A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Xuất phát từ thực trạng dạy và học Lịch sử ở trường phổ thông chưa tìm
ra hướng đi mới khiến việc dạy và học trở nên nặng nề, không đạt được kết quả
như mong muốn. Học sinh thì chán học, sợ thi môn Lịch sử vì học nhiều vẫn
khó thi được điểm cao, giáo viên thì chán dạy, tiêu cực vì xã hội không quan
tâm, tôi đề xuất những biện pháp nhằm rèn luyện cho học sinh kĩ năng tự kiểm
tra, đánh giá trong quá trình học tập Lịch sử ở trường THPT. Từ đó, học sinh có
thể tự mình kiểm chứng về kết quả học tập của mình, đồng thời có những cách
tự học, tự nghiên cứu các vấn đề Lịch sử, hiểu thấu đáo hơn các sự kiện Lịch sử,
chủ động hơn với kiến thức của mình và dần trở nên yêu thích bộ môn Lịch sử.
Phạm vi nghiên cứu chủ yếu của đề tài là khối học sinh ở các trường phổ
thông, cụ thể ở đây là học sinh lớp 10 trong phần học Lịch sử thế giới. Lí do mà
tôi chọn phạm vi nghiên cứu là học sinh lớp 10, bởi đây là giai đoạn đầu tiên của
giáo dục phổ thông, vì vậy hướng dẫn các em kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá trong
học tập ở giai đoạn này rất quan trọng, là cơ sở cho các em học tập ở những giai
đoạn tiếp theo. Phần kiến thức mà tôi lựa chọn là phần Lịch sử thế giới trong
sách giáo khoa lớp 10 (chương trình chuẩn).
Đây cũng là một mảng kiến thức quan trọng và đặc biệt đây là những kiến
thức rất trừu tượng nên học sinh rất khó nắm bắt, chưa kể đến việc tự học, tự
kiểm tra, đánh giá việc học tập của học sinh. Chính vì lí do đó, mà cần những
biện pháp hướng dẫn rất cụ thể của giáo viên, giúp cho học sinh tự kiểm tra,
đánh giá việc học tập của mình đạt hiệu quả cao, nhằm nâng cao chất lượng dạy
học bộ môn và phát huy năng lực tự học trong học tập của học sinh.
Hiện nay, việc dạy và học Lịch sử ở các trường phổ thông, bên cạnh ưu
điểm vẫn còn một số hạn chế cần được khắc phục như chương trình dạy học Lịch
sử vẫn còn nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành, chưa tạo được điều kiện cho học sinh
phát huy tính tích cực, vận dụng những kiến thức đã học để tiếp thu kiến thức mới vào
cuộc sống. Chính vì vậy cần phải đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử trong đó
phải nhất thiết tiến hành đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá và tự kiểm tra
đánh giá trong dạy và học tập Lịch sử ở các trường phổ thông hiện nay.
Một trong những nội dung đổi mới phương pháp dạy học được nhiều
đánh giá và tự kiểm tra, đánh giá. Xuất phát từ mục tiêu trên, việc dạy học Lịch
sử phải đáp ứng được mục tiêu của Đảng và Nhà nước đề ra, nhất là việc đổi
mới phương pháp dạy học.
Như vậy, vấn đề đổi mới giáo dục đào tạo nói chung, đổi mới phương
pháp dạy học Lịch sử nói riêng trong đó có phương pháp kiểm tra, đánh giá và
tự kiểm tra, đánh giá trong dạy và học lịch sử luôn được Đảng và nhà nước quan
tâm. Mặt khác, việc đổi mới phương pháp dạy học là một trong những biện pháp
hữu hiệu để nhà trường và giáo viên thực hiện tốt những mục tiêu trên.
1.2. Tóm tắt thực trạng vấn đề nghiên cứu.
1.2.1. Đối với giáo viên.
Vấn đề kiểm tra, đánh giá và tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học
sinh từ lâu đã được các nhà lý luận dạy học, các giáo viên phổ thông quan tâm,
chú ý. Họ đều thừa nhận rằng một trong những biện pháp quan trọng để nâng
cao chất lượng đào tạo là phải chú trọng đến vai trò của vấn đề kiểm tra, đánh
giá của giáo viên và tự kiểm tra, đánh giá của học sinh trong dạy và học.
Xuất phát từ những quan niệm cho rằng dạy cái gì thì kiểm tra cái đó,
kiểm tra, đánh giá là công việc có tính chất bắt buộc định kỳ. Chính vì hiểu kiểm
tra, đánh giá là một hoạt động. Để lấy điểm cho đủ, chứ không phải xem xẻ tình
hình học tập của học sinh, để có những điều chỉnh hoạt động dạy của mình và
hoạt động của học sinh, vì thế nên chất lương học tập của học sinh chưa cao.
Thêm nữa, nội dung kiểm tra không mang tính hệ thống, toàn diện (giáo dưỡng,
giáo dục và phát triển), chủ yếu mang tính chất chủ quan của thầy (thích phần
nào thì cho kiểm tra phần ấy), hoặc có để xem học sinh nhớ kiến thức của thầy
như thế nào cho nên chưa đòi hỏi học sinh phải tư duy thông minh, độc lập, vận
dụng kiến thức.
3
Điều này sẽ gây hậu quả nghiêm trọng về mặt tâm lý đối với học sinh, các
em bị ức chế, dẫn tới học đối phó và có ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng dạy
vậy, nó có ý nghĩa rất to lớn đối với cả giáo viên và học sinh.
2.2. Tự kiểm tra, đánh giá nhằm phát huy năng lực tự học của học sinh
trong học tập.
4
Các nhà giáo dục lịch sử đã khẳng định, kiểm tra, đánh giá trong học tập là
quá trình thu thập và xử lý thông tin về tình hình lĩnh hội kiến thức, bồi dưỡng tư
tưởng đạo đức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo của người học so với mục tiêu, yêu cầu
học tập. Sự hiểu biết về các nguyên nhân và ảnh hưởng của tình hình học tập của
người học giúp giáo viên có những biện pháp sư phạm thích hợp nhằm nâng cao
chất lượng dạy học và giúp học sinh ngày càng tiến bộ hơn. Vì vậy, chúng ta có
thể hiểu rằng: tự kiểm tra, đánh giá trong học tập là quá trình người học tự thu
thập, xử lý thông tin về việc lĩnh hội kiến thức, bồi dưỡng tư tưởng đạo đức,
hình thành kỹ năng, kỹ xảo của mình so với yêu cầu đặt ra. Từ đó, học sinh thấy
rõ các ưu, khuyết điểm của mình trong học tập, đặc biệt là phương pháp học tập
để tìm cách khắc phục. Vấn đề tự kiểm tra, đánh giá của học sinh trong học tập
thực chất là các hoạt động tự học.
Rõ ràng, việc tổ chức tốt hoạt động tự học ở nhà cho học sinh sẽ góp
phần nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn ở trường phổ thông và là một trong
những biện pháp tự kiểm tra, đánh giá hiệu quả kết quả học tập, lĩnh hội kiến
thức của học sinh.
3.Giải pháp và tổ chức thực hiện.
Một số biện pháp rèn luyện cho học sinh kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá
trong học tập lich sử thế giới lớp 10 (chương trình chuẩn) ở trường THPT.
3.1. Vị trí, mục tiêu cảu lịch sử thế giới lớp 10 (chương trình chuẩn).
3.1.1.Vị trí.
Chương trình Lịch sử ở cấp Trung học phổ thông đã được Hội đồng thông
qua, được Bộ giáo dục và Đào tạo cho phép thực hiện từ năm học 1990 - 1991.
trọng về tiến trình phát triển của loài người tử cổ đại, trung đại và cận đại. Từ
những hiểu biết đó giúp học sinh có nhận thức khái quát về vị trí của Lịch sử
dân tộc là một bộ phận của Lịch sử thế giới. Trên cơ sở đó các em sẽ hiểu sâu
sắc hơn những nét đặc thù của Lịch sử dân tộc. Đồng thời, qua đó sẽ giáo dục
cho các em lòng yêu lao động, vì lao động không những tạo nên con người, nâng
cao đời sống của con người mà còn hoàn thiện bản thân con người.
3.2. Một số biện pháp rèn luyện tự kiểm tra, đánh giá cho học sinh trong
học tập lịch sử lớp 10 (chương trình chuẩn) ở trường THPT.
3.2.1. Những yêu cầu khi xác định các biện pháp rèn kĩ năng tự kiểm tra,
đánh giá cho học sinh trong học tập lịch sử ở trường THPT.
Các nhà giáo dục lịch sử đã khẳng định, kiểm tra, đánh giá trong học tập là
quá trình thu thập và xử lý thông tin về tình hình lĩnh hội kiến thức, bồi dưỡng tư
tưởng đạo đức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo của người học so với mục tiêu, yêu cầu
học tập. Sự hiểu biết về các nguyên nhân và ảnh hưởng của tình hình học tập của
người học giúp giáo viên có những biện pháp sư phạm thích hợp nhằm nâng cao
chất lượng dạy học và giúp học sinh ngày càng tiến bộ hơn.
Quá trình dạy học chỉ có kết quả khi người học tự nỗ lực, tự học để nắm
vững những tri thức mà nhân loại đã tích luỹ được, tức là việc: “tự chuyển hóa”
như Mác nói.
Tự học ở nhà trường phổ thông là tự học có hướng dẫn. Tự học là quá
trình tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người trên con đường học tập thường
xuyên của cả cuộc đời. Nó thực sự là chìa khoá vàng của giáo dục, đặc biệt là
6
giáo dục phổ thông và đại học. Bởi vì tự học sẽ giúp học sinh tự lực nắm vững
tri thức, kĩ năng, kĩ xảo về nghề nghiệp tương lai. Do đó, rèn luyện kỹ năng tự
kiểm tra, đánh giá là một biện pháp quan trọng thực hiện dạy học theo hướng
tích cực hoá hoạt động của người học, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo sinh
viên. Việc tự kiểm tra, đánh giá có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với học sinh về
7
Không có kiến thức về lịch sử không thể hiểu sự phát triển tương lai của
xã hội. Tuy nhiên, trong dạy học lịch sử không thể cung cấp và tiếp thu mọi kiến
thức của khoa học lịch sử mà chỉ có thể làm cho học sinh nắm vững những kiến
thức cơ bản. Nó gồm nhiều yếu tố: sự kiện lịch sử, các niên đại, địa danh lịch sử,
các nhân vật lịch sử, niên đại, khái niệm lịch sử, các quy luật nguyên lý…..Như
vậy, bằng những sự kiện lịch sử cơ bản được chọn lọc kĩ, bộ môn lịch sử khôi
phục lại cho học sinh bức tranh lịch sử như nó đã từng tồn tại.
Tái hiện là một quá trình trí nhớ làm sống lại những nội dung đã được ghi
nhớ và giữ gìn. Quá trình tái hiện những kiến thức đã học được biểu hiện dưới
ba hình thức: nhận lại, nhớ lại và hình dung tưởng tượng lại (hồi tưởng). Thông
qua các hoạt động đó người học tự kiểm tra, đánh giá được trình độ kiến thức về
nghề nghiệp của bản thân đã được học. Từ đó học sinh thấy rõ những điều đã
nắm vững, những kiến thức cần bổ sung và tự khắc phục bằng hỏi bạn, tìm trong
sách vở hoặc hỏi thầy. Rõ ràng, biết tái hiện những kiến thức Lịch sử đã học là
một trong những công việc quan trọng để rèn luyện kỹ năng tự kiểm tra, đánh
giá của học sinh. Để tái hiện được những điều đã học, học sinh cần thực hiện các
hành động:
Tự lập các dàn ý, đề cương theo những vấn đề kiến thức Lịch sử đã học.
Công việc này giúp học sinh nhớ lại những kiến thức đã nghiên cứu theo cách
hiểu của mình và nắm vấn đề một cách lôgic hệ thống.
Nhớ lại, nhận lại, hồi tưởng lại những kiến thức đã học (sự kiện, biểu
tượng, khái niệm, quy luật, bài học…) theo dàn ý cấu tạo.
Tự trình bày hoặc trao đổi theo nhóm những kiến thức theo dàn ý đã lập.
Hoạt động này vừa có tác dụng củng cố kiến thức một cách sâu sắc, hệ thống,
vừa rèn luyện khả năng diễn đạt nói của học sinh và tự đánh giá được các kiến
thức đã nhớ lại (những kiến thức đã nắm vững, những kiến thức cần sửa chữa,
Ngoài những kiến thức cơ bản như trên học sinh cần phải nắm được cả
nội dung các thuật ngữ, nội hàm các khái niệm lịch sử trong bài như:
Xã hội nguyên thuỷ: Thời kì đầu tiên của xã hội loài người bắt
đầu từ khi con người và xã hội xuất hiện đến lúc xã hội phân chia thành giai cấp
và nhà nước ra đời. Đặc trưng của xã hội nguyên thuỷ là sở hữu chung về tư liệu
sản xuất, mọi người đều lao động và thừa hưởng thành quả lao động của mình
làm ra.
Bầy người nguyên thuỷ: Tổ chức xã hội đầu tiên của loài người,
gồm khoảng 3 - 4 chục người, sống quây quần theo quan hệ ruột thịt với nhau.
Họ cùng lao động, tìm kiếm thức ăn (hái lượm, săn bắt hay săn đuổi) và đấu
tranh chống thú dữ để tự vệ. Bầy người nguyên thuỷ là tổ chức đầu tiên của xã
hội nguyên thuỷ, từ khi con người xuất hiện cách đây khoảng 4 triệu năm đến
lúc người hiện đại ra đời khoảng 4 vạn năm trước đây.
Vượn cổ: Một loài vượn sống khoảng 6 triệu năm trước đây, đã
có thể đứng và đi bằng hai chi sau, còn hai trước có thể dùng trong việc cầm nắ,
hái hoa quả và tìm kiếm thức ăn. Ở Việt Nam (vùng Lạng Sơn, Hoà Bình) tìm
thấy xương hoá thạch của loài vượn cổ.
Vượn người: Một loài vượn cổ đã đạt tới đỉnh cao của quá trình
chuyển biến từ vượn sang người ở một thời điểm, điều kiện lịch sử nhất định lúc
bấy giờ (cách đây khoảng 4 triệu năm).
Người tối cổ (còn gọi là “người vượn”): Sự xuất hiện của con
người, thoát khỏi giới động vật, xuất hiện cách đây khoảng 4 triệu năm. Người
tối cổ tuy chưa loại bỏ hết dấu tích vượn trên cơ thể mình, song đó là người, đã
đi đứng bằng hai chân, đôi tay sử dụng tương đối thành thạo công cụ, tìm kiếm
9
thức ăn; thể tích hộp sọ khoảng 900cm3; đã hình thành trung tâm phát triển
tiếng nói, biết chế tạo công cụ lao động.
Thuật ngữ người hiện đại, chủng tộc, thời đá cũ, thời đại đồ đá
lập dàn ý để trả lời những câu hỏi trong sách giáo khoa như nêu trên giúp học
sinh tái hiện, ghi nhớ những kiến thức cơ bản của mỗi bài học, cũng như cả
chương trình.
10
Để có kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá này, học sinh cần:
Xác định được yêu cầu của câu hỏi
Xác định nội dung câu trả lời có trong giáo trình và tài liệu học tập
Dự kiến câu trả lời (dàn ý)
Tái hiện những kiến thức liên quan đến trả lời.
Tập trình bày câu trả lời trong nhóm hoặc trước lớp
Bên cạnh việc tự trả lời các câu hỏi trong giáo trình, sách hướng dẫn học
tập, điều quan trọng trong hình thức tự kiểm tra, đánh giá này là hoc sinh cần tự
đề ra câu hỏi để tự mình giải quyết hay trao đổi thảo luận với bạn bè.
Ví dụ với Bài 3: Các quốc gia cổ đại phương Đông. Trước khi học sinh
tiến hành lập dàn ý những kiến thức cơ bản của bài, cần phải dựa trên mục tiêu
của bài học đã được thầy, cô giáo đặt ra trong quá trình giảng dạy trên lớp.
Mục tiêu trên đạt được, trên cơ sở những kiến thức cơ bản sau:
Xã hội công xã nguyên thuỷ tan ra, xã hội có giai cấp rồi các quốc
gia hình thành. Xã hội có giai cấp đầu tiên là xã hội chiếm hữu nô lệ; các quốc
gia cổ đại không xuất hiện đồng loạt và hoàn toàn giống nhau với hai mô hình
xã hội cổ đại phương Đông và xã hội cổ đại phương Tây.
Những nét chính về điều kiện tự nhiên, sự phát triển và đặc điểm
kinh tế của các quốc gia cổ đại phương Đông, địa bàn, thời gian hình thành các
quốc gia cổ đại, sự phân hoá trong xã hội với sự ra đời của các giai cấp thống trị
và giai cấp bị trị, tổ chức của nhà nước chuyên chế với quyền chuyên chế của
nhà vua.
Sau khi đã lập dàn ý những nội dung cơ bản của bài một cách có
hệ thống và khoa học như vậy, học sinh có thể tự mình giải đáp được những câu
hỏi trắc nghiệm khách quan liên quan đến nội dung bài học trên như sau: Đánh
dấu khoanh tròn vào câu trả lời cho là đúng:
1.
Xã hội có giai cấp và nhà nước xuất hiện đầu tiên ở phương Đông:
Trên vùng núi cao
Dọc lưu vực các sông lớn ở châu Á, châu Phi
Dọc các vùng ven bờ biển châu Âu
2. Xã hội cổ đại phương Đông có sự phân hoá sâu sắc giữa:
Nông dân và địa chủ
Nô lệ và chủ nô
Vô sản và tư sản
3. Các thành tựu văn hoá cổ đại phương Đông:
Chữ Nôm
Chữ tượng hình
Tháp Chàm
Chữ tượng ý
Kim tự tháp
Tin học
Thiên văn hoc, toán học, y học, văn học, sử học
Thực hiện những hoạt động trên thường xuyên, hệ thống chính xác sẽ
giúp cho học sinh dần dần có kỹ năng của môn học nói riêng và những kĩ năng
học tập nói chung.
12
3.2.2.3. Làm các bài tập do giáo viên yêu cầu.
Để nắm vững hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo tương ứng trong quá
trình học tập, học sinh cần phải làm tốt các bài tập mà giáo viên bộ môn đã
giao. Đây là một biện pháp có tác dụng thiết thực để phát triển các năng lực
nhận thức chủ động, độc lập trong học tập của học sinh.
13
xem xét những sự kiện đã học trong mối quan hệ khác.Loại bài tập này thường
được nêu ra khi học sinh nghiên cứu xong một số bài, hoặc chương.
* Bài tập nhằm rèn luyện kĩ năng thực hành, hệ thống, khái quát hoá kiến thức
và vận dụng kiến thức. Loại bài tập này có nhiều hình thức. Bài tập lập niên biểu
giúp học sinh hệ thống hoá kiến thức, ghi nhớ, so sánh các sự kiện để rút ra
những dấu hiệu bản chất, sự khác biệt giữa chúng. Các loại đồ dùng trực quan
quy ước trên có tác dụng rất lớn trong việc phát trỉên tư duy học sinh, giúp các
em nắm vững và đi sâu vào bản chất sự kiện.
* Bài tập trắc nghiệm khách quan.
Việc đưa ra những bài tập về nhà có chất lượng yêu cầu học sinh phải
hoàn thành sẽ giúp các em tự kiểm tra, đánh giá được trình độ của mình, đồng
thời giáo viên cũng nắm được trình độ hiểu biết kiến thức, những kĩ năng giải
quyết bài tập, thực hành của các em. Song, để có những bài tập chất lượng đòi
hỏi giáo viên phải đầu tư, suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo.
Rèn luyện kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá trong học tập của học sinh trong
học tập lịch sử thế giới lớp 10 ở trường trung học phổ thông, thực chất là giúp
hình thành ở học sinh năng lực tự học – chìa khoá vàng của giáo dục, một hình
thức tổ chức dạy học cơ bản. Do vậy, trong học tập học sinh cần có ý thức luyện
tập và thường xuyên rèn luyện, còn giáo viên cần phải đặt ra yêu cầu và hướng dẫn
học sinh thực hiện.
Trên đây là một số những biện pháp giúp học sinh học tập để tiến hành tự
kiểm tra, đánh giá có hiệu quả trong quá trình tiếp thu, lĩnh hội kiến thức và hình
thành, phát triển năng lực tự học của bản thân.
3.3 Thực nghiệm sư phạm
3.3.1 Mục đích, nguyên tắc, phương pháp thực nghiệm, kết luận
3.3.1.1. Mục đích
kém chiếm tỷ lệ thấp.
4. Kiểm nghiệm đề tài.
Thời gian thực nghiệm
Học kì II của năm học 2013-2014 và của năm học 2014 - 2015.
Đối tượng thực nghiệm
Học sinh lớp 10, chương trình SGK hiện hành theo chuẩn của Bộ Giáo dục.
Bài học được chọn biên soạn đề bài thực nghiệm
Bài 11: Tây Âu thời hậu kì trung đại
Bài 33: Hoàn thành cách mạng tư sản ở châu Âu và Mĩ giữa thế kỉ XIX
Bài 36: Sự hình thành và phát triển của phong trào công nhân.
Bài 37: Lê – nin và phong trào công nhân Nga đầu thế kỉ XX
Hướng dẫn thực nghiệm
Giáo viên làm đề tài có nhiệm vụ hướng dẫn học sinh cách làm các đề bài
thực nghiệm vì các bài kiểm tra có các câu hỏi ở nhiều dạng khác nhau, nhiều
dạng học sinh chưa quen thuộc. Hướng dẫn giáo viên và học sinh cách trình bày
ý kiến của mình vào bản tổng hợp đánh giá tính hiệu quả của các phương pháp
hướng dẫn học sinh tự kiểm tra, đánh giá.
Phương pháp đánh giá kết quả thực nghiệm
15
Kết quả thực nghiệm được đánh giá ở nhiều khía cạnh khác nhau. Phân
chia kết quả làm bài của học sinh theo hai nhóm. Nhóm cao gồm có xấp xỉ 27%
của toàn nhóm có điểm số cao nhất và nhóm thấp gồm có số bài tương đương
27% có số điểm thấp nhất.
Ghi số lần trả lời đúng của học sinh trong mỗi nhóm cao và thấp. Cho mỗi
lựa chọn của mỗi câu trắc nghiệm theo mẫu dưới đây.
Ví dụ: Câu trắc nghiệm số 2 bài thực nghiệm số 1
Bảng 3.1: Thống kê tần số các câu trả lời đúng của học sinh theo hai
nhóm.
Về mặt định tính: Chúng tôi quan sát, nhận xét trên các mặt sau:
+ Không khí lớp học.
+ Thái độ, hứng thú học tập của học sinh.
+ Tổng hợp ý kiến của giáo viên tham gia thực nghiệm.
Đánh giá tính ứng dụng, tính tích cực của các nội dung kiểm tra có sự
hướng dẫn của giáo viên với nội dung kiểm tra không có biện pháp hướng dẫn
của giáo viên cho học sinh tự kiểm tra, đánh giá được trình bày trong đề tài tôi
tiến hành thực nghiệm song song hai dạng đề bài, một dạng theo phương pháp
truyền thống và một dạng theo phương pháp đổi mới cùng với việc thu thập
thông tin và lấy ý kiến từ giáo viên, học sinh trong suốt quá trình nghiên cứu
nhằm đánh giá tính khả thi và ý nghĩa, giá trị của các biện pháp hướng dẫn
của giáo viên giúp cho học sinh tự kiểm tra, đánh giá việc lĩnh hội kiến thức
Lịch sử tại các trường trung học phổ thông hiện nay.
Để thực hiện nhiệm vụ trên, tôi đã tiến hành biên soạn đề bài kiểm tra học
kì II môn Lịch sử thế giới sau khi học sinh học xong chương III “Phong trào
16
công nhân (từ đầu thế kỉ XIX đến đầu XX) cho lớp thực nghiệm và lớp đối
chứng có cùng nội dung.
Trước khi tiến hành thực nghiệm, đề kiểm tra đã được trao đổi, thảo luận
với giáo viên dạy thực nghiệm và các giáo viên dạy bộ môn.
Nội dung và phương pháp tiến hành cụ thể từng tiết kiểm tra (xem phần
phụ lục).
Kết quả thực nghiệm.
Sau khi dạy xong hai lớp thực nghiệm và đối chứng, chúng tôi tiến hành
điều tra tâm lý và trắc nghiệm kết quả thực nghiệm:
Lóp
10C6
10C7
40%
60%
0%
0%
+ Bài kiểm tra của lớp thực nghiệm:
Bài kiểm tra của lớp thực nghiệm bao gồm các câu hỏi trắc nghiệm khách
quan kết hợp với câu hỏi tự luận, các câu hỏi này đảm bảo độ khó. Số lượng câu
hỏi được phân bố theo từng nội dung được đánh giá. Bài kiểm tra của lớp thực
nghiệm gồm 1 câu hỏi tự luận và 7 bài trắc nghiệm khách quan. Tuy nhiên, với
sự hướng dẫn của giáo viên kết quả cho thấy mức độ biết, hiểu và vận dụng
những kiến thức lịch sử đã học của học sinh khá cao, hầu hết đạt yêu cầu đề ra
của đề bài, qua đó cho thấy học sinh nắm kiến thức vững, chắc, rèn luyện được
những kĩ năng thực hành bộ môn, đáp ứng được mục tiêu đề ra về mặt giáo dục,
giáo dưỡng và phát triển. (xem phục lục 2A)
+ Bài kiểm tra của lớp đối chứng:
Với cùng một đề bài kiểm tra nhưng áp dụng cho lớp dạy đối chứng tức là học
sinh trả lời những câu hỏi trong bài kiểm tra mà không có sự hướng dẫn ôn tập
của giáo viên từ trước, học sinh hoàn toàn bị động và làm theo cách nhớ và học
bài bằng cách học thuộc lòng bài giảng của giáo viên và những nội dung trong
sách giáo khoa. Vì vậy, khi làm bài kiểm tra này học sinh bên lớp học đối chứng
tỏ ra khá lúng túng, bị động, mức độ biết, hiểu và vận dụng, kĩ năng thực hành
bộ môn đạt kết quả không như ý, chỉ ở mức độ trung bình và khá. Điều này cho
thấy sự vận dụng linh hoạt những biện pháp hướng dẫn của giáo viên giúp cho
học sinh tự kiểm tra, đánh giá trong học tập lịch sử đã đạt được những kết quả
17
hành hướng dẫn học sinh tự kiểm tra, đánh giá kết quả lĩnh hội kiến thức của
mình.
Việc kiểm tra, đánh giá là công việc hết sức cần thiết và quan trọng trong
nhà trường phổ thông, nó không những giúp giáo viên đánh giá được năng lực
của học sinh mà còn có tác dụng rất lớn với việc rèn luyện tư tưởng, đạo đức
cho học sinh.
* Đề xuất:
Trên cơ sở lí luận dạy học hiện đại và những kinh nghiệm tiên tiến trong
thực tế cho rằng, để đổi mới việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập lịch sử của
học sinh cần vận dụng một số biện pháp.
+ Thứ nhất là phải có quan niệm đúng về kiểm tra, đánh giá trong quá
trình học tập của học sinh. Bởi vì hiểu đúng vấn đề đặt ra mới có việc làm đúng,
tránh được những sai phạm đáng tiếc xảy ra. Đó là, phải nhận thức rõ vai trò, ý
nghĩa của việc kiểm tra, đánh giá là một trong những biện pháp nâng cao hiệu
quả dạy học lịch sử. Cần phải tránh việc chạy theo thành tích làm cho kết quả
kiểm tra, đánh giá không đảm bảo độ tin cậy và tính giá trị.
19
+ Thứ hai, phải đảm bảo tính toàn diện trong nội dung kiểm tra, đánh giá.
Khi giáo viên đưa ra các câu hỏi, học sinh phải nhớ lại và tái hiện được những
sự kiện, hiện tượng…đã nghiên cứu. Từ nhớ, biết sự kiện, việc kiểm tra, đánh
giá phải giúp học sinh đạt được mức độ nhận thức cao hơn, đó là hiểu. Hiểu bao
gồm cả biết, đòi hỏi học sinh phải biết được ý nghĩa bản chất của tri thức lịch sử,
thấy được mối liên hệ bên ngoài, bên trong giữa các sự kiện, hiện tượng, có khả
năng phân tích, so sánh, tổng hợp, đánh giá, phán đoán, suy luận để rút ra kết
luận. Bên cạnh xem xét mặt kiến thức, giáo dục, nội dung của kiểm tra, đánh giá
phải nhằm phát triển kĩ năng thực hành cho học sinh. Hành trong học tập lịch sử
bao gồm thực hành bộ môn và cao hơn là “hành” trong cuộc sống. Kiểm tra,
trong quá trình dạy học (tài liệu bồi dưỡng cho giáo viên phổ thông trung
học)”. Vụ giáo viên Bộ giáo dục – đào tạo, Hà Nội – 1995.
2.
Nguyễn Thị Côi, Đổi mới việc kiểm tra – đánh giá kết quả học
tập trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông (Tài liệu Hà Nội đổi mới phương
pháp giảng dạy và học tập môn Lịch sử ở trung học phổ thông và trung học cơ
sở, Hà Nội T11/ 1999
3.
Nguyễn Thị Côi - Phạm Thị Kim Anh: Hướng dẫn học sinh làm
bài tập Lịch sử - NKGD, số 6, 1994.
4.
Nguyễn Thị Côi - Nguyễn Hữu Chí: Bài học Lịch sử và việc
kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh ở trường phổ thông trung học,
Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 1999.
5.
Nguyễn Thị Côi - Nguyễn Tiến Hỷ - Trần Bá Đệ - Trịnh Đình
Tùng - Đặng Thanh Toán: Hướng dẫn ôn tập và làm bài thi môn Lịch sử, Nxb
ĐHQG, Hà Nôi, 1998.
6.
Hội Giáo dục và khoa học Lịch sử, Khoa Sử trường ĐHSP, Đổi mới
việc dạy học Lịch sử “lấy học sinh làm trung tâm”, Nxb ĐHQG Hà Nội, 1996.
7.
Văn kiện Hội nghị lần thứ II BCHTW khoá VIII (02 –
NQ/HNTW, 14/01/93).
8.
Văn kiện Hội nghị lần thứ IV BCHTW khoá VII (04 –
NQ/HNTW, 24/12/96). Nxb Chính trị quốc gia, 1997.
9.
Văn kiện đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1991.
Kỹ thuật đóng tàu của người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha có nhiều
tiến bộ, có thể vượt được đại dương
D.
3.2.
Cả B và C đều đúng
Phát kiến địa lý là
A. Sự phát hiện về mặt địa lý
B. Quá trình đi tìm vàng bạc, hương liệu quý cho bọn vua chúa phong kiến
C. Quá trình đi tìm những con đường mới, vùng đất mới, dân tộc mới của
người châu Âu
D. Cách thức đi tìm những con đường mới của lãnh chúa phong kiến
3.2. Em hãy hoàn thành bảng niên biểu về một số cuộc phát kiến địa lý tiêu
biểu theo mẫu cho sẵn dưới đây:
Người tiến
Kết quả
Stt
Thời gian hành phát Quốc gia Hướng đi chính đạt
kiến địa lý
được
1
1487
Đi-a-xơ
2
Cô-lôm-bô
Va-xcô đơ
3
1497
Ga-ma
h. Liên bang Đức ra đời
9. 1871
i. Phổ gây chiến với Pháp
Câu IV: Hãy khoanh tròn chỉ một chữ in hoa đứng trước câu trả lời đúng
1. “Sống trong lao động hoặc chết trong chiến đấu” là khẩu hiệu xuất
hiện trong cuộc đấu tranh
A. Khởi nghĩa Li-ông
B. Phong trào Hiến chương
C. Khởi nghĩa Sơ-lê-din
D. Phong trào đập phá máy móc
2. Hạn chế lớn nhất của các nhà chủ nghĩa xã hội không tưởng là
A. Chưa đấu tranh bảo vệ quyền lợi giai cấp vô sản mà mới chỉ đòi quyền lợi
cho giai cấp tư sản
B. Chưa đánh giá đúng vai trò của giai cấp công nhân
C. Chưa nhận thức đúng bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản
D. Chưa xác định đúng phương pháp đấu tranh mặc dù xác định đúng vai trò
của giai cấp công nhân
23
Câu V: Hãy điền đúng (Đ) hay Sai (S) vào ô trống trong các câu sau đây:
1. Cuộc khởi nghĩa Li-ông nổ ra năm 1830
2. Phong trào Hiến chương ỏ Anh mới chỉ dừng lại ở đòi quyền lợi kinh tế
3. Chủ trương đi đến chủ nghĩa xã hội của R. Ô-oen là tuyên truyền ,
thuyết phục và nêu gương
4. S.Phu-ri-ê là người Anh
5. Hình thức đấu tranh đầu tiên của giai cấp công nhân là đập phá máy móc
6. Chủ nghĩa xã hội không tưởng là tiền đề của triết học Mác
7. Xanh-xi-mông vốn là một thương gia ở Pháp
sản là
lập chính đảng của mình, thiết lập
nền chuyên chính vô sản và đoàn
kết các lực lượng công nhân trên
thế giới
2. Muốn thực hiện thành công cuộc b. Dùng bạo lực để lật đổ trật tự xã
cách mạng vô sản
hội hiện có và kêu gọi quần chúng
đứng lên làm cách mạng.
3. Mục đích của những người cộng c. Lãnh đạo cuộc đấu tranh chống
sản là
sự thống trị và áp bức bóc lột của
giai cấp tư sản, xây dựng chế độ
cộng sản chủ nghĩa
4. Tuyên ngôn của Đảng cộng sản
d. Xây dựng chủ nghĩa cộng sản
trên toàn thế giới
5. Mục tiêu cuối cùng của những e. Đánh dấu bước đầu kết hợp chủ
người cộng sản là
nghĩa xã hộ khoa học với phong
trào công nhân
Câu VIII: Hãy trình bày những nét lớn về nguyên nhân, diễn biến và ý
nghĩa lịch sử của cuộc cách mạng Nga 1905 – 1907.
25