3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong công cuộc đổi mới đất nước, đặc biệt trong lĩnh vực đối ngoại,
hội nhập, mở rộng quan hệ hợp tác trên quan điểm Việt Nam muốn làm bạn
với tất cả các nước trên thế giới do Đảng Cộng sản khởi xướng và lãnh đạo
trong những năm qua đã thu được những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh
vực chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội... đời sống nhân dân đã được cải
thiện và nâng cao, quan hệ hợp tác giao lưu giữa nước ta với các nước trên thế
giới có sự thay đổi căn bản, tạo được sự đồng thuận, ủng hộ cao của nhiều
nước. Góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.
Quá trình hội nhập theo xu thế toàn cầu hóa, mở rộng quan hệ hợp
tác... người nước ngoài vào Việt Nam liên doanh, liên kết, đầu tư, buôn bán,
du lịch, thăm thân... ngày một tăng, trong số đó hầu hết người nước ngoài
nhập cảnh vào Việt Nam đều đúng mục đích nhập cảnh, song cũng có một số
ít người đã lợi dụng những hạn chế, yếu kém trong quản lý cửa khẩu, thực
hiện luật đầu tư nước ngoài, trong quản lý kinh tế, cơ chế chính sách pháp luật
của nước ta chưa hoàn chỉnh... để hoạt động phạm tội hoặc câu kết với bọn tội
phạm trong nước để hoạt động phạm tội như: buôn lậu vàng và ngoại tệ; buôn
bán trái phép chất ma túy; tội phạm rửa tiền, buôn bán phụ nữ, trẻ em; tội
phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, đầu tư, trộm cắp, cướp của, giết
người..., đặc biệt chúng lợi dụng người nước ngoài vào Việt Nam không
thông thạo địa bàn, đường đi, lối lại, bất đồng ngôn ngữ, thời gian nhập cảnh
vào Việt Nam không nhiều, không có người quen biết, thân thích, nơi ở không
ổn định để thực hiện hành vi phạm tội. Cũng có nhiều trường hợp người nước
ngoài thường lợi dụng tâm lý người Việt Nam khi tiếp xúc với người nước
5
giải mà thực tiễn công tác tổ chức tiếp nhận, xử lý tin báo, tố giác tội phạm có
yếu tố nước ngoài đặt ra cần phải nghiên cứu làm rõ.
Tuy nhiên, luật pháp của nước ta những năm vừa qua đã có sự thay
đổi trong quy định, nếu như trước đây Bộ luật tố tụng hình sự có quy định tiếp
nhận xử lý tin báo tố giác của tội phạm là trách nhiệm của Cơ quan điều tra và
Viện kiểm sát, thì trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 nhiệm vụ này thuộc
về Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát sau khi nhận tin báo, tố giác tội phạm phải
chuyển cho Cơ quan điều tra xử lý, Điều 103 Bộ luật tố tụng hình sự có quy
định về thẩm quyền giải quyết tin báo tố giác tội phạm, thời hạn giải quyết,
nhưng điều luật này lại chưa quy định cụ thể về trình tự, cách thức tiến hành
giải quyết những tin báo, tố giác tội phạm có yếu tố nước ngoài... đó cũng
chính là những bất cập của pháp luật đặt ra cho tác giả khi nghiên cứu cần
phải hoàn thiện quy định này.
Với những lý do nêu trên, đề tài: "Tổ chức tiếp nhận xử lý tin báo, tố
giác tội phạm có yếu tố nước ngoài của lực lượng Cảnh sát nhân dân Công
an tỉnh Quảng Ninh" mà tác giả chọn làm luận văn thạc sĩ của mình là rất
cần thiết nhằm đáp ứng cả về phương diện lý luận và thực tiễn công tác tổ
chức tiếp nhận, xử lý tin báo, tố giác tội phạm có yếu tố nước ngoài đặt ra.
2. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề
tài luận văn
+ Mục đích nghiên cứu của đề tài luận văn: Trên cơ sở nghiên cứu,
phân tích, đánh giá những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác
tiếp nhận, xử lý tin báo tố giác về tội phạm có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam,
đặc biệt tác giả đi sâu vào nghiên cứu công tác nghiệp vụ của ngành Công an,
vì lẽ công việc này pháp luật đã quy định lực lượng Công an nhân dân giải
quyết. Từ việc nghiên cứu đó, tác giả mạnh dạn đưa ra những giải pháp nhằm
3. Tình hình nghiên cứu
7
Vấn đề tiếp nhận, xử lý tin báo, tố giác tội phạm nói chung, tội phạm
có yếu tố nước ngoài cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, mỗi
công trình nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau, mỗi lĩnh vực nghiên cứu
đó đều là những vấn đề nóng hổi có tính thời sự, như: đề tài khoa học cấp bộ
của Viện kiểm sát nhân dân tối cao năm 1995 với tiêu đề: "Con nhện xám
INTERPOL"; "Tội phạm quốc tế - những bàn tay bạch tuộc", Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994; đề tài: "Tội phạm có yếu tố nước ngoài",
Luận án tiến sĩ Luật học của GS.TS Nguyễn Xuân Yêm, 1998; "Tiếp nhận và
xử lý tin báo, tố giác tội phạm - thực trạng và các giải pháp nâng cao hiệu
quả của công an các quận, huyện, thành phố Hà Nội", Luận văn thạc sĩ Luật
học của Nguyễn Duy Ngọc, 2003; "Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tiếp
nhận, xử lý tin báo, tố giác tội phạm theo chức năng, thẩm quyền của Bộ đội
biên phòng các tỉnh biên giới phía Bắc", Luận án tiến sĩ Luật học của Chương
Vũ Bình, Học viện Cảnh sát nhân dân, 2003; "Tiếp nhận, xử lý tin báo, tố giác
tội phạm tại nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào thực trạng và giải pháp
nâng cao hiệu quả", Luận án tiến sĩ luật học của Sồng Pát Chay, Đại học
Cảnh sát nhân dân, 2000...
Qua các đề tài nghiên cứu trên cho thấy mặc dù lĩnh vực tổ chức tiếp
nhận, xử lý tin báo tố giác tội phạm đã có nhiều đề tài nghiên cứu đề cập, song các
đề tài trên chưa đề tài nào tập trung nghiên cứu về lĩnh vực: "Tiếp nhận xử lý
tin báo có yếu tố nước ngoài" đây cũng chính là điểm mới của đề tài luận văn.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lê
nin về Nhà nước và pháp luật, dựa trên các quan điểm của Đảng về đấu tranh
phòng chống tội phạm, về tăng cường dân chủ trong đấu tranh phòng chống
1.1.1. Khái niệm tin báo, tố giác tội phạm có yếu tố nước ngoài
a. Khái niệm về người nước ngoài
Khi nước ta chuyển đổi cơ chế từ tập trung quan liêu bao cấp sang nền
kinh tế thị trường, nền kinh tế mở đòi hỏi phải mở rộng làm ăn, hợp tác với
các nước trên thế giới và trong khu vực, kể từ đó các quan hệ có yếu tố nước
ngoài được thiết lập, như: quan hệ dân sự (kết hôn; tài sản; di sản;...) đến
những vấn đề mang tính hình sự: tội phạm có yếu tố nước ngoài ngày một
nhiều và có chiều hướng gia tăng, phức tạp, mặc dù vậy trong hai Bộ luật Bộ
luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự của nước ta không có điều luật nào quy
định thế nào là người nước ngoài, tuy nhiên trong hai đạo luật này lại có rất
nhiều quy định đối với người nước ngoài có liên quan đến vấn đề hình sự và
dân sự như trên.
Theo quy định của luật quốc tế, người nước ngoài được hiểu đó là: người
không mang quốc tịch của quốc gia nơi mà mình sinh sống. Nếu theo quy định
này chúng ta thấy: một người có thể có một quốc tịch, cũng có thể có hai hay
nhiều quốc tịch, và cũng có thể một người không có quốc tịch của một quốc
gia nào, họ chỉ trở thành người nước ngoài khi họ hoặc không mang quốc tịch
của nước sở tại họ đang sinh sống hoặc họ là người không có quốc tịch. Pháp
luật của mỗi nước quy định về địa vị pháp lý của người nước ngoài phù hợp
với các nguyên tắc cơ bản và những quy phạm của luật quốc tế và những điều
10
ước quốc tế mà nước đó là thành viên, theo quy định của hiệp định tương trợ
tư pháp và pháp lý được ký kết giữa nước đó và các nước thành viên khác.
Hiện nay khái niệm về người nước ngoài trong khoa học pháp lý Việt
Nam cũng được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau, việc hiểu theo những góc
độ khác nhau đó phụ thuộc vào những tiêu chí xem xét khác nhau về diện
người nước ngoài, nhưng vấn đề không phải chỉ là hiểu như thế nào là đúng
người không quốc tịch thường trú hoặc tạm trú ở Việt Nam.
Như vậy, người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam, tác
giả cho rằng, quan điểm về người nước ngoài như vậy là chính xác, khái niệm
này phù hợp với xu hướng chung của các nước văn minh tiến bộ, cũng phù
hợp với nguyên tắc của luật quốc tế: "Không nên phân biệt đối xử vì lý do dân
tộc, chủng tộc, tôn giáo, giới tính, chính kiến, ngôn ngữ, trình độ văn hóa".
Khái niệm này còn phù hợp với khái niệm về người nước ngoài được trình
bày trong Từ điển bách khoa Công an nhân dân Việt Nam [43, tr. 462].
Việc một người là công dân của nước này hay nước khác phụ thuộc
vào quốc tịch của người đó mang và quốc tịch trở thành một chế định pháp lý
quan trọng để nhìn nhận tư cách pháp lý của một con người tại một quốc gia
là hoàn toàn hợp lý, chỉ có điều người ta căn cứ vào đâu để cho rằng một
người mang quốc tịch một nước nào lại là vấn đề cần đặt ra để nghiên cứu,
việc chứng minh quốc tịch của một người đang còn nhiều tranh cãi, xong hiện
nay vì nhiều lý do khác nhau người ta có thể coi hộ chiếu như là một trong
những loại giấy tờ quan trọng có giá trị chứng minh tình trạng quốc tịch của
người đó.
b. Khái niệm tội phạm có yếu tố nước ngoài
- Theo quy định tại Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999, thì khái niệm về
tội phạm quy định như sau:
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định
trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự
thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến độc lập, chủ
12
quyền, thống nhất và toàn vện lãnh thổ của Tổ quốc, xâm phạm đến
chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa quốc phòng, an ninh,
trật tự, an toàn xã hội, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm
định trong Luật hình sự Việt Nam, cũng như những quy định chung về luật
quốc tế. Nó xâm hại đến những khách thể không chỉ Luật hình sự Việt Nam
quy định mà Luật quốc tế cũng quy định và bảo vệ.
Thứ hai: Nó phải thỏa mãn yếu tố nước ngoài như phần trên tác giả đã
phân tích thế nào là người nước ngoài.
Như vậy có thể đưa ra một định nghĩa về tội phạm có yếu tố nước
ngoài như sau: Tội phạm có yếu tố nước ngoài là những hành vi nguy hiểm
cho xã hội được quy định trong luật hình sự quốc tế và luật hình sự quốc gia
và liên quan đến người nước ngoài.
c. Khái niệm về tin báo, tố giác tội phạm có yếu tố nước ngoài
Như chúng ta cũng biết, tin báo tố giác tội phạm luôn được coi là
nguồn cung cấp thông tin để xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm,
nhưng việc xác định điều này phụ thuộc vào cơ quan điều tra tổ chức tiến
hành thu thập và điều tra xác minh làm rõ nguồn gốc cũng như tính xác thực
của các tin báo tố giác trên. Vậy tin báo và tố giác tội phạm là gì và được
cung cấp bởi những nguồn nào?
Tin báo tố giác tội phạm được hiểu là thông tin, thông báo, báo cáo
của các cơ quan, tổ chức với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án về
những hành vi, vụ việc đã xảy ra mà các cơ quan, tổ chức báo tin đó cho là có
dấu hiệu của tội phạm.
Tố giác về tội phạm được hiểu là việc tố cáo của công dân về những
hành vi nào đó mà họ cho rằng đó là tội phạm.
Theo quy định của luật tố tụng hình sự, tin báo, tố giác tội phạm được
cung cấp bởi những nguồn sau:
15
Thứ nhất: Tố giác của công dân, thông qua nhiều hình thức công dân
có thể cung cấp nhiều tin báo, tố giác tội phạm đến các cơ quan chức năng có
tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng. Việc phân loại này còn xác
định thẩm quyền giải quyết vụ việc cũng như thống kê số liệu loại vụ việc do
người nước ngoài phạm tội ở Việt Nam hàng năm.
- Phân loại theo đối tượng phạm tội: Đối tượng phạm tội là các nhà
đầu tư sang kinh doanh, buôn bán tại Việt Nam; đối tượng là khách du lịch
vào Việt Nam; đối tượng là Việt kiều về thăm thân, đối tượng là những người
sang Việt Nam theo con đường hợp pháp khác nhưng không mang mục đích
du lịch: như người nhà của những người làm ăn tại Việt Nam...
- Phân loại theo vụ việc phạm tội: Phạm tội đơn lẻ; phạm tội có tính
chất đồng phạm hay tội phạm có tổ chức...
Việc phân loại như trên rất có ý nghĩa trong công tác thống kê tội
phạm hình sự có yếu tố nước ngoài hàng năm, từ đó đưa ra những giải pháp
phòng ngừa đấu tranh chống tội phạm có yếu tố nước ngoài.
1.1.3. Ý nghĩa của tin báo, tố giác tội phạm có yếu tố nước ngoài
- Hoạt động khởi tố vụ án hình sự phải trên cơ sở những tin báo, tố
giác tội phạm được phản ánh từ các nguồn cung cấp thông tin khác nhau theo
quy định của pháp luật tố tụng hình sự, đặc biệt là đối với các tin báo, tố giác
liên quan đến người nước ngoài. Ví dụ có nguồn tin báo tại địa điểm X có một
xác chết là người nước ngoài, nhận được tin báo chuyển đến (việc chuyển đến
bởi nhiều con đường khác nhau, như: công dân báo tin; cơ quan, tổ chức báo
tin), Cơ quan điều tra phải cử ngay cán bộ xuống hiện trường xem xét sự việc,
xác minh độ chính xác của nguồn tin báo, nếu đúng phải tổ chức bảo vệ hiện
trường, thông báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra chức năng có thẩm quyền, chủ
trì tiến hành thành lập hội đồng khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử
thi; trưng cầu giám định nếu thấy cần thiết... sau đó thống nhất nhận định có
19
hay không có dấu hiệu tội phạm và quyết định có khởi tố hay không khởi tố vụ
Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội
phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ sở sau
đây:
1. Tố giác của công dân
2. Tin báo của các cơ quan, tổ chức
3. Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng;
4. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát; Tòa án, Bộ đội biên
phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Lực lượng Cảnh sát biển và các cơ
quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện
dấu hiệu của tội phạm;
5.Người phạm tội tự thú
- Tại điều 101 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có quy định về "Tố
giác và tin báo về tội phạm" như sau:
Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra,
Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố
giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản
và có chữ ký của người tố giác. Cơ quan, tổ chức khi phát hiện
hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về cho Cơ
quan điều tra bằng văn bản.
Như vậy, pháp luật tố tụng hình sự quy định chung cho bất kỳ công
dân nào đều có quyền tố giác về hành vi phạm tội của bất kỳ ai, đặc biệt tin
báo, tố giác tội phạm có liên quan đến người nước ngoài.
21
Tin báo, tố giác tội phạm chính là những thông tin ban đầu mà công
dân, cơ quan, tổ chức với sự hiểu biết và tinh thần trách nhiệm của mình
thông báo đến các cơ quan chức năng, về những gì họ nghe thấy, nhìn thấy và
con người. Tuy nhiên pháp luật nhà nước Việt Nam cũng nghiêm cấm người
nước ngoài đến Việt Nam không mang thiện chí tốt đẹp tổ chức lôi kéo hoặc
câu kết với bọn tội phạm trong nước buôn bán hàng cấm, trộm cắp, cướp
của, giết người, những hành vi này phải bị phát hiện và xử lý nghiêm minh.
Tuy nhiên, cái khó là do những thông tin nhận được ban đầu thường không
đầy đủ và thiếu chính xác nên quá trình điều tra, xác minh làm rõ thường gặp
nhiều khó khăn, phức tạp. Nếu không khéo léo và tế nhị sẽ dễ gây phản ứng
từ phía người nước ngoài và Chính phủ của họ làm ảnh hưởng đến quan hệ
đối ngoại, hợp tác, đầu tư làm ăn, buôn bán giữa Nhà nước ta và các quốc gia,
vì vậy đòi hỏi Cơ quan điều tra phải hết sức thận trọng, chính xác trong hoạt
động của mình.
b. Tin báo, tố giác tội phạm có yếu tố nước ngoài rất đa dạng về nội
dung và nguồn gốc
- Đa dạng về nội dung: Mỗi hành vi phạm tội thường rất khác nhau,
xâm hại đến nhiều loại khách thể khác nhau được luật hình sự Việt Nam bảo
vệ, mỗi tin báo tố giác tội phạm cũng bao hàm nhiều nội dung khác nhau như
vậy, có thể tin báo tố giác về tội phạm có yếu tố nước ngoài chỉ mang một
thông tin nhỏ trong toàn bộ vụ án lớn, như: có nguồn tin cung cấp về hành vi
đánh người gây thương tích có liên quan đến người nước ngoài; có nguồn tin
báo về hành vi xâm hại tình dục có liên quan đến người nước ngoài, có tin
báo về hành vi móc túi tại bến xe liên quan đến người nước ngoài; có nguồn
tin báo về hành vi lừa đảo bằng hình thức đổi tiền liên quan đến người nước
ngoài; có tin báo về hành vi tiêu thụ, lưu hành tiền giả và lừa đảo liên quan
đến người nước ngoài tại Việt Nam thông qua hình thức mua hàng; có nguồn
tin báo về hành vi mua bán, tàng trữ, vận chuyển, chiếm đoạt... trái phép chất
23
ma túy liên quan đến người nước ngoài tại Việt Nam; có tin báo về hành vi
Tin báo còn có thể được cung cấp bởi các phương tiện thông tin đại
chúng như: báo, đài, truyền hình... những thông tin qua phương tiện thông tin
đại chúng này ít nhiều đều có sự việc, nhưng độ chính xác thường không cao,
báo chí hay thổi phồng sự thật theo nhận định chủ quan, nguy hiểm hơn là
thông tin này thường nhanh chóng đến được đông đảo quần chúng nhân dân
và họ dễ bị lầm tưởng và cho rằng sự việc xảy ra là đúng, nhưng khi Cơ quan
điều tra tiến hành điều tra, xác minh thì sự thật không phải như vậy, không có
dấu hiệu tội phạm, chỉ là hành vi vi phạm pháp luật khác hoặc vụ, việc hành
chính, không đủ căn cứ khởi tố vụ án. Sự việc được thông báo lại dễ gây sự
hiểu lầm trong nhân dân, cho rằng Cơ quan điều tra bao che dung túng, bảo kê
tội phạm... Qua đây cũng cần kiến nghị với các cơ quan có chức năng quản lý
báo chí, đài truyền hình nên có những quy định thẩm định chặt chẽ trước khi
cho đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng, phải đảm bảo tính chính
xác, tính chặt chẽ. Việc đưa tin "giật gân" trên các phương tiện thông tin đại
chúng dễ tác động mạnh đến dư luận xã hội và tâm trạng xã hội, thậm chí làm
rối loạn xã hội.
Người phạm tội tự thú về hành vi phạm tội của mình: Người phạm tội
tự thú có thể là người Việt Nam, cũng có thể là người nước ngoài. Đối với
người Việt Nam thì có thể tiến hành thu thập được ngay bằng hình thức lập
biên bản và cho viết tường trình sự việc, lấy lời khai thẩm tra. Nhưng đối với
người nước ngoài tự thú thì gặp không ít khó khăn, lúng túng, đó là sự bất
đồng ngôn ngữ cần phải trưng cầu người phiên dịch, việc này không thể có
ngay được, có nhiều trường hợp người phiên dịch, dịch không chuẩn những
thuật ngữ pháp lý, vì vậy chứng cứ thu thập được nhiều lúc thiếu chính xác,
thậm chí sai lệch, nên gây nhiều khó khăn, phức tạp cho hoạt động điều tra
xác minh làm rõ sự thật vụ án, đây cũng là điểm khác biệt giữa tin báo tố giác
nói chung với tin báo, tố giác có yếu tố nước ngoài.
25
26
là ưu điểm nhưng đôi khi sự cung cấp đó cũng làm cho Cơ quan điều tra khó
xác định, điều tra vì những thông tin này thường không đầy đủ thiếu tính
chính xác và cụ thể. Những thông tin như vậy làm mất thời gian thẩm tra xác
minh và kết luận, những tin báo tố giác thiếu tính chính xác dễ gây nên sự
hiểu lầm nhất là sự hiểu lầm của nhiều người, tạo ra sức ép lớn cho Cơ quan
điều tra trong quá trình điều tra vụ án. Chính vì vậy đã làm cho kết quả điều
tra đôi khi không bảo đảm tính xác thực.
1.2. NHẬN THỨC VỀ TỔ CHỨC TIẾP NHẬN VÀ XỬ LÝ TIN BÁO, TỐ
GIÁC TỘI PHẠM CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT
NHÂN DÂN CÔNG AN TỈNH QUẢNG NINH
1.2.1. Khái niệm về tổ chức tiếp nhận và xử lý tin báo, tố giác tội
phạm có yếu tố nước ngoài của lực lượng Cảnh sát nhân dân Công an
tỉnh Quảng Ninh
Trước hết hoạt động tổ chức tiếp nhận tin báo tố giác tội phạm có
yếu tố nước ngoài thuộc về các cơ quan chức năng có thẩm quyền. Đó là Cơ
quan điều tra, Viện kiểm sát, cũng như các cơ quan, tổ chức khác theo quy
định của pháp luật tố tụng hình sự. Đối với Viện kiểm sát thì ngay sau khi
nhận được tin báo tố giác tội phạm có yếu tố nước ngoài phải kịp thời thông
báo ngay bằng văn bản cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền kèm với kiến
nghị đề nghị giải quyết. Trong lực lượng Cảnh sát nhân dân Công an tỉnh
Quảng Ninh cơ quan trực tiếp tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm nói chung,
tội phạm có yếu tố nước ngoài là văn phòng cơ quan Cảnh sát điều tra Công
an tỉnh; Đội điều tra tổng hợp Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện.
Các phòng, Công an các huyện, thị xã, thành phố Hạ Long trong Công an
Quảng Ninh nhận được tin báo, tố giác tội phạm có yếu tố nước ngoài phải
lập biên bản ghi nhận sự việc và báo cáo kịp thời cho Văn phòng Cơ quan
Cảnh sát điều tra để thống kê, phân loại và đề xuất Giám đốc Công an tỉnh
vụ việc liên quan đến người nước ngoài ngày 22/4/2003 của Giám đốc Công
an tỉnh Quảng Ninh) giải quyết. Đây là quy định hợp lý. Vì vấn đề người