Xây dựng bản mô tả công việc của các chức danh không chuyên trách cấp phường - Pdf 39

Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Phạm Thị Toàn
MỤC LỤC

SVTH: Nguyễn Văn Trà

Trang 1


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Phạm Thị Toàn
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài:
Nguồn nhân lực là một nguồn lực đặc biệt, là yếu tố vận hành mọi nguồn lực
khác và đóng vai trò quyết định đến sự tăng trưởng và phát triển của mọi quốc gia,
tổ chức. Một tổ chức dù có máy móc hiện đại, tài chính dồi dào, nhưng con người
của tổ chức không có năng lực, không được bố trí vào những công việc phù hợp
với khả năng thì cũng khó thành công. Vì thế, công tác quản lý nguồn nhân lực đã,
đang và sẽ trở thành một hoạt động quan trọng hàng đầu, quyết định sự thành công
hay thất bại của mọi tổ chức.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là gốc của mọi công việc”,
“Công việc muốn thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Thực tế cái
tốt, kém của mọi người đều có thể tăng lên hoặc giảm đi tuỳ thuộc khá nhiều vào
cách thức và quá trình sử dụng họ. Cán bộ, công chức cấp cơ sở là nòng cốt của bộ
máy chính quyền địa phương. Để xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh,
hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, bên cạnh việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
cấp xã có chất lượng thì cũng cần quan tâm đến việc xây dựng và phát triển đội
ngũ những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã. Là một bộ phận quan

Chính vì những yêu cầu cấp thiết trên, chúng tôi chọn vấn đề “Xây dựng bản
mô tả công việc của các chức danh không chuyên trách cấp phường” nghiên
cứu thực tế tại Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
của mình. Do đề tài là một lĩnh vực khá rộng nên chúng tôi chỉ xây dựng bản mô tả
công việc của 5 chức danh không chuyên trách cấp phường. Tác giả hy vọng khóa
luận sẽ đóng góp vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ những người
hoạt động không chuyên trách nói riêng và bộ máy chính quyền cơ sở nói chung.
2. Tình hình nghiên cứu:
Nhận thức được vai trò quan trọng của việc nâng cao hiệu quả công tác tổ
chức, quản lý, bố trí và sử dụng đội ngũ những người hoạt động không chuyên
trách cấp xã, những năm qua đã có một số công trình nghiên cứu khoa học liên
quan đến đội ngũ những người hoạt động không chuyên trách như sau:
Luận văn Thạc sỹ: “Nâng cao chất lượng thực thi công vụ của đội ngũ cán
bộ, công chức cấp xã qua nghiên cứu thực tiễn của tỉnh Hải Dương” của tác giả
Lương Thị Quyên;
Luận văn Thạc sỹ: “Nâng cao năng lực thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ,
công chức cấp xã ở thành phố Cần Thơ” của tác giả Võ Thị Thu Thủy;
Luận văn Thạc sỹ: “Nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ
không chuyên trách cấp phường từ thực tiễn tỉnh An Giang” của tác giả Phan Thị
Tuyết Minh.
SVTH: Nguyễn Văn Trà

Trang 3


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Phạm Thị Toàn

Các đề tài trên là những tài liệu vô cùng quý giá đối với tác giả trong quá

Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Phạm Thị Toàn

của đội ngũ những người hoạt động không chuyên trách cấp phường tại Thành phố
Hồ Chí Minh.
Áp dụng quy trình xây dựng bản mô tả công việc để hoàn thành 5 bản mô tả
công việc cho 5 chức danh không chuyên trách cấp phường tại Thành phố Hồ Chí
Minh.
Đề xuất một số giải pháp phù hợp với thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí
Minh để đảm bảo thực hiện bản mô tả công việc của các chức danh không
chuyên trách, từ đó nâng cao hiệu quả làm việc của họ.
7. Kết cấu của khóa luận:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
khóa luận được chia làm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về những người hoạt động không chuyên
trách cấp phường và bản mô tả công việc.
Chương 2: Xây dựng bản mô tả công việc của 5 chức danh không chuyên
trách cấp phường tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện bản mô tả công việc
cho các chức danh không chuyên trách cấp phường.

SVTH: Nguyễn Văn Trà

Trang 5


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Phạm Thị Toàn

SVTH: Nguyễn Văn Trà

Trang 6


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Phạm Thị Toàn

Chỉ huy trưởng Quân sự; 15. Lao động - Thương binh và Xã hội; 16. Cán bộ phụ
trách Kinh tế (công, nông, lâm, ngư nghiệp, kế hoạch, thương mại, dịch vụ); 17.
Thủ quỹ - Văn thư - Lưu trữ; 18. Dân số - Kế hoạch hóa gia đình; 19. Văn hóa
thông tin - Thể dục thể thao - Gia đình; 20. Bình đẳng giới - Trẻ em; 21. Thống kê
Quân sự.
1.1.2. Số lượng.
Khoản 3b, Điều 19, Nghị định số 29/2013/NĐ-CP ngày 08 tháng 04 năm
2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng
10 năm 2009 của Chính phủ quy định như sau: “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình
Hội đồng nhân dân cùng cấp quy định cụ thể số lượng và chức danh những người
hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố”. Do đó số lượng của
đội ngũ này không thống nhất trên phạm vi cả nước.
Theo Thông tư liên tịch số 03/2010/TTLT-BNV-BTC-BLĐTBXH ngày 27 tháng 5
năm 2010 hướng dẫn thực hiện Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm
2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán
bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên
trách ở cấp xã; số lượng cán bộ chuyên trách và không chuyên trách ở cấp xã,
phường, thị trấn như sau:
Số lượng những người

Phân loại xã,

trách


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Phạm Thị Toàn

1.1.3. Đặc trưng.
* Phần lớn những người hoạt động không chuyên trách giữ những vị trí
không nằm trong hệ thống cơ quan quản lý hành chính nhà nước.
Theo khái niệm trên, những người hoạt động không chuyên trách không
thuộc hệ thống cơ quan quản lý hành chính Nhà nước là:
- Trưởng ban Tổ chức Đảng;
- Trưởng ban Tuyên giáo;
- Cán bộ Văn phòng Đảng ủy;
- Phó Trưởng Công an (Nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy);
- Phó chỉ huy Trưởng Quân sự;
- Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc;
- Phó các đoàn thể cấp xã: Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh; Hội liên
hiệp phụ nữ; Hội nông dân; Hội cựu chiến binh; Chủ tịch Hội người cao tuổi; Chủ
tịch Hội chữ thập đỏ Việt Nam.
Như vậy trên phương diện chức danh, những người hoạt động không chuyên
trách không thuộc cơ quan hành chính nhà nước có 12 chức danh trên tổng số 21
chức danh.
* Đội ngũ này không được hưởng lương mà chỉ hưởng phụ cấp.
Những người hoạt động không chuyên trách không được hưởng lương mà chỉ
được hưởng phụ cấp. Căn cứ Điều 14, Nghị định số 92/2009/NĐ-CP thì phụ cấp và
khoán kinh phí đối với những người hoạt động không chuyên trách như sau:
Những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã được hưởng chế độ phụ
cấp. Mức phụ cấp cụ thể của từng chức danh do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy

Những người hoạt động không chuyên trách có số lượng lớn là 5851 người, chiếm
48,7%. Đây được xem là một bộ phận có những góp quan trọng trong mọi lĩnh vực
đời sống kinh tế - xã hội ở địa phương.
Xuất phát từ vị trí và đặc trưng công việc của mình trong hệ thống hành
chính nhà nước, những người làm việc không chuyên trách có ba vai trò chính, cụ
thể là:
Thứ nhất, những người hoạt động không chuyên trách là lực lượng tham gia
trực tiếp, tích cực vào nhiệm vụ quản lý chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội và an
ninh trật tự tại các UBND cấp phường.
Như đã nói ở trên, những người hoạt động không chuyên trách chiếm một tỷ
lệ lớn trong toàn bộ nền hành chính. Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ mà họ đảm
nhận, mỗi chức danh này đều có những công việc cụ thể phải làm liên quan đến
công tác quản lý nhà nước trên địa bàn phường, xã và trực tiếp liên hệ với UBND
quận về các hoạt động chuyên môn liên quan đến vị trí công việc. Như vậy, cũng
như bất cứ một cán bộ, công chức nào, họ cũng có vai trò lớn đảm bảo hiệu quả
hoạt động quản lý Nhà nước ở cơ sở.
Thứ hai, những người làm việc không chuyên trách đóng vai trò quan trọng
trong việc tham mưu, giúp UBND phường chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của
UBND phường trong lĩnh vực mình phụ trách.
SVTH: Nguyễn Văn Trà

Trang 9


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Phạm Thị Toàn

Bên cạnh việc thực hiện những nhiệm vụ riêng, những người hoạt động
không chuyên trách có khả năng thực hiện công tác tham mưu, giúp đỡ UBND

Trang 10


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Phạm Thị Toàn

nhiệm, điều kiện làm việc và những vấn đề liên quan đến những vị trí công việc cụ
thể”.
Khoản 3, Điều 7, Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Vị trí việc
làm là công việc gắn với chức danh, chức vụ, cơ cấu và ngạch công chức để xác
định biên chế và bố trí công chức trong cơ quan, tổ chức, đơn vị”.
Nghị định 41/2012/NĐ-CP ngày 08 tháng 5 năm 2012 của Chính phủ quy
định vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập quy định: “Vị trí việc làm là
công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lý
tương ứng; là căn cứ xác định số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức để thực
hiện tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập”.
Trong quản lý nguồn nhân lực luôn có sự phân biệt giữa “chức danh công
việc” hay vị trí và “cá nhân” đảm nhận chức danh công việc. Do đó, cách hiểu
thống nhất trong khóa luận này thì bản mô tả công việc là bản mô tả những thông
tin liên quan tới “chức danh công việc”.
Như vậy “Bản mô tả công việc” thực chất chính là một văn bản cụ thể hóa
những nhiệm vụ, trách nhiệm, điều kiện làm việc và những vấn đề có liên quan đến
một vị trí công việc cụ thể.
1.2.2. Nội dung.
Bản mô tả công việc không có tiêu chuẩn chung và chưa được quy định trong
văn bản pháp luật nào. Chính vì vậy có rất nhiều mẫu bản mô tả được đưa ra trên
thực tế, tuy nhiên trong khóa luận này chúng tôi đưa ra nội dung bản mô tả công
việc như sau:
- Nhận diện công việc: Tên công việc (chức danh); Phòng hoặc ban; Mã số

mô tả một cách tóm tắt công việc. Bản mô tả công việc giúp cho chúng ta hiểu
được nội dung, yêu cầu của công việc và hiểu được quyền hạn, trách nhiệm khi
thực hiện công việc.
Bản yêu cầu chuyên môn công việc là văn bản liệt kê những yêu cầu về năng
lực cá nhân như trình độ học vấn, kinh nghiệm công tác, khả năng giải quyết vấn
đề, các kỹ năng khác và các đặc điểm cá nhân thích hợp cho công việc.
Bản tiêu chuẩn kết quả công việc là các thước đo dựa trên cơ sở những kỳ
vọng về kết quả công việc đối với một vị trí. Bản tiêu chuẩn kết quả công việc
được sử dụng để đánh giá mức độ hoàn thành công việc (mức độ kết quả) so với
những kỳ vọng đó. Nói cách khác, các tiêu chuẩn đánh giá đó chính là kết quả
mong muốn sẽ đạt được nếu như những người giữ công việc thực hiện tốt công
việc. Bản tiêu chuẩn thực hiện công việc giúp chúng ta hiểu được tổ chức cần loại
nhân viên như thế nào để thực hiện công việc đó một cách tốt nhất.
Đối với hầu hết các vị trí, bản tiêu chuẩn kết quả công việc bao gồm ba phạm
trù: Chất lượng; Số lượng hoặc năng suất lao động; Thời hạn.
Bản mô tả công việc, bản yêu cầu chuyên môn công việc và bản tiêu chuẩn
kết quả công việc là cơ sở quan trọng để tuyển dụng, chọn lựa, đào tạo, huấn luyện,

SVTH: Nguyễn Văn Trà

Trang 13


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Phạm Thị Toàn

đánh giá nhân viên, xác định giá trị công việc và trả lương khen thưởng một cách
chính xác.
Quy trình xây dựng bản mô tả công việc gồm 4 bước như sau:


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Phạm Thị Toàn

* Nguồn thông tin: Sơ đồ tổ chức, quy định phân công nhiệm vụ đối với từng
phòng chuyên môn của cơ quan; Các bản mô tả vị trí và tiêu chuẩn tại vị trí việc
làm hiện tại (nếu có); Danh mục hồ sơ công việc hàng năm của cơ quan, đơn vị;
Phân công nhiệm vụ của từng phòng chuyên môn; Các nhiệm vụ được giao thêm
theo kết luận, quyết định của thủ trưởng cơ quan, đơn vị; Những người trực tiếp
liên quan đến công việc cần mô tả như: Nhà quản lý trực tiếp, người trực tiếp thực
thi công việc...
* Phương pháp thu thập thông tin: Có thể sử dụng các phương pháp như:
Quan sát, phỏng vấn, bản câu hỏi, nhật ký ngày làm việc và kết hợp các phương
pháp lại với nhau.
Phương pháp quan sát: Là phương pháp mà người cán bộ quản lý tiến hành
quan sát một người hoặc một nhóm người thực hiện công việc và ghi lại đầy đủ các
thông tin như người đó thực hiện như thế nào, ở đâu… Phương pháp này không
nên áp dụng cho các công việc khó quan sát như liên quan đến hoạt động trí óc và
kết quả sẽ chính xác hơn khi loại bỏ được các yếu tố chủ quan của người quan sát
và người được quan sát.
Phương pháp ghi chép các sự kiện quan trọng: Đây là phương pháp mà người
nghiên cứu sẽ ghi chép lại các hành vi thực hiện công việc của người lao động làm
việc có hiệu quả và cả người làm việc không có hiệu quả để có thể khái quát và
phân loại các đặc trưng chung của công việc cần mô tả và các đòi hỏi của công
việc. Khi thực hiện phương pháp này người nghiên cứu sẽ thấy được sự linh hoạt
trong thực hiện một công việc ở nhiều người khác nhau. Tuy nhiên sử dụng
phương pháp này khá tốn thời gian, đồng thời cũng có hạn chế trong việc xây dựng
các hành vi trung bình để thực hiện công việc. Phương pháp này rất thích hợp cho
việc mô tả công việc và xây dựng các tiêu chuẩn thực hiện công việc.

hiểu. Các ý kiến trao đổi sẽ được làm sáng tỏ và bổ sung chi tiết. Các chuyên gia
có thể là người am hiểu về công việc, Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND, giảng viên
các trường đại học, bản thân những người hoạt động không chuyên trách. Phương
pháp này được sử dụng để thu thập thông tin phục vụ nhiều mục đích phân tích
công việc, xây dựng phiếu đánh giá thực hiện công việc. Tuy nhiên phương pháp
này khá tốn kém về thời gian và tiền bạc nên thông thường chỉ những công việc có
chức vụ cao và khó phân tích công việc thì phương pháp này mới được sử dụng
đến.
* Tiến hành thu thập thông tin:
Sau khi xác định và thiết kế được các cách thu thập thông tin thì các cán bộ
phân tích công việc sẽ tiến hành thu thập thông tin. Quá trình thu thập nên được dự
tính từ trước để tránh lãng phí thời gian, tốn kém chi phí mà kết quả không cao.
Vấn đề đặt ra đối với người thu thập thông tin là làm thế nào để có thể thu
thập được những thông tin chính xác nhất và liên quan nhất đến công việc cần
phân tích trong hệ thống thông tin khổng lồ có thể tiếp cận được.
SVTH: Nguyễn Văn Trà

Trang 16


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Phạm Thị Toàn

Bước 3: Phác thảo bản mô tả công việc
Thông tin sau khi được thu thập cần được xử lý, xác thực, loại bỏ những
thông tin không đúng, phân loại và tổng hợp các thông tin lại.
* Thẩm định thông tin thu thập được:
Là thẩm định lại độ chính xác của thông tin, bổ sung những thông tin còn
thiếu, điều chỉnh những thông tin sai lệch, nhận được sự nhất trí của người thực



Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Phạm Thị Toàn

Sử dụng cách diễn đạt nhiệm vụ cơ bản ở đầu và kết thúc với câu thực hiện
các nhiệm vụ liên quan khác theo yêu cầu, không liệt kê tất cả các nhiệm vụ.
Thể hiện các nhiệm vụ riêng biệt một cách rõ ràng và ngắn gọn, không sử
dụng ngôn ngữ chuyên môn.
Đề cập đến chức danh, vị trí chứ không phải là từng người cụ thể.
Đảm bảo sự khách quan và chính xác khi mô tả công việc, phải mô tả theo
cách nó phải được thực hiện trên thực tế.
Sử dụng các từ có tính hành động, nhấn mạnh những gì mà người đảm nhận
công việc cần phải làm mà không cần phải giải thích quy trình áp dụng.
Mô tả một cách đơn giản và ngắn gọn, không làm cho bản mô tả công việc
quá rườm rà, sự dài dòng của bản mô tả công việc không làm tăng tầm quan trọng
của công việc.
Bản mô tả công việc không phải cố định mà cần được cập nhật thường
xuyên.
* Một số lỗi cần tránh trong xây dựng bản mô tả công việc:
Chức danh không chuẩn hoá, khó hiểu. Với bản mô tả công việc như vậy khi
tiến hành tuyển dụng, người lao động sẽ không hình dung được công việc. Do đó,
tổ chức có thể bỏ lỡ cơ hội tìm được ứng viên phù hợp. Điều này dẫn đến lãng phí
thời gian và tiền bạc mà không tuyển được người như mong muốn.
Mô tả những việc không làm trong thực tế. Sẽ làm sai lệch giá trị của công
việc, dẫn đến thiếu chính xác và công bằng trong trả lương. Do vậy khi soạn thảo,
cần đảm bảo mô tả đúng với thực tế, không đưa vào những việc mà họ không còn
làm ở hiện tại cũng như những việc mà trong tương lai mới thực hiện.
Mô tả quá chi tiết hoặc có quá nhiều thông tin. Bản mô tả công việc sẽ không

người viết cần phải công tâm, khách quan, mô tả chính xác, không cao hơn hoặc
thấp hơn với thực tế công việc mà mỗi vị trí đang thực hiện.
Mô tả công việc trùng lắp, chồng chéo giữa các vị trí dẫn đến sự phân chia
trách nhiệm giữa các vị trí không rõ ràng và có sự đùn đẩy trong công việc. Đây là
một lỗi rất thường gặp trong quá trình xây dựng do người viết không có sự đối
chiếu, tham khảo một cách có hệ thống với các bản mô tả công việc khác.
1.3. Nguyên tắc và căn cứ xây dựng bản mô tả công việc cho các chức
danh không chuyên trách.
* Nguyên tắc xây dựng bản mô tả công việc:
- Phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
từng cơ quan, tổ chức, đơn vị;
- Bảo đảm tính khoa học, khách quan, công khai, minh bạch và phù hợp với
điều kiện thực tiễn;
- Mỗi bản mô tả công việc luôn gắn với một chức danh không chuyên trách
nhất định;
- Phải tuân thủ quy định của pháp luật về quản lý đội ngũ những người hoạt
động không chuyên trách.
* Căn cứ xây dựng bản mô tả công việc:
- Văn bản quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của cơ
quan, tổ chức, đơn vị được cấp có thẩm quyền ban hành;
SVTH: Nguyễn Văn Trà

Trang 19


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Phạm Thị Toàn

- Tính chất, đặc điểm, yêu cầu công việc của từng chức danh;

những người hoạt động không chuyên trách thực hiện dễ dàng, đáp ứng yêu cầu
SVTH: Nguyễn Văn Trà

Trang 20


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Phạm Thị Toàn

của một nền hành chính hiện đại. Căn cứ vào sản phẩm của phân tích công việc,
UBND cấp phường có thể nhận định xem liệu người lao động làm các công việc
đó đã đáp ứng đủ các yêu cầu để thực hiện công việc hay chưa, còn thiếu những
yếu tố gì, từ đó xem xét có nên thực hiện đào tạo hay không, nếu có thì nên được
tiến hành như thế nào, cho những ai, thời gian tiến hành ra sao. Cần sử dụng bản
mô tả công việc để xây dựng chương trình đào tạo phù hợp với từng người lao
động và với yêu cầu của tổ chức, dưới sự giúp đỡ của những người có trình độ
chuyên môn cao, có nhiều kinh nghiệm. Như vậy bản mô tả công việc là cơ sở giúp
công tác đào tạo và phát triển những người hoạt động không chuyên trách được
thực hiện thành công.
Thứ ba, bản mô tả công việc là cơ sở để trả lương cho những người hoạt
động không chuyên trách phù hợp với năng lực, từ đó tạo động lực làm việc cho
họ. Theo lý thuyết việc trả lương trong tổ chức phải đảm bảo phù hợp với năng lực
và đảm bảo sự công bằng cho người lao động. Tuy nhiên, những người hoạt động
không chuyên trách cấp xã chỉ được hưởng phụ cấp chứ không phải là lương. Điều
này làm giảm động lực làm việc của những người hoạt động không chuyên trách.
Sau khi xây dựng chương trình phân tích công việc, bản mô tả công việc sẽ góp
phần xác định giá trị của một công việc và có cái nhìn cụ thể về công việc đó so
với các công việc khác trong tổ chức. Bản mô tả công việc, bản tiêu chuẩn kết quả
công việc giúp xác định những đặc tính liên quan và tính phức tạp của công việc.

sự đầu tư nghiên cứu thật sự. Trên cơ sở những vấn đề về lý luận, chúng ta sẽ có
thể thực hiện xây dựng bản mô tả công việc một cách chính xác và đáp ứng được
yêu cầu mà thực tiễn đặt ra. Đây chính là cơ sở để tiến hành công tác xây dựng bản
mô tả công việc một cách khoa học và hợp lý nhất.
CHƯƠNG 2:
XÂY DỰNG BẢN MÔ TẢ CÔNG VIỆC CỦA CÁC CHỨC DANH KHÔNG
CHUYÊN TRÁCH CẤP PHƯỜNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1. Thực trạng về đội ngũ những người hoạt động không chuyên trách
cấp phường tại Thành phố Hồ Chí Minh.
2.1.1. Thực trạng:
* Đội ngũ những người hoạt động không chuyên trách cấp phường tại
Thành phố Hồ Chí Minh.
 Về số lượng.
Thành phố Hồ Chí Minh có 24 quận, huyện với 322 phường, xã, thị trấn.
Trong đó: 230 đơn vị hành chính cấp phường loại 1; 91 đơn vị loại 2; 01 đơn vị
loại 3.
Về lý thuyết, căn cứ Thông tư liên tịch số 03/2010/TTLT-BNV-BTCBLĐTBXH ngày 27 tháng 5 năm 2010 hướng dẫn thực hiện Nghị định 92/NĐ-CP
SVTH: Nguyễn Văn Trà

Trang 22


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Phạm Thị Toàn

của Chính phủ, số lượng cán bộ chuyên trách và không chuyên trách ở cấp xã,
phường, thị trấn là:
Số lượng những người


quá 7864 cán bộ, công chức và 6899 những người hoạt động không chuyên trách.
Tuy nhiên theo Quyết định số 59/2010/QĐ-UBND về số lượng, chức danh và
chế độ, chính sách đối với cán bộ không chuyên trách phường, xã, thị trấn: Đối với
phường, thị trấn có trên 30.000 dân, cứ thêm 3.000 dân bố trí thêm 01 người; Xã
có trên 20.000 dân, cứ thêm 2.000 dân bố trí thêm 01 người. Do đó tổng số những
người hoạt động không chuyên trách được bố trí theo quy định của Thành phố là
7103 người.
Trên thực tế, số lượng người hoạt động không chuyên trách ít hơn nhiều.
Theo thống kê của Sở Nội vụ tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2011 thì số lượng cán
bộ công chức là 12000 người, trong đó:
Cán bộ chuyên trách: 2903 người, chiếm 24,2%;
Công chức: 3246 người, chiếm 27,1%;
Những người hoạt động không chuyên trách: 5851 người, chiếm 48,7%.
Như vậy, theo lý thuyết số người hoạt động không chuyên trách là 7103
người nhưng trên thực tế là 5851 người, ít hơn so với lý thuyết 1252 người.
 Về chức danh.
Có tất cả 21 chức danh những người hoạt động không chuyên trách ở
phường, xã, thị trấn thuộc thành phố Hồ Chí Minh theo Nghị định 92/NĐ-CP của
Chính phủ. Mỗi chức danh bố trí 01 người phụ trách, riêng các chức danh sau bố
trí số lượng theo yêu cầu công việc ở phường, xã, thị trấn:
SVTH: Nguyễn Văn Trà

Trang 23


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Phạm Thị Toàn

- Phó Trưởng Công an bán chính quy: Bố trí từ 1 đến 2 người (theo Quyết

Hướng dẫn số 1372/HDLS-NV-TC ngày 20 tháng 9 năm 2010 về số lượng,
bố trí chức danh cán bộ, công chức, những người hoạt động không chuyên trách và
chế độ, chính sách đối với những người hoạt động không chuyên trách phường, xã,
thị trấn theo Nghị định số 92/NĐ-CP.
SVTH: Nguyễn Văn Trà

Trang 24


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: ThS. Phạm Thị Toàn

Theo đó, việc quản lý, sử dụng những người hoạt động không chuyên trách
cấ xã, phường của Thành phố có một số nội dung cơ bản sau:
 Tuyển dụng những người hoạt động không chuyên trách.
Những người hoạt động không chuyên trách là đội ngũ dự bị của cán bộ và
công chức nên tuyển dụng cần tính đến độ tuổi, trình độ chuyên môn nghiệp vụ,
phẩm chất, năng lực. Ngoài trừ một số chức danh khối Đảng, đoàn thể cần có cán
bộ có năng lực, kinh nghiệp lãnh đạo, công tác vận động quần chúng hoặc công tác
tôn giáo, các chức danh còn lại phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ từ trung cấp
trở lên, phù hợp với các lĩnh vực công tác của phường, xã, thị trấn.
Tiếp tục áp dụng hình thức hợp đồng lao động giữa Chủ tịch Ủy ban nhân
dân phường, xã, thị trấn với những người hoạt động không chuyên trách. Đối với
các chức danh làm nhiệm vụ chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân, trước khi ký hợp
đồng lao động, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường, xã, thị trấn gửi công văn kèm
sơ yếu lý lịch và bằng cấp chuyên môn gửi Trưởng Phòng Nội vụ xem xét, có
thông báo thoả thuận nhân sự, làm cơ sở ký hợp đồng lao động với người được
tuyển dụng. Đối với các chức danh bầu cử hoặc bổ nhiệm (kể cả Phó Công an xã,
Phó Chỉ huy trưởng Quân sự), sau khi có quyết định phê chuẩn, chuẩn y, công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status