Chiến dịch tây nguyên đòn chiến lược mở màn tổng tiến công và nổi dậy xuân 1975 - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÀN THỊ HUỆ

CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN - ĐÒN CHIẾN LƢỢC
MỞ MÀN TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN 1975

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÀN THỊ HUỆ

CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN - ĐÒN CHIẾN LƢỢC
MỞ MÀN TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN 1975

Chuyên ngành: Lịch Sử Việt Nam

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn: ThS. Bùi Mạnh Thắng

SƠN LA, NĂM 2015


Lời cảm ơn
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo - Th.S Bùi Mạnh Thắng, người đã tận

1.1. Tương quan lực lượng giữa ta và địch trên chiến trường miền Nam sau Hiệp
định Pari ................................................................................................................ 5
1.1.1. Phía chính quyền Sài Gòn ........................................................................... 5
1.1.2. Về phía ta .................................................................................................. 13
1.2. Tương quan lực lượng ở Tây Nguyên .......................................................... 18
1.2.1. Phía địch .................................................................................................... 18
1.2.2. Phía ta ........................................................................................................ 21
1.3. Chủ trương, kế hoạch giải phóng Tây Nguyên của Trung ương ................. 21
Chƣơng 2. DIỄN BIẾN CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN (TỪ NGÀY 4/3 ĐẾN
NGÀY 3/4/1975)................................................................................................. 24
2.1. Quá trình chuẩn bị và xây dựng thế trận chiến dịch .................................... 24
2.1.1. Quá trình chuẩn bị ..................................................................................... 24
2.1.2. Xây dựng thế trận ...................................................................................... 26
2.2. Buôn Ma Thuột trận đánh mở màn then chốt của chiến dịch ...................... 29
2.3. Truy kích, tiêu diệt địch và giải phóng Tây Nguyên ................................... 38
Chƣơng 3. KẾT QUẢ, Ý NGHĨA CỦA CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN ..... 45
3.1. Kết quả của chiến dịch ................................................................................. 45
3.2. Ý nghĩa của chiến dịch ................................................................................. 47
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 59
PHỤ LỤC ........................................................................................................... 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 63


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiệp định Pari chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được kí
kết năm 1973 đánh dấu sự chấm dứt can thiệp quân sự của Hoa Kỳ về mặt
“danh nghĩa” ở miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, với bản chất của một nước đế
quốc có tham vọng bành trướng và làm bá chủ thế giới, giới cầm quyền của Mỹ
vẫn tiếp tục nuôi ảo tưởng và hi vọng đối với chính quyền Nguyễn Văn Thiệu

tấn công chiến lược năm 1975. Sau khi xem xét kĩ lưỡng, Bộ Chính trị đã
nhất trí “chọn Tây Nguyên làm chiến trường chủ yếu trong cuộc tổng tiến
công lớn và rộng khắp năm 1975, đồng thời chỉ rõ phải mở ra ở Buôn Ma
Thuật và Tuy Hòa” [5;8]. Chấp hành sự chỉ đạo của Bộ Chính trị cùng với sự
chỉ đạo đúng đắn của Thường trực Quân ủy Trung ương, quân và dân Tây
Nguyên đã giành thắng lợi to lớn và vẻ vang, gây ra sự rối loạn, sụp đổ cho
quân đội của chính quyền Sài Gòn. Thắng lợi của quân dân ta ở Tây Nguyên
đã tạo cơ sở, tiền đề quan trọng để Bộ Chính trị bổ sung quyết tâm chiến
lược, hạ quyết tâm giải phóng Sài Gòn và hoàn toàn miền Nam trước mùa
mưa (trước tháng 5 năm 1975).
Chiến thắng Tây Nguyên đã tạo tiền đề quan trọng cho nhân dân ta giành
thắng lợi trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Với vai trò, ý
nghĩa quan trọng của chiến thắng Tây Nguyên trong quá trình thống nhất tổ
quốc. Em mạnh dạn lựa chọn đề tài “Chiến dịch Tây Nguyên - Đòn chiến lược
mở màn Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975” làm khóa luận tốt nghiệp. Khóa
luận được thực hiện có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sau:
Về mặt khoa học:
+ Góp phần làm thúc đẩy tinh thần khẩn trương, khí thế của những ngày
tháng 3 lịch sử trong công cuộc chuẩn bị cho chiến dịch Tây Nguyên cũng như
cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975.
+ Góp phần nói lên vai trò, ý nghĩa lịch sử quan trọng của chiến thắng
Tây Nguyên trong cuộc Tống tiến công và nổi dậy Xuân 1975.
+ Góp phần làm rõ thêm nghệ thuật chiến tranh nhân dân của Đảng ta
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Về mặt thực tiễn:
+ Bổ sung nguồn tư liệu về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hào
hùng của dân tộc.
+ Góp phần giáo dục truyền thống yêu nước và lòng tự hào dân tộc cho
thế hệ trẻ được sinh ra sau ngày miền Nam giải phóng.
+ Làm tài liệu tham khảo và giảng dạy trong học phần lịch sử Việt Nam

bản đã đề cập đến cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ từ sau Hiệp định Pari đến
khi kết thúc Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Trong tác phẩm, các tác giả đã đề
cập đến quá trình đấu tranh của nhân dân ta từ sau Hiệp định Pari cũng như quá
trình chuẩn bị cho chiến thắng cuối cùng của nhân ta. Chiến thắng Tây Nguyên
đã được đề cập nhưng chưa được làm rõ.
Ngoài những tác phẩm trên đây còn rất nhiều tác phẩm, bài nghiên cứu
của các tác giả, nhà nghiên cứu khác về Chiến dịch Tây Nguyên với các vấn đề
khác nhau. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đề
cập tới vấn đề này một cách hoàn chỉnh, hệ thống… Nhưng tất cả những công
trình trên đã góp phần định hướng và là nguồn tài liệu tham khảo quý để em đi
vào nghiên cứu đề tài này.
3


3. Đối tƣợng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận tập trung làm rõ: chiến thắng Tây Nguyên trong cuộc Tổng tiến
công và nổi dậy Mùa Xuân 1975.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Khóa luận hướng tới nhiệm vụ như sau:
+ Tình hình miền Nam sau Hiệp định Pari 1973 và chủ trương giải phóng
Tây Nguyên của Trung ương.
+ Diễn biến Chiến dịch Tây Nguyên (từ ngày 4/3 đến ngày 3/4/1975).
+ Kết quả, ý nghĩa của Chiến dịch Tây Nguyên.
3.3. Phạm vi nghiên cứu vấn đề
+ Về thời gian: Khóa luận tập trung nghiên cứu trong năm 1974 - 1975.
+ Về không gian: Khóa luận tập trung nghiên cứu trên địa bàn Tây Nguyên.
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tư liệu
Để hoàn thành khóa luận, em dựa vào những nguồn tài liệu sau:

Việt Nam. Hiệp định Pari được kí kết ngày 27/1/1973, Hoa Kỳ đã cam kết về việc
chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam, rút hết quân Mỹ và
quân đồng minh ra khỏi miền Nam Việt Nam, cam kết tôn trọng độc lập, chủ
quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, quyền tự quyết của nhân dân Việt Nam,
chấm dứt mọi sự dính líu quân sự và can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam
Việt Nam. Hiệp định Pari về vấn đề chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt
Nam là bằng chứng đanh thép về tinh thần quả cảm của nhân dân Việt Nam. Từ
đây cách mạng Việt Nam tiến thêm một bước mới trong công cuộc giải phóng dân
tộc, thống nhất đất nước.
Mặc dù Hiệp định Pari vừa kí kết còn chưa được ráo mực, đế quốc Mỹ
tiến hành thực hiện âm mưu để chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng tiếp
tục viện trợ cho chính quyền Sài Gòn nhằm xây dựng một lực lượng mạnh,
một con đập ngăn đe chủ nghĩa cộng sản ở miền Nam Việt Nam.
Chúng chủ trương ra sức phá hoại Hiệp định Pari bằng cách tiếp tục thực
hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, chủ trương nhất quán của chúng là
ra sức phá hoại Hiệp định, tiến hành “một kiểu chiến tranh” chống phá cách
mạng bằng biện pháp chiến lược “lấn chiếm và bình định” được chúng gọi là
“tràn ngập lãnh thổ” [2;498].
Khi Hiệp định Pari được kí kết, chính quyền Hoa Kỳ vẫn tiếp tục viện trợ
cho chính quyền miền Nam Việt Nam. Tại cuộc hội đàm ở San Clemente, hai
bên đã ra thông cáo chung, trong đó, phía Mỹ tái khẳng định cam kết tiếp tục
viện trợ cho chính quyền Sài Gòn và Mỹ sẽ trả đũa không thương tiếc với mọi vi
phạm lệnh ngừng bắn. Mỹ đã chuyển giao các căn cứ quân sự của quân đội Mỹ
trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam cho chính quyền Sài Gòn trong khi đó trong
những điều kiện của Hiệp định Pari thì chúng cần phải bị phá hủy. Ngoài ra số
5


lượng máy bay chiến đấu quân đội Hoa Kỳ không chuyển về nước mà phân tán
sang các căn cứ quân sự ở Thái Lan nhằm sẵn sàng chi viện cho quân đội Sài

sự ủng hộ và giúp đỡ của hai nước đối với sự nghiệp kháng chiến của dân tộc Việt
6


Nam. Với các hoạt động ngoại giao xảo quyệt của phía Mỹ đã tạo ra những khó
khăn và ảnh hưởng nhất định tới cuộc kháng chiến của nhân dân ta.
Được sự tăng viện, khuyến khích và cam kết từ chính quyền Mỹ, chính
quyền Sài Gòn ngay từ đầu đã ngang nhiên vi phạm các điều khoản của hiệp
định Pari (1973). Chúng tiến hành các hoạt động quân sự nhằm cải thiện tình hình,
mở rộng vùng chiếm đóng, tăng cường nhanh chóng sức mạnh quân sự cho Việt
Nam Cộng hòa. Dưới sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của đội quân cố vấn Mỹ khoác
áo dân sự, chính quyền Sài Gòn tiếp tục thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến
tranh”, chủ trương nhất quán của chúng là ra sức phá hoại Hiệp định Pari, tiến hành
“một kiểu chiến tranh” chống phá cách mạng bằng biện pháp chiến lược “lấn chiếm
và bình định” được gọi là “tràn ngập lãnh thổ”. Chính quyền Sài Gòn ráo riết xúc
tiến thực hiện kế hoạch chiến tranh 3 năm (1973 - 1975) hòng lấn chiếm vùng giải
phóng, tiêu diệt các lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam tiến tới xóa bỏ tình
trạng hai chính quyền, hai quân đội và 3 lực lượng hiện có ở miền Nam, độc chiếm
và biến miền Nam trở thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ.
Theo thống kê mà Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn đưa ra thì trong
năm 1973 chúng đã mở trên một vạn cuộc hành quân lấn chiếm từ cấp trung
đoàn trở lên, trong đó phần lớn là các cuộc hành quân thuộc cấp tiểu đoàn trở
lên, đặc biệt là có 50 cuộc từ 5 tiểu đoàn trở lên. Ngoài dùng lực lượng quân đội,
chính quyền Sài Gòn còn sử dụng lực lượng cảnh sát phục vụ cho kế hoạch bình
định lấn chiếm của mình. Cũng từ nguồn tin của Bộ Tổng Tham mưu ngụy quân
thì “trong năm 1973, địch còn tiến hành 49.676 cuộc hành quân cảnh sát trên
chiến trường miền Nam” [13;13]. Có kế hoạch mới, cùng sự cố gắng của mình
chính quyền ngụy quyền Sài Gòn địch đã thành công phần nào đó trong việc
kiểm soát, lấn chiếm nhiều vùng giải phóng: “chúng đã kiểm soát được 11.430
ấp, trong đó có 5.008 ấp loại A với số dân là 19.049.000 người” [10;13].

những vùng ta vừa mới mở trước ngày lệnh ngừng bắn có hiệu lực và cả một số
khu vực mà nhiều năm trước đây, cho dù có tập trung đánh phá quyết liệt, nhưng
chúng cũng không thể nào lấn chiếm được. Tính riêng chỉ 5 tỉnh: Quảng Đà,
Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, địch đã chiếm đóng thêm 450
chốt điểm và cụm chốt điểm.
Ở khu 8, từ sáng sớm ngày 28/1/1973, địch đã xua quân tiến công, lấn
chiếm, giành giật quyết liệt với ta ở hai bên đường 4 và các đường ven thành
phố Mỹ Tho. Miền Đông Nam Bộ, ngay khi hiệp định có hiệu lực, địch tăng
cường các hoạt động chiến tranh tâm lý đi đôi với đàn áp, khủng bố, phủ nhận
các quyền tự do, dân chủ…
Trên mặt trận quân sự, chúng dồn sức mở nhiều cuộc tiến công lấn chiếm
nhằm vào các địa bàn xung yếu, các trục đường giao thông quan trọng, giành
đất, giành dân; mở rộng phạm vi kiểm soát khu vực đường số 7 Bến Cát, đường
số 2 Bà Rịa - Long Khánh, đường số 23 Long Tân - Long Phước - Bà Rịa,
đường xe lửa Hưng Lộc - Gia Ray (Long Khánh)… Những khu vực này, ngay
khi vừa lấn chiếm, địch lập tức ủi phá địa hình, xóa “thế da báo” hòng chiếm
8


đóng lâu dài. Ở Thủ Dầu Một, trung tuần tháng 2/1973, địch tiến công lấn chiếm
và cho lực lượng đốt phá các cánh rừng ở Cò Mi (Lái Thiêu), Vĩnh Lợi (Châu
Thành), bố trí hàng chục chốt trên đường 14, dọc theo sông Đồng Nai để bảo vệ
Sân bay Biên Hòa và làm bàn đạp tiến công mở rộng vùng kiểm soát. Cuộc
chiến diễn ra ngày càng khốc liệt do âm mưu và hành động phá hoại hiệp định
của chính quyền và quân đội Sài Gòn, đặc biệt ở các vùng đông dân cư có ý
nghĩa chiến lược. Trên tuyến vành đai phòng thủ Sài Gòn, các khu vực trọng yếu
ven thị xã Tây Ninh, đường số 10, tây bắc Hậu Nghĩa, đông - tây đường số 2,
bắc chi khu Đức Thạch, Bà Rịa…, do ta lúng túng sai lầm trong nhận thức và
hành động, nên chỉ hơn hai tháng sau khi Hiệp định Pari được kí kết, nhiều vùng
ta mới giải phóng được trước ngày 27/1/1973 ở miền Đông Nam Bộ gần như

ưu đãi bất khả xâm phạm đối với các thành viên thuộc phái đoàn Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam, cắt điện thoại, cắt điện và nước sinh hoạt.
Tuy nhiên, những cố gắng của chính quyền Ních xơn và chính quyền Sài
Gòn là những cố gắng cuối cùng của chúng trong việc chống phá sự thống nhất
của đất nước ta. Sau Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở
Việt Nam, nước Mỹ cũng có sự suy yếu của mình. Từ sau Hiệp định Pari được
kí kết, Mỹ liên tiếp lâm vào một loạt vấn đề nan giải về chính trị, kinh tế, quân
sự, đối ngoại… Cuộc chiến tranh Việt Nam đã gây ra cho nước Mỹ những khó
khăn chồng chất cả về kinh tế, chính trị, quân sự và ngoại giao. Cuộc khủng
hoảng kinh tế trong những năm 1969 đến năm 1971 ở Mỹ vừa lắng xuống thì lại
diễn ra cuộc khủng hoảng trong hai năm 1973 và 1974 khiến cho tình trạng nhập
siêu, thất nghiệp, lạm phát ngày càng tăng lên, làm nhức nhối đời sống kinh tế,
xã hội Mỹ. Phong trào phản đối cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã lôi cuốn hàng
triệu người Mỹ tham gia gồm đủ các thành phần. Trên trường quốc tế, vị thế của
nước Mỹ cũng bị ảnh hưởng sâu sắc do những tác động của cuộc chiến tranh
Việt Nam. Nhật Bản, Tây Âu và Liên Xô lần lượt vươn lên vượt Mỹ trong một
số lĩnh vực công nghiệp như: khoa học - kỹ thuật quân sự, khai thác than đá, dầu
mỏ… Không những vậy, Tây Âu và Nhật Bản còn phản đối quyết liệt chính
sách của Mỹ ở Trung Đông; Hy Lạp rút khỏi khối NATO, khối SEATO do Mỹ
lập ra đứng trước nguy cơ tan vỡ. Tháng 9/1973, khối cộng đồng chung châu Âu
(EEC) chống lại một số chính sách độc quyền của Mỹ. Phong trào chống chiến
tranh của một số nước không liên kết, phong trào giải phóng dân tộc tiếp tục
phát triển mạnh mẽ trên khắp thế giới làm cho giới chính quyền Mỹ càng thêm
lúng túng. Chưa bao giờ, nước Mỹ phải đối diện với một loạt vấn đề nóng bỏng
và bị phản ứng như thời điểm này. Trong khi đó, mâu thuẫn trong nội bộ giới cầm
quyền Mỹ tiếp tục có những diễn biến mới. “Những cuộc xét xử Oatơghết, triển
khai đầy đủ vào tháng 3/1973, củng cố sự sẵn sàng và khả năng của Quốc hội
thách thức chính quyền” [7;245]. Ngày 30/4/1973, Ních xơn buộc phải cho hai trợ
lý cao cấp của mình là H.R Hanđơman và Giônơlisơman từ chức vì bị tố cáo là
liên quan tới vụ bê bối Oatơghết. Từ ngày 4 đến ngày 14 và 15/5/1973, Hạ viện

đội Sài Gòn giảm đi 50%. Hàng nghìn máy bay không hoạt động được vì thiếu
nhiên liệu và phụ tùng thay thế” [11;26].
Về phía chính quyền Sài Gòn, để lấp “chỗ trống” về quân số sau khi quân
đội Mỹ và chư hầu rút, năm 1973, Bộ Quốc phòng quân đội Việt Nam Cộng hòa
vẫn chủ trương duy trì lực lượng 1,1 triệu quân chủ lực và địa phương. Do vậy,
bên cạnh việc khẩn trương bắt lính, thay đổi quân số các quân binh chủng (ưu
tiên đặc biệt cho các binh chủng kỹ thuật), địch cũng rất coi trọng việc củng cố,
phát triển địa phương quân: đưa 20 - 40% sĩ quan và nhân viên quân sự xuống
cơ sở, đồng thời nâng lực lượng phòng vệ dân sự lên mức 1 triệu quân với 25%
11


có trang bị vũ khí… Tất cả các biện pháp trên nhằm tạo nên sức mạnh quân sự
ưu thế để chúng thực hiện chỉ tiêu đến cuối năm 1973 kiểm soát bình định được
11.000 trên tổng số 13.000 ấp trên toàn miền Nam. Mặt khác, để khắc phục khó
khăn về ngân sách do quân Mỹ và đồng minh phải rút quân, chính quyền Sài
Gòn quyết định “tăng thuế, kiểm soát chặt chẽ việc lưu thông lương thực, thực
phẩm, khai thác lâm hải sản, di dân, lập ra nhiều khu kinh tế, đồng thời với kêu
gọi các nước tư bản đầu tư vào miền Nam” [9;34 - 35].
Việc Mỹ cắt giảm viện trợ kinh tế và quân sự cho chính quyền Nguyễn
Văn Thiệu đã khiến sức chiến đấu của quân đội Sài Gòn chẳng những giảm mà
còn đẩy tình hình kinh tế, xã hội của chế độ Sài Gòn càng lâm vào tình trạng
khó khăn. Trong vùng ngụy quyền kiểm soát giá cả ngày càng tăng vọt, nhất là
dầu và gạo. Hai triệu người bị thất nghiệp. Để đối phó với nạn lạm phát, ngày
1/7/1973, Thiệu cho ban hành thuế “trị giá gia tăng” (T.V.A). Biện pháp này
làm cho giá cả càng tăng, đời sống nhân dân thêm điêu đứng, nhất là người lao
động. Ngày 13/7/1973, hơn 500.000 biểu tình đòi bỏ thuế T.V.A. Ngày
9/8/1973, Thiệu phải nhượng bộ, ra quyết định hủy bỏ thuế này trong một số
ngành. Với cuộc khủng hoảng kinh tế ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống gia đình
binh sĩ ngụy. Bởi thu nhập của gia đình binh sĩ dựa vào dịch vụ quân đội Mỹ lúc

định như chúng đã cam kết trong hiệp định hay không? Hay là chúng lại có
những bước đi mới nhằm phá hoại hiệp định để ngăn cẳn sự thống nhất của đất
nước ta. Điều đó là một dấu hỏi vô cùng cấp thiết đối với nhân dân ta cũng như
nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới.
Trên thực tế, trước khi kí kết Hiệp ước hòa bình với ta, đế quốc Mỹ và tay
sai đã có những hoạt động chuẩn bị cho việc phá hoại Hiệp định Pari. Khi Hiệp
định Pari có hiệu lực, mặc dù ta đã có những dự kiến địch sẽ tổ chức phá hoại
Hiệp định nhưng công tác tư tưởng và tổ chức còn nhiều sơ hở. Có nhiều cán bộ
và nhân dân ta có nhiều hướng tin vào khả năng thi hành Hiệp định cũng giống
như sau khi ta kí kết Hiệp định Giơnevơ với Pháp trước đó. Trái với mong
muốn của đông đảo quần chúng nhân dân, chúng không những không thực thi
hiệp định mà còn vi phạm trắng trợn những điều khoản của Hiệp định Pari, cho
nên trên chiến trường vẫn chưa im tiếng súng.
Khi Hiệp định Pari được kí kết, Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chính
phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra lời kêu gọi đồng bào ta trên cả hai miền
cần phải: “Tăng cường đoàn kết, luôn luôn đề cao cảnh giác, ra sức phấn đấu để
củng cố những thắng lợi đã giành được, giữ vững hòa bình lâu dài, hoàn thành độc
lập, dân chủ ở miền Nam, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc” [13;27].
Cuối tháng 1/1973, Bộ Chính trị họp đề ra chủ trương: “Kiên quyết giữ
vững hòa bình, không chủ động gây ra xung đột quân sự, gây ra nội chiến, ra
sức phát huy thắng lợi đã giành được, củng cố và tăng cường thế lực mọi mặt,
tranh thủ thuận lợi mới, khả năng mới để đưa cách mạng tiến lên bằng cao trào
chính trị, có lực lượng vũ trang làm hậu thuẫn” nhưng “nhất thiết lực lượng vũ
trang ta phải mạnh và luôn luôn sẵn sàng chiến đấu. Bất kể trong tình huống
nào, địch gây hấn trở lại nhất định phải bị giáng trả đích đáng và ta sẽ giành
13


được thắng lợi hoàn toàn” [13;28]. Đồng thời trong tháng 1, Bộ Chính trị cũng
thông qua nghị quyết của Quân ủy Trung ương dự kiến sự phát triển tình hình và

giáp sơn ký hiệu của Ủy ban quốc tế, Ủy ban liên hiệp quân sự xâm phạm vùng
giải phóng của ta, trong khi không ngớt vu cáo ta vi phạm hiệp định.
14


Trước những hành động vi phạm các điều khoản Hiệp định Pari một cách
có hệ thống và ngày càng nghiêm trọng của Mỹ và chính quyền, quân đội Sài
Gòn, cuộc họp Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng mở rộng ngày
24/5/1973, bàn về các vấn đề cách mạng miền Nam, đã chỉ rõ: “Trong khi địch
dùng hành động quân sự đánh ta, ta vẫn cần phải chủ động tiến công địch, kết
hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và pháp lý… Tiến công quân sự
bằng phản công của ta là chủ động, chỉ có qua đó mà từng bước đánh bại mọi
hành động vi phạm của địch” [4;56].
Quán triệt Nghị quyết của Bộ Chính trị mở rộng, Quân ủy Trung ương đã
kịp thời chỉ đạo các chiến trường: “Tiến công quân sự bằng phản công của quân
ta là chủ động tiến công, chủ động phản công, không phòng ngự đơn thuần.
Không những phản công ở địa bàn địch tiến công ta, mà còn hiệp đồng với các
lực lượng chính trị, quân sự, binh vận phản công ở các địa bàn khác, nơi ta có
chủ lực mạnh” [4;67].
Hội nghị lần thứ 21 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp ở Hà Nội
đã đưa ra hàng loạt các vấn đề lớn, có tính cấp thiết và từng bước giải quyết
như: liệu chính quyền Sài Gòn có nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Pari đã kí
hay không? Ta có thể đi đến thống nhất đất nước bằng còn đường hòa bình hay
không?... Bên cạnh đó, Hội nghị còn khẳng định “Con đường của cách mạng
miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Bất kể trong tình hình nào, ta cũng
phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công và chỉ đạo linh
hoạt để đưa cách mạng miền Nam tiến lên” [13;52].
Cũng tại Hội nghị này, Ban Chấp hành Trung ương đã đề ra nhiệm vụ
trước mắt của cách mạng miền Nam là đẩy mạnh đấu tranh trên cả ba mặt trận:
chính trị, quân sự, ngoại giao; nhiệm vụ của miền Bắc là ra sức chi viện chiến

Ở Tây Nguyên, Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên cũng chủ trương: “Nhanh
chóng xây dựng căn cứ và vùng giải phóng, xây dựng hậu phương quân đội, đặc
biệt là xây dựng kinh tế, phát triển sản xuất tăng nhanh tiềm lực kinh tế và tiềm
lực quân sự tại chỗ để đánh thắng địch trong bất kì hoàn cảnh nào” [13;66].
Trong năm 1973, vượt qua những vấp váp, khuyết điểm ban đầu, dưới sự
lãnh đạo đúng đắn, kịp thời của Trung ương Đảng và các cấp ủy địa phương,
quân và dân ta trên các chiến trường miền Nam đã nỗ lực cao độ, vừa chiến đấu
chống địch càn quét, lấn chiếm, vừa tạo sự ổn định về tư tưởng, tổ chức, mau
chóng triển khai thế trận phản công và tiến công của địch. Chính nhờ sự chuyển
hướng kịp thời, đúng lúc giúp quân và dân miền Tây Nam Bộ đánh tan cuộc
hành quân lấn chiếm lâu dài nhất của 75 tiểu đoàn địch ở Chương Thiện.
Năm 1973, khép lại với những thắng lợi quan trọng của quân và dân ta trên
toàn chiến trường miền Nam; cục diện chiến trường xoay chuyển ngày càng có lợi
cho ta, bất lợi cho địch. Bên cạnh đó những thuận lợi mới cơ bản thúc đẩy phong
trào đấu tranh chính trị vươn dậy mạnh mẽ, vững chắc. Đây cũng là những điều
kiện thuận lợi thúc đẩy cuộc kháng chiến của ta tiến lên giành nhiều thắng lợi.
16


Thắng lợi của quân và dân ta trong nửa cuối năm 1973 là điều tất yếu cho
sự chiến đấu dũng cảm của nhân dân ta chống lại âm mưu, thủ đoạn của chính
quyền Sài Gòn. Điều này đã tạo thêm điều kiện thuận lợi mới cho sự phát triển
của cách mạng miền Nam, cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Để đáp ứng những chuyển biến mới của chiến trường miền Nam, đồng
thời thực hiện thắng lợi nhiệm vụ mà Nghị quyết lần thứ 21 của Hội nghị Ban
Chấp hành Trung ương Đảng đã đề ra từ tháng 10/1973, Bộ Chính trị và Quân
ủy Trung ương đã họp bàn. Sau nhiều cuộc họp bàn, Quân ủy Trung ương đã
xác định nhiệm vụ của quân và dân ta trong năm 1974 là: “Tiếp tục đẩy mạnh
tiến công đánh bại một bước quan trọng của kế hoạch bình định lấn chiếm phân
tuyến của địch, giành dân, giành quyền làm chủ ở đồng bằng và vùng ven đông

Tổng cục Hậu cần đã đi thực tế chiến trường miền Nam để chuẩn bị kế hoạch
chi viện trong vòng 3 năm từ 1973 - 1975. Điều này đã cho thấy tầm quan trọng
của công tác Hậu cần trong việc đánh bại âm mưu mới của kẻ thù cũng như
trong việc đáp ứng nhu cầu cho quá trình cuộc Tổng tiến công và nổi dậy sau
này của quân và dân miền Nam.
Trong thời gian này ta đã đưa vào chiến trường miền Nam số lượng bộ
đội và khí tài lớn: “đến tháng 9/1973, hậu phương lớn miền Bắc đã đưa vào
chiến trường miền Nam 140.000 tấn hàng, nhiều gấp 4 lần năm 1972. Trong số
các mặt hàng này, có 80.000 tấn hàng quân sực và 10.000 tấn hàng dự trữ (chủ
yếu là vũ khí). Bên cạnh đó, nửa đầu năm 1973, hơn 10 vạn cán bộ chiến sĩ cùng
nhiều sư đoàn, trung đoàn pháo binh, xe tăng, xe thiết giáp từ miền Bắc hành
quân vào Nam, bổ sung cho chiến trường” [13;161]. “Trong các năm 1973 1975, ta chuyển vào Quân khu Trị Thiên đến 29.139 tấn vật chất, trong đó có
2.000 tấn vũ khí, đạn dược. Ở chiến trường Quân khu 5, từ năm 1973 đến đầu
năm 1975, lực lượng vũ trang đã nhận được 77.036 tấn hàng (trong đó 10.689
tấn vũ khí, đạn dược; 5.296 tấn xăng dầu, 36.331 tấn lương thực, thực phẩm”
[6;38 - 39].
Với những vũ khí, bộ đội mà miền Bắc chi viện đã giúp quân và dân ở
chiến trường miền Nam phá tan âm mưu của địch, từng bước đấu tranh để đi đến
đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Sự chi viện của hậu
phương lớn miền Bắc đã làm thay đổi tình hình ở miền Nam, quân dân ta đủ sức
mạnh tiến tới những trận đánh quyết định giải phóng hoàn hoàn miền Nam
thống nhất đất nước.
1.2. Tƣơng quan lực lƣợng ở Tây Nguyên
1.2.1. Phía địch
Tây Nguyên thuộc dải đất phía tây miền Trung Trung Bộ, là vùng cao
nguyên, rừng núi nối tiếp nhau theo hướng bắc nam. Bắc Tây Nguyên, núi cao
rừng rậm hiểm trở, nam Tây Nguyên (từ đường 19 trở vào) địa hình bằng phẳng
hơn. Tây Nguyên gồm các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Phú Bổn, Quảng
Đức. Đường 14 dọc từ bắc xuống nam, nối các thị xã của Tây Nguyên xuống
miền Đông Nam Bộ. Các con đường 21, 19, 7 nối Tây Nguyên với các tỉnh đồng

chiếm đóng lâu dài, còn dùng Tây Nguyên làm khu vực án ngữ để ngăn chặn ta
ở phía tây và tây - bắc, làm cánh cửa phía tây để bảo đảm cho các tỉnh ven biển
miền Trung, đồng thời làm bức bình phong phía tây - bắc để che trở cho miền
Đông Nam Bộ. Tuyến Tây Nguyên bị phá vỡ thì các tỉnh ven biển sẽ bị uy hiếp
trực tiếp và có thể bị mất ngay theo, nếu như không có lực lượng dự bị chiến
lược hùng hậu chiếm giữ hoặc phản kích. Mất Tây nguyên không những thế trận
phòng ngự của địch ở quân khu 1 bị rung động mà quân địch ở miền Đông Nam
Bộ cũng bị đe dọa. Chính vì vậy trong khi tích cực thực hiện chiến lược chung là
19


“quét và giữ”, đi đôi với biện pháp lấy bình định và lấn chiếm làm chủ yếu, địch
còn ra sức tăng cường củng cố phòng ngự ở Tây Nguyên: tổ chức phòng ngự
khu vực gồm các cụm điểm tựa, các khu căn cứ, thị trấn, thị xã và các tuyến giao
thông… liên kết với nhau. Toàn quân khu 2 ngụy có 2 sư đoàn bộ binh chủ lực,
7 liên đoàn biệt động quân, 5 thiết đoàn xe tăng - xe bọc thép, thì riêng ở Tây
Nguyên chúng đã bố trí tới 1 sư đoàn bộ binh chủ lực, 7 liên đoàn biệt động
quân và 4 thiết đoàn xe tăng - xe bọc thép. Sở chỉ huy quân đoàn 2 cũng đặt ở
Tây Nguyên (Plâycu).
Như vậy, Tây Nguyên rõ ràng là một địa bàn chiến lược hiểm yếu trong thế
trận phòng ngự chiến lược chung của Mỹ - ngụy ở miền Nam. Nhưng, nếu xét về
lực lượng phòng giữ thì Tây Nguyên lại là một chiến trường yếu so với các tuyến
phòng ngự chiến lược khác, mặc dù chúng đã dải phần lớn quân chủ lực của quân
khu 2 ra bố trí ở đây.
Quân khu 2 có 2 sư đoàn chủ lực và 7 liên đoàn biệt động quân; 14 tiểu
đoàn và một số đại đội, trung đội pháo gồm 328 khẩu; 5 thiết đoàn và 13 chi
đội xe tăng - xe bọc thép gồm 477 xe, 2 sư đoàn không quân gồm 138 máy
bay chiến đấu. Lực lượng địch ở Quân khu 2 không nhiều nhưng chúng đã rải
ra trên Tây Nguyên một sư đoàn chủ lực cùng Sở chỉ huy Quân đoàn 2, 7 liên
đoàn quân biệt động, 36 tiểu đoàn bảo an, 4 thiết đoàn, 230 khẩu pháo, 1 sư

ở cao điểm Kon Rốc, tiêu diệt một tiểu đoàn và 2 đại đội. Tiếp đó, hai quận lỵ
Đắc Pét và Mang Đen cũng bị Sư đoàn 10 đánh chiếm. Phối hợp với đòn tiến
công của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương Kon Tum bức rút địch ở quận lỵ
Măng Bút, ép địch sát vào thị xã Kon Tum, giải phóng một vùng phía bắc thị xã
Kon Tum, tạo ra thế đứng chân vững chắc cho các đơn vị quân giải phóng.
Trước yêu cầu của nhiệm vụ trong thời kỳ mới, từ tháng 6/1974, Đảng ủy
Mặt trận Tây Nguyên đã ra nghị quyết về xây dựng khối chủ lực Tây Nguyên
theo hướng tổ chức thành quân đoàn chiến dịch, đảm bảo cho khối chủ lực này
có khả năng tác chiến hiệp đồng binh chủng và có sức cơ động cao. Theo hướng
đó, các sư đoàn bộ binh được bổ sung thêm quân số và tăng thêm trung đoàn
pháo binh. Lực lượng pháo binh của mặt trận được tổ chức thành 2 trung đoàn
hoàn chỉnh. Lực lượng phòng không được tổ chức thành 2 trung đoàn (234 và
575). Trung đoàn 198 đặc công, Trung đoàn 273 xe tăng, Trung đoàn 29 thông
tin đều được bổ sung thêm quân số, vũ khí,trang bị, khí tài hiện đại. Đảm bảo
đường cơ động và đường vận chuyển vật chất từ bắc xuống nam Tây Nguyên.
Những yếu tố trên góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu của bộ đội ta.
1.3. Chủ trƣơng, kế hoạch giải phóng Tây Nguyên của Trung ƣơng
Những thắng lợi liên tiếp của quân và dân ta cuối năm 1974 đặc biệt là
chiến thắng đường số 14 - Phước Long ngày 6/1/1975 đã cho thấy sự suy yếu
của chính quyền Sài Gòn. Bên cạnh đó tình hình thế giới đã có những thuận lợi
cho cách mạng Việt Nam khi Mỹ ngày càng suy giảm vị thế trên trường quốc tế
và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới ủng hộ cho cách mạng Việt Nam.
21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status