáo ở các nhà trường, cùng gia đình và bản thân học sinh.
Cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể trong và ngoài nhà trường là tiền
đề cho sự thống nhất giữa các chủ thể trong cơ chế hoạt động, là chủ thể
lãnh đạo trong và ngoài nhà trường. Đối với cấp ủy đảng, qua nghị quyết,
tạo dựng sự thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo các hoạt động và kiểm tra,
hướng dẫn các chủ thể khác thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ. Ở các nhà
trường, lãnh đạo có chủ trương khắc phục những biểu hiện lệch chuẩn của
từng chủ thể, tiếp tục bổ sung, phát huy những mặt ưu điểm và tạo sự thống
nhất về nhận thức, thái độ, động cơ, ý chí trong toàn trường. Tiếp đến, các
chủ thể quản lý, tổ chức hoạt động, theo chức năng, nhiệm vụ của mình triển
khai nghị quyết lãnh đạo, cụ thể hóa vào từng chương trình hoạt động, đưa
21
nghị quyết vào thực tiễn. Các chủ thể là cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể
ở địa phương cùng tham gia vào quản lý, nắm bắt hoạt động của những học
sinh trên địa bàn và qua dư luận của khu dân cư để tuyên dương, khen
thưởng những cháu ngoan ngoãn, chăm học, có thành tích cao trong học tập
và rèn luyện; đồng thời có biện pháp sát thực để kịp thời uốn nắn những
cháu có biểu hiện lệch chuẩn, hành vi ứng xử chưa phù hợp với văn hóa và
đạo đức xã hội.
Trong các nhà trường nói chung và các trường trung học phổ thông
quận Hà Đông nói riêng, các thầy, cô giáo là chủ thể quan trọng và trực tiếp
tuân thủ nghị quyết và chương trình, kế hoạch hoạt động của nhà trường, thực
hiện đúng chức năng vừa truyền thụ tri thức, rèn luyện tư duy sáng tạo vừa
giáo dục nhân cách, phẩm chất, lối sống, rèn luyện kỹ năng ứng xử cho học
sinh theo chuẩn mực văn hóa của nhà trường. Các thầy, cô giáo luôn ứng xử
một cách nhân văn, văn hóa là tiền đề giáo dục những thế hệ học trò biết ứng
Nội dung quan trọng của phát triển văn hóa ứng xử của học sinh
trung học phổ thông quận Hà Đông là truyền thụ cho học sinh những tri
thức khoa học tự nhiên, xã hội, lịch sử truyền thống của địa phương. Từ đó,
mỗi học sinh nhận thức được vai trò, tác dụng to lớn, tự hào về truyền
thống văn hóa của quê hương và tự hình thành thái độ, động cơ ý chí, trách
nhiệm của mình đối với phát triển văn hóa ứng xử.
Phương thức phát triển văn hóa ứng xử của học sinh trung học phổ
thông quận Hà Đông là sự tiếp nối trình độ văn hóa ứng xử của giai đoạn
trước và tiếp tục phát triển đi lên. Trình độ văn hóa ứng xử của học sinh trung
học cơ sở quận Hà Đông còn nhiều dấu hiệu của văn hóa gia đình, khu dân
cư. Với tính chất địa văn hóa, truyền thống văn hóa gia đình, khu dân cư và sự
giao tiếp, quan hệ xã hội còn ở giới hạn hẹp, cho nên sắc thái văn hóa ứng xử
chưa bị pha tạp. Hoạt động, quan hệ xã hội bị giới hạn nhiều trong không gian
gia đình, khu dân cư. Tính chất thuần nhất, đồng đều giữa các học sinh về văn
hóa ứng xử khá cao. Ở đó chưa có nhiều dấu ấn cá nhân, cũng không có nhiều
pha tạp của xã hội rộng, bên ngoài.
23
Khi bước vào bậc học trung học phổ thông, học sinh bắt đầu phát triển
văn hóa ứng xử theo đa hướng, giảm dần tính thuần nhất, đồng đều và thậm chí
phân hóa trái ngược nhau. Một hướng giữ được sắc thái văn hóa ứng xử của
bậc học trung học cơ sở có tính chất tích cực thì có chiều hướng vượt lên theo
yêu cầu, mong muốn của gia đình, nhà trường và xã hội. Một hướng trượt khỏi
quỹ đạo, đi lệch định hướng của gia đình, nhà trường và xã hội làm cho tính
chất tiêu cực, phản giá trị văn hóa tăng lên. Nguyên nhân xuất hiện các xu
hướng đó là do học sinh trung học phổ thông có dấu hiệu dần thoát ly khỏi sự
kèm cặp của gia đình, mở rộng quan hệ xã hội, quan hệ ứng xử và những biến
đổi về tâm sinh lý của tuổi chập chững trưởng thành. Tính độc lập, sắc thái riêng
phong cách ứng xử, lối sống, lẽ sống của học sinh theo chuẩn văn hóa. Quá trình
định hình văn hóa ứng xử cũng phản ánh và giải quyết mâu thuẫn biện chứng
giữa theo chuẩn văn hóa và lệch chuẩn văn hóa. Hai mặt này được học sinh tiếp
nhận và chỉ có bằng thái độ, động cơ, ý chí, lương tâm chiến thắng những tác
động tiêu cực, sự cám dỗ về vui chơi, tính tự do, tùy tiện buông thả của lứa tuổi
chập chững bước vào giai đoạn từ sự kèm cặp của gia đình, định hướng của
thầy, cô. Định hình văn hóa ứng xử của học sinh trung học phổ thông quận Hà
Đông cũng phản ánh, thể hiện sắc thái chưa thật vững chắc. Bởi đây là giai
đoạn đầu của toàn bộ tiến trình khẳng định tính chủ thể, học sinh trung học phổ
thông gần như độc lập trong ứng xử và quan hệ xã hội, cho nên có thể bị cực
đoan và dễ dao động trước những tác động của ngoại cảnh. Trường hợp thể
hiện tính chủ thể cao mà phù hợp với định hướng của nhà trường, gia đình và
xã hội thì sớm trưởng thành, khi đó học sinh trung học phổ thông có nhiều lợi
thế cho định hình vững chắc. Tính cực đoan trong định hình văn hóa mà không
phù hợp với định hướng, với yêu cầu của chuẩn mực văn hóa thì chạy theo
hướng tiêu cực và rất khó xoay chuyển. Trường hợp, định hình văn hóa ứng xử
chưa thật vững chắc cũng có hai chiều hướng tích cực và tiêu cực. Một là, vẫn
có thể tiếp tục định hình phù hợp với yêu cầu chuẩn mực văn hóa theo định
hướng của nhà trường, gia đình và xã hội, nhưng có dấu hiệu của sự chậm
25
chạp, chưa tương xứng. Hai là, cũng dễ theo hướng lệch chuẩn văn hóa ứng xử.
Những chiều hướng phát triển khác nhau ấy vừa phản ánh những mâu thuẫn
biện chứng trong quá trình định hình văn hóa vừa thể hiện khá sâu sắc tính đặc
thù của phát triển văn hóa ứng xử.
Động lực cho phát triển văn hóa ứng xử ở giai đoạn định hình văn hóa
vẫn là sức mạnh tinh thần từ nhận thức được yêu cầu chuẩn mực văn hóa đến
thái độ, động cơ, ý chí vượt qua những trở lực bên trong và bên ngoài. Trước
những trở lực ấy, học sinh tự chiến thắng mình trước những cám dỗ về sự lôi