Đại cương về môi trường II - Pdf 38

Phần II
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
Ô nhiễm MT là sự thay đổi thành phần và tính chất của MT, có hại cho các hoạt
động sống bình thường của con người và sinh vật.
Nguyên nhân gây ô nhiễm MT có thể là các hoạt động của con người hoặc các quá
trình tự nhiên.
Chương VI
Ô NHIỄM NƯỚC
6.1. Khái niệm chung về ô nhiễm nước
Ô nhiễm nước là sự thay đổi thành phần và tính chất nước, có hại cho hoạt động
sống bình thường của sinh vật và con người, bởi sự có mặt của một hay nhiều chất lạ vượt
qua ngưỡng chịu đựng của sinh vật. Theo Hiến chương Châu Âu về nước đã định nghĩa về
ô nhiễm nước như sau:
"Sự ô nhiễm nước là một biến đổi chủ yếu do con người gây ra đối với chất lượng
nước, làm ô nhiễm nước và gây nguy hại cho việc sử dụng, cho công nghiệp,nông nghiệp,
nuôi cá, nghĩ ngơi- giải trí, cho động vật nuôi cũng như các loài hoang dại".
“Việc thải các chất thải hoặc nước thải sẽ gây ô nhiễm vật lý, hóa học, hữu cơ,
nhiệt, phóng xạ. Việc thải đó phải không gây nguy hiểm đối với sức khỏe cộng đồng và
phải tính đến khả năng đồng hóa các chất thải đó của nước (khả năng pha loãng, tự làm
sạch…). Những hoạt động kinh tế, xã hội của các cộng đồng, những biện pháp xử lý nước
đóng vai trò rất quan trọng trong vấn đề này”.
6.2 Nguồn gốc gây ô nhiễm môi trường nước
Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên và nhân tạo:
- Nguồn gốc tự nhiên: Do mưa, tuyết tan, gió, bão, lũ lụt. Ô nhiễm này còn được gọi
là ô nhiễm không xác định nguồn gốc.
- Nguồn gốc nhân tạo: Là sự thải các chất độc hại chủ yếu dưới dạng lỏng, chủ yếu
do xả nước thải từ các vùng dân cư, khu công nghiệp, hoạt động giao thông vận tải, thuốc
trừ sâu, diệt cỏ, phân bón trong nông nghiệp.
Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm, người ta phân ra các loại ô nhiễm nước:
- Ô nhiễm vô cơ,
- Ô nhiễm hữu cơ,

19
20
BOD
5
20
(nhu cầu ôxy nhi sinh học)
COD (nhu cầu ôxy hóa học)
Tổng chất sắt
Chất rắn lơ lững
Rác vô cơ (kích thước>0,2mm)
Dầu mỡ
Kiềm (theo CaCO
3
)
Cl
-
Tổng Nitơ (theo N)
Nitơ hữu cơ
Amoni tự do
Nitrit (NO
2
-
)
Nitrat (NO
3
-
)
Tổng phốtpho
P vô cơ
P hữu cơ

6
-10
9
10
5
-10
6
Nguồn gây ô nhiễm
môi trường nước
Tự nhiên
- Lũ, lụt
- Phân huỷ xác động
thực vật trong môi
trường nước.
- Phú dưỡng tự nhiên.
- Các hiện tượng ô nhiễm
nước ngầm do nguyên
nhân tự nhiên như Asen,
dầu mỏ…
Nhân tạo
- Công nghiệp: công
nghiệp thực phẩm, chế
biến, hoá chất, luyện kim,
khoáng sản,...
- Nông nghiệp: nhiễm bẩn
bởi hoá chất bảo vệ thực
vật, phú dưỡng…
- Sinh hoạt và dịch vụ:
nước thải sinh hoạt khu đô
thị, khu dân cư, các ngành

Hg...đi vào nguồn nước ngầm.
- Chất thải dưới dạng rắn
Chất thải dưới dạng rắn là một nguồn gây ô nhiễm cho nước mặt và nước ngầm.
Thông thường nước thải bao gồm các chất rắn được thải ra mặt đất, các vùng đất này nếu
có các khe nứt thì phần lớn các chất thải, cặn bã dưới dạng rắn sẽ theo nước thải tích đọng
vào đất và đi xuống nước ngầm làm giảm chất lượng nước.
6.2.1.2. Nguồn nhiễm bẩn do các hoạt động công nghiệp
Nước được sử dụng trong công nghiệp dễ làm lạnh, làm vệ sinh, sản xuất và gia
công các sản phẩm. Trong quá trình đó có rất nhiều chất độc hại, các chất cặn bã bị thải ra.
Các loại này có thể thải trực tiếp bằng dòng chảy bề mặt ra các hệ thống sông suối và có thể
tạo nồng độ chất độc hại cao.
Cùng với sự phát triển cao của nền công nghiệp, tình hình nhiễm bẩn nguồn nước từ
các nước đang phát triển đang được quan tâm.
Thành phố Việt Trì hàng năm đổ ra sông Hồng khoảng 4 triệu m
3
nước thải công
nghiệp; 2,8 triệu m
3
nước thải sinh hoạt.
Các khu nhà máy giấy Bãi Bằng và superphotphat Lâm Thao đổ ra sông 100.000
m
3
/ngày, độ pH<4,0; hàm lượng các chất hữu cơ như NH
4
+
, NO
2
-
tăng cao hơn 3-3,5 lần.
Nước thải tại Khu gang thép Thái Nguyên có hàm lượng COD từ 1.032-5.533 mg/l,

6.2.2. Nguồn gốc tự nhiên
Nguồn tự nhiên gây ô nhiễm môi trường nước chủ yếu do sự tác động qua lại giữa
các thành phần môi trường, các quá trình địa hóa, do thời tiết như: mưa lũ làm rửa trôi bùn
đất, chất thải rắn đưa vào môi trường nước làm cho nước bị ô nhiễm bởi các tác nhân vật
lý: màu, mùi, độ đục, làm giảm chất lượng sử dụng nước, ảnh hưởng tới các thủy sinh vật.
Hiện tượng ô nhiễm môi trường nước lớn nhất hiện nay trên thế giới là sự ô nhiễm
Asen (thạch tín) trên phạm vi toàn cầu với hàng trăm triệu ngượi bị phơi nhiễm do sử dụng
nước có nồng độ Asen cao quá tiêu chuẩn hướng dẫn của WHO trong thời gian dài (tiêu
chuẩn hướng dẫn là 10ppb). Việt Nam là một trong những nước được xác định là khu vực
có mức độ và phạm vi ô nhiễm Asen lớn trên thế giới. Ô nhiễm Asen trong nước ngầm do
nguyên nhân tự nhiên, các quá trình phong hóa đá, rửa trôi trầm tích có chứa Asen sẽ tích tụ
theo thời gian ở các vùng đồng bằng châu thổ và làm tăng hàm lượng Asen trong nước
ngầm, trong khi đó nước ngầm là nguồn nước sử dụng cho sinh hoạt và ăn uống chiếm tỷ lệ
cao.
6.3. Tác nhân gây ô nhiễm môi trường nước
Các chất gây ô nhiễm nước có thể được phân chia theo nguồn gốc, có nhiều tác nhân
ô nhiễm môi trường nước, tuy nhiên có một số tác nhân chính được trình bày theo bảng
sau.
Bảng 2.2. Một số tác nhân chính gây ô nhiễm môi trường nước
Loại tác nhân Tác động
- Các nguyên tố vi lượng
- Kim loại nặng
- Hợp chất cơ kim
- Phóng xạ hạt nhân
- Chất vô cơ
- Amiăng
- Phú dưỡng
- Kiềm, axit, trầm tích (vượt tiêu chuẩn)
- Chất hữu cơ
- PCBs

được quan tâm hiện nay.
6.3.2. Kim loại nặng
Kim loại nặng là những kim loại có tỷ khối ≥ 5 g/cm
3
. Nhóm các kim loại nặng gây
ô nhiễm môi trường nước gồm có Cadimi, chì, thuỷ ngân,…
- Cadimi: Cadimi gây ô nhiễm môi trường nước từ sự thải bỏ trong sản xuất công nghiệp
nói chung và ngành khai thác khoáng sản nói riêng. Về tính chất hoá học, Cadimi gần giống
với kẽm, hai nguyên tố này có quy trình địa hoá gần giống nhau. Tác động của Cadimi lên
sức khoẻ con người là rất nguy hiểm, gây tăng huyết áp, phá huỷ mô tế bào máu, đặc biệt là
hồng cầu.
- Chì : Chì gây ô nhiễm môi trường nước, sự tiêu thụ nhiên liệu hoá thạch, ngành khai thác
khoáng sản, đặc biệt là vàng. Chì có tác động xấu đến các chức năng của gan, não, đặc biệt
ở trẻ em.
- Thuỷ ngân: Thuỷ ngân được tìm thấy trong nhiều khoáng sản thông thường trên trái đất,
các đa khoáng chiếm một lượng thuỷ ngân trung bình là 80 ppm. Các nhiên liệu hóa thạch
như than đá, than bùn thường chứa tới 100 ppb hoặc cao hơn. Thuỷ ngân hữu cơ có độc
tính cao hơn dạng vô cơ và thường được sử dụng trong nhiều sản phẩm thuốc trừ sâu, diệt
nấm. Trong giai đoạn từ năm 1953 đến 1960, tại vịnh Minamata, Nhật Bản có tổng số 43
người tử vong trong tổng số 111 người nhiễm độc thuỷ ngân, nồng độ thuỷ ngân trong cá
khoảng 5-10 ppm.
6.3.3. Các chất hữu cơ
Các chất hữu cơ tổng hợp như chất dẻo, chất màu, thuốc trừ sâu, chất phụ gia,…
được sử dụng nhiều trong thế kỉ 20. Hiện nay, các chất này vẫn đóng vai trò quan trọng đối
với con người. Tuy nhiên, các chất này độc và khó phân huỷ sinh học, đặc biệt là nhóm
chất hữu cơ chứa vòng thơm, các hợp chất cơ kim, cơ clo và cơ phốtpho.
- Hoá chất bảo vệ thực vật: Hiện có hơn 10.000 loại hoá chất bảo vệ thực vật khác
nhau bao gồm thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thuốc diệt nấm, kí sinh trùng… và các loại phân
bón vô cơ. Các hoá chất bảo vệ thực vật thường là các hợp chất cơ clo, cơ phốtpho và cơ
kim do đó độc tính cao, tồn tại lâu trong môi trường đất và bị rửa trôi tích luý trong môi

3
-
, H
+
, OH
-
.
2. Độ cứng: phụ thuộc vào nồng độ Ca
+
, Mg
+
, nước có độ cứng < 50 mg/l là nước
mền, độ cứng trung bình từ 50 – 100 mg/l. Độ cứng cao ảnh hưởng tới thời gian sư
dụng và tính an toàn của nồi hơi.
3. Độ đục: bao gồm các hạt rắn có nguồn gốc vô cơ và hữu cơ tồn tại ở trạng thái lơ
lửng trong nước, làm giảm tính thấu quang của nước.
4. Chất rắn tổng số (Tss): tính bằng lượng chất rắn còn lại sau khi sấy 1l nước ở
105
0
C.
5. Hàm lượng oxy hoà tan (DO): là lượng oxy hoà tan trong một đơn vị thể tích
nước. Chỉ số DO có ý nghĩa rất lớn đối với thuỷ sinh vật.
6. Nhu cầu oxy sinh hoá (BOD): là lượng oxy cần thiết để sinh vật oxy hoá các chất
ô nhiễm hữu cơ (chất dễ phân huỷ sinh học).
7. Nhu cầu oxy hoá hoá học (COD): là lượng oxy cần thiết để oxy hoá hoàn toàn
chất hữu cơ (dễ phân huỷ sinh học + khó phân huỷ sinh học).
8. Nitơ tổng số: là tổng lượng các hợp chất của Nitơ trong nước như NH
4
+
, NO

đáy thuỷ vực, sự phát triển mạnh mẽ của tảo và nở hoa tảo, sự kém đa dạng của các sinh
vật nước, đặc biệt là cá, nước có màu xanh đen hoặc đen, có mùi khai thối do thoát khí
H
2
S,... Nguyên nhân của sự phú dưỡng là sự thâm nhập một lượng lớn N, P từ nước thải
sinh hoạt của các khu dân cư, sự đóng kín và thiếu đầu ra của mặt hồ.
6.5.2. Ô nhiễm kim loại nặng và các hoá chất độc hại: Thể hiện bởi nồng độ cao của các
kim loại nặng trong nước. Nguyên nhân chủ yếu là do nước thải công nghiệp và nước thải
độc hại không xử lý hoặc xử lý không đạt yêu cầu mà cho vào môi trường. Hậu quả là
chúng tích luỹ theo chuổi thức ăn thâm nhập vào cơ thể người .
6.5.3. Ô nhiễm vi sinh vật: Các loại vi khuẩn, ký sinh trùng, sinh vật gây bệnh cho người
và động vật lan truyền vào MT nước mặt, gây ra các loại dịch bệnh cho các khu vực dân cư
tập trung.
6.5.4. Ô nhiễm nguồn nước bởi thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hoá học: Khi bón
phân và phun thuốc bảo vệ thực vật, một lượng đáng kể không được cây trồng tiếp nhận,
chúng sẽ lan truyền và tích luỹ trong đất, nước và các sản phẩm nông nghiệp dưới dạng dư
lượng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật.
Các con sông ở Việt Nam đang trở thành nơi tiếp nhận thường xuyên chất thải lỏng
từ hoạt động công nghiệp và các khu đô thị. Riêng các khu công nghiệp phía nam mỗi ngày
thải 137.000 m
3
nước thải có chứa 93 tấn chất thải ra các hệ thống sông Đồng Nai, Thị Vải,
Sài Gòn. Để khắc phục hậu quả, theo ước tính cần khoảng 870 triệu USD vào năm 2010.
Hầu hết các hồ ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh đều bị ô nhiễm nặng, BOD cao, DO rất thấp.
Bảng 2.3. Một số sông hồ ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh bị ô nhiễm
(
Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam 2003
)
6.6. Ô nhiễm và suy thoái nước ngầm
Nước ngầm là một dạng nước dưới đất, tích trữ trong các lớp đất đá trầm tích bở rời

1995 2 202
1996 7 68.300
1997 4 2.450
1998 6 12.900
1999 10 7.600
2000 2 45
2001 3 Xấp xỉ 900
6/2002 1 24
(Nguồn: Cục BVMT, báo cáp HTMT năm 2002)
Chương VII
Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ
7.1. Khái niệm chung về ô nhiễm không khí
Chúng ta không được biết thành phần của không khí sạch. Nhân loại đã sống trên
hành tinh này hàng nghìn năm và gây ảnh hưởng đến thành phần của không khí khí quyển
thông qua những hoạt động của mình trước khi chúng ta có khả năng đo đạc thành phần của
nó một cách khả dĩ.
Không khí là một sự pha trộn phức tạp được tạo bởi nhiều hóa chất thành phần.
Những thành phần cơ bản của không khí là:
- Nitơ (N2) chiếm khỏang 78 %,
- Oxi (O2) khỏang 21% và hơi nước ( H
2
O). Trong không khí, Nitơ và Ôxy chiếm
khoảng 99%,
- Một phần trăm còn lại bao gồm những số lượng vết của những chất khí như:
Cacbonic (CO
2
), Metan (CH
4
), Hydro (H
2

- Dạng khí bao gồm những chất như: khí oxyt cacbon (CO), Sunfua dioxit (SO
2
),
oxyt nitơ (NO
2
) và những hợp chất hữu cơ hay dễ bay hơi (VOCs) . . .
Những chất gây ô nhiễm có thể cũng được phân loại thành những chất gây ô nhiễm sơ
cấp hoặc chất gây ô nhiễm thứ cấp:
+ Một chất gây ô nhiễm sơ cấp, là chất ô nhiễm được phát thải vào trong khí
quyển trực tiếp từ nguồn thải chất gây ô nhiễm đó và giữ nguyên dạng hóa học của
nó trong khí quyển.
+ Chất gây ô nhiễm thứ cấp, được hình thành bởi những phản ứng trong khí quyển
của chất gây ô nhiễm sơ cấp ban đầu.
Các chất và tác nhân gây ô nhiễm không khí:
+ Các loại oxit như: NO, NO
2
, SO
2
, CO, H
2
S và các loại khí halogen (clo, brom,
iôt).
+ Các hợp chất flo.
+ Các chất tổng hợp (ête, benzen).
+ Các chất lơ lửng (bụi rắn, bụi lỏng, bụi vi sinh vật), nitrat, sunfat, các phân tử
cacbon, sol khí, muội, khói, sương mù, phấn hoa.
+ Các loại bụi nặng, bụi đất, đá, bụi kim loại như đồng, chì, sắt, kẽm, niken, thiếc,
cađimi...
+ Khí quang hoá như ozôn, FAN, FB2N, NOX, anđehyt, etylen...
+ Chất thải phóng xạ.

- Núi lửa: Núi lửa phun ra những nham thạch nóng và nhiều khói bụi giàu sunfua,
mêtan và những loại khí khác.
- Cháy rừng: Các đám cháy rừng và đồng cỏ bởi các quá trình tự nhiên xảy ra do
sấm chớp,
- Bão bụi: Gây nên do gió mạnh và bão, mưa bào mòn đất sa mạc, đất trồng và gió
thổi tung lên thành bụi.
- Nước biển bốc hơi và cùng với sóng biển tung bọt mang theo bụi muối lan truyền
vào không khí.
- Các quá trình phân huỷ, thối rữa xác động, thực vật tự nhiên cũng phát thải nhiều
chất khí, các phản ứng hoá học giữa những khí tự nhiên hình thành các khí sunfua, nitrit,
các loại muối v.v...
Các loại bụi, khí này đều gây ô nhiễm không khí.
7.3.2. Nguồn gốc nhân tạo
- Hoạt động công nghiệp;
- Đốt cháy nhiên liệu hoá thạch và
- Hoạt động của các phương tiện giao thông;
- Hoạt động trong nông nghiệp;
- Hoạt động xây dựng;
- Từ nước thải, rác thải…
7.4. Các tác nhân gây ô nhiễm không khí và sự tác động của chúng
 Các loại axit như : NO, NO
2
, SO
2
, CO, H
2
S;
 Các loại khí halogen ( Clo, Brom, Iôt)
 Các hợp chất Flo
 Các chất tổng hợp ( ête, benzen)

sóng dài trong khí quyển là khí CO
2
, bụi, hơi nước, khí mêtan, khí CFC v.v...
"Kết quả của sự của sự trao đổi không cân bằng về năng lượng giữa trái đất với
không gian xung quanh, dẫn đến sự gia tăng nhiệt độ của khí quyển trái đất. Hiện tượng
này diễn ra theo cơ chế tương tự như nhà kính trồng cây và được gọi là Hiệu ứng nhà
kính".
Các biểu hiện của sự biến đổi khí hậu trái đất gồm:
 Sự nóng lên của khí quyển và trái đất nói chung.
 Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của
con người và các sinh vật trên trái đất.
 Sự dâng cao mực nước biển do tan băng dẫn tới sự ngập úng của các vùng đất
thấp, các đảo nhỏ trên biển.
 Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau
của trái đất dẫn tới nguy cơ đe doạ sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và
hoạt động của con người.
 Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần
hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác.
 Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của
thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển
7.6.2. Tầng Ôzôn
Khí Ôzôn gồm 3 nguyên tử Oxy (O
3
). Tầng bình lưu nằm trên tầng đối lưu với ranh
giới trên dao động trong khoảng độ cao 50 km. Ở độ cao khoảng 25 km trong tầng bình lưu
tồn tại một lớp không khí giàu khí Ôzôn thường được gọi là tầng Ôzôn. Hàm lượng khí
Ôzôn trong không khí rất thấp, chiếm một phần triệu, chỉ ở độ cao 25 - 30 km, khí Ôzon
mới đậm đặc hơn (chiếm tỉ lệ 1/100.000 trong khí quyển). Người ta gọi tầng khí quyển ở
độ cao này là tầng Ôzôn.
Nếu tầng Ôzôn bị thủng, một lượng lớn tia tử ngoại sẽ chiếu thẳng xuống Trái đất.

F
2
Cl + CClF
2
Diclodiflometan nguyen tử Clo Clodiflomethyl
Cl + O
3
ClO + O
2

Oxyt monoclorua
AS
 Vì tầng ôzôn hấp thụ tia cực tím từ mặt trời, giảm sút tầng ôzôn dự đoán sẻ cường
độ tia cực tím ở bề mặt Trái Đất, có thể dẫn đến nhiều thiệt hại bao gồm cả gia
tăng bệnh ung thư da.
 Các tia bức xạ cực tím có năng lượng cao được hấp thụ bởi ôzôn được công nhận
chung là một yếu tố tham gia tạo thành các khối u ác tính (ung thư da). Thí dụ như
theo một nghiên cứu, tăng 10% các tia cực tím có năng lượng cao được liên kết với
tăng 19% các khối u ác tính ở đàn ông và 16% ở phụ nữ.
 Tăng cường bức xạ tia cực tím có thể cũng ảnh hưởng đến mùa màng. Sản lượng
nhiều loại cây trồng có tầm quan trọng về kinh tế như lúa phụ thuộc vào quá trình
cố định nitơ của vi khuẩn lam cộng sinh ở rễ cây. Mà vi khuẩn lam rất nhạy cảm
với ánh sáng cực tím và có thể bị chết khi hàm lượng tia cực tím gia tăng.
7.6.3. Mưa axit
Mưa axit là gì?
Mưa axit được phát hiện ra đầu tiên vào năm 1948 tại Thuỵ Điển. Nguyên nhân là vì
con người đốt nhiều than đá, dầu mỏ. Trong than đá và dầu mỏ thường chứa một lượng lưu
huỳnh, còn trong không khí lại rất nhiều khí nitơ. Trong quá trình đốt có thể sinh ra các khí
Sunfua đioxit (SO
2

cảnh quan, chiếm dụng đất làm bãi thải,...
8.2. Nguồn gốc gây ra ô nhiễm môi trường đất
8.2.1. Ô nhiễm đất bởi các tác nhân sinh học
Do dùng phân hữu cơ trong nông nghiệp chưa qua xử lý các mầm bệnh, ký sinh
trùng, vi khuẩn đường ruột,... đa gây ra các bệnh truyền từ đất cho cây sau đó sang người
và động vật.
Đất được coi là nơi lưu giữ các mầm bệnh. Trước hết là các nhóm trực khuẩn và
nguyên sinh vật gây bệnh đường ruột: trực khuẩn lỵ, thương hàn và phó thương hàn, phẩy
khuẩn tả, lỵ amíp, xoắn trùng vàng da, trực trùng than, nấm, bệnh uốn ván,... Tiếp đến là
các bệnh ký sinh như giun, sán lá, sán dây, ve bét,...
Ở các nước đang phát triển, ô nhiễm đất bởi các tác nhân sinh học rất nặng vì không
có đủ điều kiện diệt mầm bệnh trước khi đưa chúng trở lại đất. Các bệnh dịch lây lan rộng
như bệnh đường ruột, bệnh ký sinh trùng,... lan truyền theo đường: người - đất - người;
động vật nuôi - đất - người; đất - người.
8.2.2. Ô nhiễm đất bởi các tác nhân hóa học
Chất thải từ các nguồn thải công nghiệp bao gồm các chất thải cặn bả, các sản phẩm
phụ do hiệu suất của nhà máy không cao.
Do nguồn từ dư lượng thuốc bảo vệ thực vật: phân bón, thuốc trừ sâu, diệt cỏ,...Phân
bón và các thuốc trừ sâu, diệt cỏ được dùng với mục đích tăng thu hoạch mùa màng, các
loại muối có trong nước tưới cho cây trồng không được hấp thụ hết đều gây ô nhiễm cho
đất. Các tác nhân gây ô nhiễm không khí khi lắng đọng, các chất phân hủy từ các bãi rác
lan truyền vào đất đều là những tác nhân hóa học gây ô nhiễm đất.
Thuốc trừ sâu là tác nhân số một gây ô nhiễm đất: Đã có hơn 1.000 hóa chất là
thuốc trừ sâu mà trong đó DDT là phổ biến nhất từ trước đến nay. DDT là chất khó phân
hủy trong nước và tạo ra những dư lượng đáng kể trong đất sau đó đi vào chu trình đất -
cây - động vật - người. Người bị nhiễm DDT do ăn cá có nồng độ DDT rất cao qua chuổi
thức ăn (sự tích tụ sinh học và khuếch đại sinh học).
Hàm lượng tích luỹ DDT ở các bậc dinh dưỡng ở nước ta trên cạn
Số lần khuếch đại Sinh vật Hàm lượng DDT (ppm)
80.000 Chim nước 1600

thống kê theo bảng sau:
Bảng. Số lượng phân bón sử dụng trong nông nghiệp Việt Nam
(Đơn vị tính: 1000 tấn)
8.3. Biện pháp chống ô nhiễm đất
Để chống ô nhiễm đất trước hết cần phải đề ra các tiêu chuẩn chất lượng môi trường
đất. Hạn chế tối đa việc sử dụng phân hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ. Sử dụng phải
bảo vệ được đời sống vi sinh vật, thực vật và động vật sống trong đất.
Việc tìm bãi đổ rác để chôn vùi các chất thải rắn ở đô thị và khu công nghiệp cần
phải được lựa chọn cẩn thận, ngăn ngừa được sự rò rỉ chất thải, gây ra ô nhiễm và sau khi
san lấp vẫn có thể sử dụng vào các công việc khác. Các bãi rác này trở nên các "bãi rác vệ
sinh". Căn cứ vào số dân đô thị và khu công nghiệp, dự tính hàng ngày sẽ thải ra bao nhiêu
rác mà qui hoạch bãi rác cho thích hợp. Các kỹ thuật công nghệ như thu dọn, vận chuyển,
xử lý, chôn vùi chất thải rắn, rác rưởi đô thị cần được áp dụng để bảo đảm vệ sinh môi
trường.Để xử lý chất thải rắn của đô thị, thông thường người ta thực hiện theo trình tự như
sau:
- Thu gom lưu trữ các chất thải đúng quy trình.
- Phân loại chất thải rắn:
+ Lựa chọn những chất thải có thể tái chế được: nhựa, kim loại, giấy
+ Đối với những chất thải có nguồn gốc hữu cơ: cây cỏ, rác vườn, các chất
thải sinh hoạt,... được sử dụng làm phân hữu cơ.
+ Đối với các chất thải chứa các mầm bệnh, vi khuẩn... phải đưa vào lò
thiêu để tiêu hủy các mầm bệnh và vi khuẩn.
- Các chất thải độc hại, chất nổ, chất phóng xạ cần có biện pháp kỹ thuật xử lý
riêng
- Sau cùng những chất thải còn lại được mang đi chôn lấp tại các bãi rác vệ sinh.
8.4.Vấn đề xử lý rác thải ở các đô thị Việt Nam
Cho đến gần đây, việc xử lý rác thải của các đô thị lớn ở nước ta chỉ mới dừng lại ở
việc tìm bãi rác để đổ. Tiếp tục như vậy thì ô nhiễm môi trường là điều không tránh khỏi,
bệnh dịch và mầm bệnh vẫn được lan truyền.
Trong năm 1996, tổng lượng rác thải sinh hoạt toàn quốc xấp xỉ 16.237 m3/ngày, nhưng

dân cư các nhà máy thực phẩm. Xung quanh các bãi rác phải bố trí nhiều cây xanh.
- Tại các bãi rác phải có những biện pháp xử lý phù hợp với các điều kiện vệ sinh,
kinh tế và có các biện pháp ngăn ngừa để không làm ô nhiễm nước ngầm.
Vấn đề quản lý phân thải cũng đang còn nhiều tồn đọng: nhiều hố xí tự hoại không
đúng qui cách, không đạt tiêu chuẩn vệ sinh khi vận hành, không được bảo quản tốt nên hư
hỏng gây ứ tắc, nhất là ở các thành phố có dân số cao. Nhiều đô thị còn tồn tại nhiều loại
hố xí thấm, xí cầu dọc theo kênh, rạch, ao, hồ gây ô nhiễm nguồn nước mặt, nước ngầm lan
truyền mầm bệnh và mất vẻ mỹ quan.
Bảng 5.4: Tình trạng quản lý rác thải (m
3
/ngày) năm 1996
TT Thành phố, thị xã
Lượng
rác thải
Lượng rác
thu nhặt
Bãi chứa rác
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13

120
150
7.30
230
29
370
72
680
Mễ Trì, Anh Thanh, Lâm du
Thượng Lý
Cầu sạp
Dốc mít
Đèo Sen- Cái Lân
Khánh Sơn
Buôn Kép
Phước Cơ
Tâm Trung
Gò Vấp, Hóc Môn
Châu Thành
Lơi Bình Nhân
Mỹ Tho
Nghĩa Trang
Bạc Liêu (Cà Mau)
Phần III
BIỆN PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Bảo vệ môi trường (BVMT) có thể được thực hiện bằng các biện pháp khác nhau:
- Các biện pháp phi kỹ thuật,
- Các biện pháp kỹ thuật.
Chương IX
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BẰNG CÁC BIỆN PHÁP PHI KỸ THUẬT

- Áp dụng thuế xuất cao đối với những sản phẩm mà việc sản xuất chúng có tác
động xấu đến môi trường;
- Gắn các hạn chế hoặc khuyến khích thương mại với việc BVMT. Các hiệp định
của WTO hiện nay đã tích cực áp dụng biện pháp này.
9.1.4. Bằng các công cụ pháp lý
Vai trò của pháp luật trong BVMT có vị trí đặc biệt quan trọng. Ý nghĩa của pháp luật trong
BVMT thể hiện trong các khía cạnh sau:
- Pháp luật quy định các quy tắc xử sự mà con người phải thực hiện khi khai thác
và sử dụng các yếu tố môi trường;
- Pháp luật quy định các chế tài hình sự, kinh tế, hành chính bắt buộc các tổ chức
cá nhân phải thực hiện đầy đủ các đòi hỏi của pháp luật trong khai thác và sử dụng
các yếu tố của môi trường;
- Pháp luật quy định các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức BVMT;
- Vai trò to lớn của luật BVMT thể hiện ở việc ban hành các tiêu chuẩn, quy định
về BV môi trường.
- Vai trò của pháp luật còn thấy rõ trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan
đến bảo vệ môi trường.
Căn cứ vào Điều 29 và Điều 84 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam năm 1992, đã được sửa đổi, bổ xung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng
12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10; Luật này qui định việc bảo vệ môi
trường.1. Định nghĩa luật môi trường:
“Luật môi trường là lĩnh vực pháp luật chuyên ngành bao gồm các quy phạm pháp
luật, các nguyên tắc pháp lý điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong quá
trình khai thác, sử dụng hoặc tác động đến một hoặc một vài yếu tố của môi trường trên cơ
sở kết hợp các phương pháp điều chỉnh khác nhau nhằm bảo vệ một cách hiệu quả môi
trường sống của con người”
Các quan hệ xã hội mà các quy phạm luật môi trường điều chỉnh có thể được phân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status