ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN VĂN MINH
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT BÓN PHÂN
CHO CÀ PHÊ VỐI (Coffea Canephora Pierre) GIAI ĐOẠN
KINH DOANH TRÊN ĐẤT BAZAN TẠI ĐẮK LẮK
Chuyên ngành : Khoa học cây trồng
Mã số
: 62.62.01.10
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
HUẾ, NĂM 2014
Công trình được hoàn thành tại: Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Huế
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Anh Dũng
TS. Lê Thanh Bồn
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Đại học Huế tại:
Vào lúc:
giờ
làm thế nào để vừa tăng năng suất đồng thời nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh tế cây cà phê vối của tỉnh
cho tương xứng với tiềm năng đó là một vấn đề lớn cần phải quan tâm.
Cà phê là cây công nghiệp dài ngày, quá trình ra hoa, thụ phấn và đậu quả diễn ra trong một thời
gian dài chủ yếu trong mùa khô. Đây là giai đoạn quan trọng nhất quyết định đến năng suất và chất lượng cà
phê. Giai đoạn này cây cà phê vối có nhu cầu không cao về dinh dưỡng đặc biệt là đạm, lân, kali và một số
nguyên tố vi lượng thuận lợi cho quá trình ra hoa, đậu quả tập trung như kẽm và bo nhưng không thể thiếu.
Tuy nhiên, qui trình bón phân theo khuyến cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hiện nay chỉ có
20% tổng lượng đạm được bón vào giữa mùa khô, lân và kali không được bón.
Cà phê là cây lâu năm, sinh khối cành lá rất lớn, cho rất nhiều quả, năng suất cao, hàng năm cây lấy
đi một lượng lớn chất dinh dưỡng từ đất. Tôn Nữ Tuấn Nam và Trương Hồng, (1999) cho rằng trong điều
kiện tại Đắk Lắk mỗi tấn cà phê nhân (kể cả vỏ quả khô) đã lấy đi từ đất (41 kg N; 6 kg P2O5 và 50 kg K2O)
chưa kể lượng đạm, lân và kali cần thiết giúp cây sinh trưởng, phát triển bình thường. Mặt khác khi bón phân
vào đất, cây cà phê cũng không sử dụng hết lượng phân đã bón do quá trình rửa trôi, bốc hơi hoặc bón phân
không đúng kĩ thuật đã làm thất thoát đi một lượng lớn phân bón, đặc biệt là đạm. Trong khi đó, năng suất cà
phê nhân bình quân cả nước ngày càng tăng cao, năm 2012 đạt (2,32 tấn/ha) tăng 57% so với năm 2002 (1,48
tấn/ha). Vì vậy, bón đạm, lân và kali cho cây cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan theo quy trình
khuyến cáo của Bộ NN&PTNT năm 2002 dường như không còn phù hợp với thực tế sản xuất hiện nay tại
Đắk Lắk. Việc bón tăng liều lượng và số lần bón đạm và kali cho cây cà phê là rất cần thiết góp phần giữ
vững và nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cây cà phê, cây đã đóng góp trên 40% GDP của
tỉnh và hàng triệu người dân sống nhờ vào việc sản xuất, kinh doanh cà phê.
Đã có nhiều nghiên cứu của các tác giả về sử dụng phân bón đa lượng cho cây cà phê vối giai đoạn
kinh doanh trên đất bazan như: Trương Hồng, Tôn Nữ Tuấn Nam, Trình Công Tư, Lê Hồng Lịch, Nguyễn
Tiến Sĩ.... nhưng chưa có nghiên cứu nào đề cập một cách toàn diện đến phối hợp phân đạm, lân và kali cho
cà phê vối giai đoạn kinh doanh đặc biệt là trong mùa khô ở Đắk Lắk về liều lượng, số lần, tỉ lệ bón và nồng
độ phun bổ sung các yếu tố vi lượng như kẽm và bo. Xuất phát từ đó, tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu một số
biện pháp kỹ thuật bón phân cho cây cà phê vối (Coffea canephora Pierre) giai đoạn kinh doanh trên đất
bazan tại Đắk Lắk” làm luận án Tiến sĩ của mình.
1
- Đề tài đề cập đến vấn đề mới là bón đạm, lân và kali trong mùa khô với liều lượng, số lần và tỉ lệ
nhất định cho cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan mà các nghiên cứu khác về phân bón cho cà
phê chưa đề cập hoặc đề cập ở những khía cạnh khác.
- Đề tài nghiên cứu sâu các chỉ tiêu về sinh lý quang hợp của cây cà phê vối như hàm lượng diệp lục,
carotenoit, cường độ quang hợp, nồng độ CO2 trong gian bào, cường độ thoát hơi nước và độ mở khí khổng
là những minh chứng rõ ràng cho quá trình ảnh hưởng của đạm, lân và kali đến quá trình sinh trưởng, phát
triển, năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế của cây cà phê vối giai đoạn kinh doanh.
- Đề tài tập trung nghiên cứu sâu về kẽm và bo (hai nguyên tố vi lượng quan trọng nhất ảnh hưởng
trực tiếp đến quá trình ra hoa, đậu quả tập trung dẫn tới ổn định và nâng cao năng suất, chất lượng cà phê).
Kết quả nghiên cứu về hàm lượng kẽm và bo sau khi phân tích trong đất, bón bổ sung, phân tích trong lá và
tương quan giữa diệp lục, quang hợp, sinh trưởng với năng suất và chất lượng cà phê nhân là các kết quả mới
quan trọng về vai trò của kẽm và bo với cây cà phê vối giai đoạn kinh doanh.
2
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình sản xuất cà phê trên thế giới và trong nước
1.1.1. Trên thế giới
1.1.2. Ở Việt Nam
1.1.3. Tình hình sản xuất cà phê ở Tây Nguyên
1.1.4. Tình hình sản xuất, xuất khẩu cà phê ở Đắk Lắk
1.2. Ảnh hưởng các yếu tố sinh thái đến sinh trưởng, phát triển cây cà phê
1.3. Đất trồng cà phê
1.3.1. Tính chất lí học của đất
1.3.2. Tính chất hóa học của đất
1.4. Vai trò của đạm, lân, kali và những nghiên cứu trong, ngoài nước về liều lượng và cách bón đối
với cây cà phê
1.4.1. Đạm đối với cây cà phê
1.4.2. Lân đối với cây cà phê
2.2.2. Nghiên cứu về cách bón (số lần và tỉ lệ) đạm, lân và kali đối với cây cà phê vối giai đoạn kinh
doanh trên đất bazan
- Ảnh hưởng của số lần và tỉ lệ bón đạm, lân và kali đến hàm lượng một số chất trong đất và lá cà phê.
- Ảnh hưởng của số lần và tỉ lệ bón đạm, lân và kali đến quá trình quang hợp, sinh trưởng và phát triển.
- Ảnh hưởng của số lần và tỉ lệ bón đạm, lân và kali đến năng suất, tỉ lệ hạt cà phê nhân xuất khẩu.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế và hiệu suất đầu tư phân bón khi bón đạm, lân, kali với số lần và tỉ lệ khác nhau.
2.2.3. Nghiên cứu ảnh hưởng nồng độ của ZnSO4 và Rosabor đối với cây cà phê vối giai đoạn kinh doanh
trên đất bazan
- Hàm lượng một số chất trong đất thí nghiệm.
- Ảnh hưởng nồng độ của ZnSO4 và Rosabor đến dinh dưỡng khoáng trong lá cà phê.
- Ảnh hưởng nồng độ của ZnSO4 và Rosabor đến quá trình quang hợp, khả năng sinh trưởng và phát triển.
- Ảnh hưởng nồng độ của ZnSO4 và Rosabor đến năng suất, tỉ lệ hạt cà phê nhân xuất khẩu.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế và hiệu suất đầu tư phân bón khi phun ZnSO4 và Rosabor với nồng độ khác nhau
cho cà phê.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Bố trí thí nghiệm
- Các thí nghiệm bón phân đa lượng (đạm, lân và kali) và phun phân vi lượng (ZnSO4 và Rosabor)
cho cây cà phê vối giai đoạn kinh doanh trồng trên đất bazan được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ
(Randomized Complete Block design - RCB) ba lần nhắc lại, diện tích mỗi ô cơ sở trong ba thí nghiệm là
180 m2 (20 cây cà phê), giữa các ô được ngăn bằng tấm nylon từ mặt đất xuống độ sâu 30 cm.
Thí nghiệm 1: Nghiên cứu liều lượng bón đạm và kali cho cây cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất
bazan
Theo quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc và thu hoạch cà phê vối 10 TCN 478-2001 của Bộ
NN&PTNT lượng phân đạm, lân và kali cho cây cà phê vối GĐKD trên đất bazan là: 260 kg N + 95 kg P2O5
+ 240 kg K2O (ha/năm). Chúng tôi đề xuất các công thức bón tăng lượng đạm, kali và lân không đổi (95 kg
P2O5) trên nền phân chuồng 10 tấn/ha được bón năm 2011, đối chứng bón theo quy trình của Bộ NN&PTNT
cụ thể như sau:
Công thức
K1
N2K5
N3
N3K1
N3K2
N3K3
N3K4
N3K5
N4
N4K1
N4K2
N4K3
N4K4
N4K5
N5
N5K1
với tổng cộng là 75 ô cơ sở (diện tích 1,35 ha), thực hiện trong năm 2012 và 2013.
4
Thí nghiệm 2: Nghiên cứu về cách bón (số lần và tỉ lệ) đạm, lân và kali cho cây cà phê vối giai đoạn
kinh doanh trên đất bazan
Theo quy trình của Bộ NN&PTNT lượng phân vô cơ bón cho cà phê vối GĐKD trên đất bazan là
(260 kg N + 95 kg P2O5 + 240 kg K2O) và 10 tấn phân chuồng được bón năm 2011 được bón theo số lần và
tỉ lệ như sau: Đạm bón 4 lần (1 lần mùa khô và 3 lần mùa mưa); lân bón 1 lần mùa mưa và kali bón 3 lần
trong mùa mưa. Chúng tôi đề xuất 2 cách bón với số lần và tỉ lệ bón khác nhau, đối chứng là bón với số lần
và tỉ lệ theo quy trình của Bộ NN&PTNT như sau:
CT1 (đ/c)
Tỉ lệ bón
Số lần bón
CT2
CT3
N(%)
K(%)
P(%)
N(%)
K(%)
0
0
0
0
0
0
15
15
0
Lần 3: đầu mùa mưa
25
30
100
25
20
25
40
0
25
30
0
25
30
0
Tổng số lần bón
4
3
1
4
4
B0Zn0 (đ/c)
B0Zn1
B0Zn2
B0Zn3
B1
B1Zn0
B1Zn1
B1Zn2
B1Zn3
B2
B2Zn0
B2Zn1
B2Zn2
B2Zn3
B3
CT B2
Rosabor nồng độ 0,20%
CT Zn3
ZnSO4 nồng độ 0,5%
CT B3
Rosabor nồng độ 0,25%
Đây là thí nghiệm 2 nhân tố với 4 mức nồng độ ZnSO4 và Rosabor khác nhau gồm 16 công thức, bố
trí 3 lần lặp lại với tổng cộng là 48 ô cơ sở (diện tích 8.640 m2). ZnSO4 và Rosabor được hòa trong nước,
mỗi lần phun 1.500 lít nước thuốc/ha chia làm 5 lần (2 lần trong mùa khô phun sau mỗi đợt tưới vào đầu
tháng 2 và cuối tháng 4 và 3 lần trong mùa mưa phun vào cuối tháng 5, 7 và 9) phun vào buổi chiều muộn
thực hiện trong 2 năm liên tục 2012 - 2013.
5
2.3.2. Phương pháp tính toán và xử lý số liệu
+ Tính toán hiệu quả kinh tế: Lợi nhuận = tổng thu - tổng chi và hiệu suất đầu tư phân bón đánh giá
thông qua 2 chỉ tiêu (lợi nhuận và lợi nhuận/chi phí phân bón).
+ Xử lý số liệu: Các số liệu thu thập trong quá trình thí nghiệm ở tất cả các bảng biểu trong Luận án
được lấy trung bình sau hai năm 2012 và 2013 sau đó tổng hợp, xử lý thống kê bằng chương trình Excel và
phần mềm xử lý thống kê Minitab 16.
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Nghiên cứu liều lượng bón đạm và kali cho cây cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan
3.1.1. Ảnh hưởng của liều lượng bón đạm và kali đến hàm lượng một số chất trong lá cà phê
bón phân cho hàm lượng carotenoit trong lá từ 1,32 mg/g lá tươi (tăng 36% so với đối chứng) có ý nghĩa thống kê
ở mức 95%.
6
Bảng 3.1: Ảnh hưởng của liều lượng bón đạm và kali đến hàm lượng một số chất trong lá cà phê
Các chỉ tiêu theo dõi
Công thức
Diệp lục a
Carotenoit
N(%)
P(%)
K(%)
(mg/g lá tươi)
(mg/g lá tươi)
N1K1(đ/c)
3,21
0,15
1,88
1,48
0,97
N1K2
1,66
1,14
N1K5
3,46
0,16
2,15
1,67
1,24
N2K1
3,30
0,14
1,98
1,52
0,99
N2K2
1,69
1,19
N2K5
3,45
0,16
2,29
1,71
1,30
N3K1
3,39
0,15
1,89
1,55
1,23
N3K2
1,69
1,37
N3K5
3,55
0,15
2,38
1,74
1,40
N4K1
3,39
0,15
2,12
1,56
1,25
N4K2
1,99
1,39
N4K5
3,72
0,17
2,39
2,02
1,47
N5K1
3,49
0,15
2,09
1,64
1,24
N5K2
2,01
1,44
N5K5
3,77
0,17
2,46
2,03
1,46
CV(%)
6,25
9,63
13,07
9,66
13,40
LSD0,05 (N)
0,35
0,34
- Diệp lục a: Số liệu phân tích về hàm lượng diệp lục a trong lá cà phê các công thức bón phân sau 2
năm 2012 và 2013 cho thấy: Khi thay đổi lượng phân đạm bón cho cây cà phê từ mức bón N1 đến N5 có ảnh
hưởng đến hàm lượng diệp lục a trong lá cà phê tăng từ 1,57 mg/g lá tươi ở các công thức bón đạm với liều
lượng đối chứng đến 1,80 mg/g lá tươi ở các công thức bón đạm với lượng tăng lên 40% và có ý nghĩa thống
kê ở mức 95% với lượng đạm bón theo công thức N4 và N5. Tương tự, khi thay đổi lượng phân kali bón cho
cây cà phê từ mức bón K1 đến K5 có ảnh hưởng rõ rệt đến hàm lượng diệp lục a trong lá cà phê tăng từ 1,57
mg/g lá tươi ở các công thức bón kali với liều lượng đối chứng đến 1,83 mg/g lá tươi ở các công thức bón
kali với lượng tăng lên 40% và có ý nghĩa thống kê ở mức 95% với lượng kali bón theo mức K4 và K5;
Hàm lượng diệp lục a ở các công thức thí nghiệm có sự tương tác của hai yếu tố đạm và kali dao động từ
1,48 mg/g lá tươi đến 2,03 mg/g lá tươi và tăng từ 3% (N1K2 và N2K1) đến 37% (N5K5) so với đối chứng.
7
Năng suất cà phê nhân
(tấn/ha)
Tương quan giữa hàm lượng diệp lục a và năng suất
cà phê nhân
y = -0.702x2 + 3.5268x - 0.5419
R2 = 0.8412
3.80
3.60
3.40
bazan tại Đắk Lắk từ 10% đến 40% so với đối chứng trên nền phân lân và phân chuồng cố định cho thấy có
sự khác biệt rõ ràng về hàm lượng đạm, kali, diệp lục a carotenoit trong lá cà phê.
3.1.2. Ảnh hưởng của liều lượng bón đạm và kali đến cường độ quang hợp, cường độ thoát hơi nước, độ mở
khí khổng, nồng độ CO2 trong gian bào
- Cường độ thoát hơi nước của các công thức khi bón tăng lượng đạm từ mức bón N1 đến N5 dao
động từ 1,00 mmol/m2/s đến 1,33 mmol/m2/s và các công thức bón tăng kali từ mức bón K1 đến K5 dao
động từ 1,08 mmol/m2/s đến 1,28 mmol/m2/s (phụ biểu 1.20). Các công thức bón kết hợp giữa hai yếu tố
đạm và kali cho cây cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan sau hai năm thí nghiệm cho kết quả
CĐTHN dao động thấp nhất đạt 0,93 mmol/m2/s đến cao nhất đạt 1,49 mmol/m2/s (bảng 3.4) nhưng sự sai
khác này không có ý nghĩa thống kê.
- Nồng độ CO2 trong gian bào: Kết quả đo nồng độ CO2 trong gian bào của lá cà phê vối ở các công
thức bón phối hợp hai yếu tố đạm và kali với liều lượng khác nhau cho thấy nồng độ thấp nhất ở công thức
bón phân (N1K5) đạt 314 μmol/m2/s và cao nhất ở công thức (N5K5) đạt 364 μmol/m2/s và sự sai khác này
không có ý nghĩa thống kê. Khi tăng mức bón đạm từ 10% đến 40% cho cà phê sẽ dẫn tới nồng độ CO2 trong
gian bào dao động từ 318 μmol/m2/s đến 358 μmol/m2/s (phụ biểu 1.22) nhưng sự khác nhau này chỉ có ý
nghĩa thống kê mức 95% khi bón tăng lượng đạm từ 20% trở lên so với đối chứng
- Độ mở khí khổng: Đối với các công thức bón kết hợp giữa hai yếu tố đạm và kali cho cà phê vối
giai đoạn kinh doanh trên đất bazan sau hai năm thí nghiệm cho kết quả trung bình về độ mở khí khổng dao
động từ 1.154 mmol/m2/s (N1K1) đến 1.453 mmol/m2/s (N5K4). Mặc dù có sự chênh lệch về độ mở khí
khổng trong lá cà phê khá lớn nhưng sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê.
8
Bảng 3.2: Ảnh hưởng của liều lượng bón đạm và kali đến cường độ quang hợp, cường độ thoát hơi
Công thức
nước, độ mở khí khổng, nồng độ CO2 trong gian bào
Các chỉ tiêu theo dõi
315
N1K3
15,07
1,00
1.169
318
N1K4
15,60
1,05
1.290
327
N1K5
16,10
1,07
1.366
320
N2K4
17,87
1,29
1.353
332
N2K5
17,27
1,23
1.293
330
N3K1
17,53
1,21
1.308
344
N3K5
18,13
1,24
1.302
346
N4K1
15,77
1,08
1.337
348
N4K2
17,77
1,09
1.360
350
N5K1
16,07
1,22
1.293
354
N5K2
17,13
1,33
1.140
355
N5K3
19,10
1,25
1.300
7,59
LSD0,05 (N)
1,51
NS
NS
18,40
LSD0,05 (K)
1,51
NS
NS
NS
LSD0,05(N*K)
3,37
NS
NS
16.00
18.00
20.00
22.00
24.00
26.00
Cường độ quang hợp (μmol/m2/s)
Đồ thị 3.2: Tương quan giữa CĐQH và năng suất cà phê nhân khi bón tăng lượng đạm và kali
Y = -0,0029 x2 + 0,1743 x + 1,1959 là đường chuẩn cho tương quan giữa cường độ quang hợp với
năng suất cà phê nhân khi bón tăng lượng đạm và kali với (r = 0,89) và đây là mối tương quan rất chặt.
Sau hai năm thí nghiệm 2012 và 2013 cho thấy bón đạm và kali ở các mức khác nhau, đặc biệt là
tăng lượng đạm từ 20% đến 40% so với đối chứng đã có ảnh hưởng rất rõ tới cường độ quang hợp trong lá cà
phê; Đối với cường độ thoát hơi nước và độ mở khí khổng thì sự khác biệt là không rõ nét.
3.1.3. Ảnh hưởng của liều lượng bón đạm và kali đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và tỉ lệ
hạt cà phê nhân xuất khẩu
- Chiều dài cành dự trữ: Khi thay đổi lượng phân đạm bón cho cây cà phê với các mức bón từ N1
đến N5 có ảnh hưởng trực tiếp đến chiều dài cành dự trữ dao động trung bình từ 36,47 cm đến 39,98 cm và
chỉ có ý nghĩa thống kê ở mức 95% với lượng đạm bón cho cà phê tăng ở mức 30% so với đối chứng. Tương
tự, khi thay các mức bón kali cho cây cà phê từ K1 đến K5 dẫn đến chiều dài cành dự trữ dao động từ 36,89
cm đến 39,01 cm và có ý nghĩa thống kê với mức bón kali từ K4 và K5 (phụ biểu 1.24). Khi bón phối hợp
giữa 2 yếu tố đạm và kali cho cà phê vối giai đoạn kinh doanh đã có ảnh hưởng tích cực chiều dài cành dự
trữ của cây cà phê dao động từ 35,31 cm đến 43,09 cm, sự sai khác này có ý nghĩa thống kê ở 4 công thức có
tươi/nhân
Công thức
Dài cành dự
trữ cm)
N1K1(đ/c)
36,07
12,23
116,00
N1K2
36,10
12,19
N1K3
37,12
N1K4
Năng suất
tươi (tấn/ha)
126,70
4,13
13,55
35,98
N1K5
35,31
12,16
127,38
4,21
14,05
36,17
N2K1
37,88
11,58
121,50
13,99
35,59
N2K4
36,92
11,39
126,62
4,10
13,66
36,26
N2K5
35,69
10,71
129,30
4,06
13,59
N3K3
38,35
12,80
123,39
4,17
13,66
39,33
N3K4
37,20
11,59
123,73
4,17
14,35
39,94
N3K5
11,20
129,38
4,10
13,56
37,92
N4K3
37,07
12,29
121,86
4,05
14,43
41,24
N4K4
41,44
10,23
4,14
13,75
37,20
N5K2
37,91
11,31
129,41
4,10
14,19
38,94
N5K3
39,46
10,04
129,69
4,13
45,67
CV(%)
10,29
14,68
10,85
8,33
10,72
-
LSD0,05 (N)
1,99
0,77
NS
NS
0,61
-
- Năng suất cà phê tươi: Khi thay đổi lượng phân đạm bón cho cây cà phê ở các mức bón từ N1 đến
N5 có ảnh hưởng đến năng suất cà phê tươi dao động trung bình sau hai năm thí nghiệm đạt thấp nhất đạt
13,67 tấn/ha và cao nhất 14,59 tấn/ha và có ý nghĩa thống kê ở mức 95% ở mức đạm tăng từ 30% trở lên so
với đối chứng. Tương tự, khi thay đổi mức bón phân kali cho cà phê từ K1 đến K5 có tác động đến năng suất
cà phê tươi dao động trung bình sau hai năm từ 13,63 tấn/ha đến 14,43 tấn/ha và có ý nghĩa thống kê ở mức
95% với mức bón kali cho cà phê tăng từ 30% so với đối chứng (phụ biểu 1.31). Khi bón phối hợp giữa hai
11
yếu tố đạm và kali cho cà phê vối giai đoạn kinh doanh đã làm năng suất cà phê tươi tăng từ 13,47 tấn/ha
(N1K1) đến 15,20 tấn/ha (N5K5), sự sai khác này có ý nghĩa thống kê ở 4 công thức có năng suất cà phê tươi
tăng từ 10% (N4K4) đến 13% (N5K5) so với đối chứng ở mức ý nghĩa 95%.
- Các công thức bón tăng lượng đạm và kali khác nhau cho tỉ lệ % hạt cà phê nhân hạng đặc biệt và
hạng 1 dao động từ 32,12% (N1K1) đến 45,68% (N4K5). Đa số các công thức bón đạm và kali tăng cao, đặc
biệt là kali cao đã làm tăng kích cỡ nhân trên sàng cao hơn các công thức còn lại và công thức đối chứng
Bảng 3.4: Ảnh hưởng của liều lượng đạm và kali năng suất cà phê nhân (tấn/ha)
Công thức
K1 (đ/c)
K2
K3
K4
K5
TB (N)
3,21NS
3,25NS
3,27NS
3,44NS
3,50NS
3,33NS
N4
3,25NS
3,31NS
3,56NS
3,64*
3,73*
3,50*
N5
3,25NS
tăng lượng phân đạm ở mức N3 và N2 có sự sai khác về năng suất cà phê nhân nhưng không có ý nghĩa
thống kê. Tương tự, khi thay đổi lượng phân kali bón cho cây cà phê tăng từ mức bón K1 đến K5 dẫn đến
năng suất cà phê nhân tăng trung bình từ 3,22 tấn/ha đến 3,53 tấn/ha và có ý nghĩa thống kê ở mức 95% với
mức bón đạm cho cà phê tăng từ 30% so với đối chứng. Bón phân tăng lượng phân kali ở mức K3 và K2 có
sự sai khác về năng suất cà phê nhân nhưng không có ý nghĩa thống kê. Phân tích số liệu về năng suất cà phê
nhân khi bón phối hợp giữa hai yếu tố đạm và kali cho cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại
Đắk Lắk sau hai năm thí nghiệm cho kết quả năng suất cà phê nhân trung bình tăng từ 3,15 tấn/ha (N1K1)
đến 3,74 tấn/ha (N5K5), sự sai khác này có ý nghĩa thống kê ở 5 công thức cho năng suất cà phê nhân tăng từ
15% (N4K4 và N5K3) đến 19% (N5K5) so với đối chứng ở mức ý nghĩa 95%.
Như vậy, sau hai năm thí nghiệm bón phân cho cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại
Đắk Lắk với các mức bón đạm, kali hoặc phối hợp hai yếu tố đạm và kali tăng từ 10% đến 40% so với quy
trình của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã cho thấy sự khác biệt khá rõ đối với năng suất cà phê
tươi và năng suất cà phê nhân, đặc biệt khi bón tăng đạm và kali ở mức 30% trở lên so với đối chứng.
3.1.4. Hiệu quả kinh tế và hiệu suất đầu tư phân bón khi bón tăng lượng đạm và kali cho cây cà phê vối
- Giá trị sản lượng: Các công thức bón phân với liều lượng tăng đạm và kali cho kết quả giá trị sản
lượng bình quân sau hai năm thí nghiệm là khác nhau thấp nhất là công thức N1K2 đạt 111,3 triệu
đồng/ha/năm, cao nhất là công thức N5K5 đạt 130,9 triệu đồng/ha/năm (cao hơn đối chứng 19%).
- Tổng chi phí và chi phí phân bón: Các công thức bón phân với liều lượng tăng đạm và kali có sự
khác nhau về tổng chi phí do tăng lượng phân đạm, kali tăng từ 1% đến 7% và công lao động tăng thêm do
thu hái sản phẩm nhiều hơn. Tính riêng với chi phí phân bón (CPPB) tăng từ 3% (công thức N1K2 và N2K1
- 18,52 triệu) đến 23% (công thức N5K5 - 22,21 triệu) so với đối chứng.
12
Bảng 3.5: Hiệu quả kinh tế và hiệu suất đầu tư phân bón khi bón tăng lượng đạm và kali
Các chỉ tiêu theo dõi
Công thức
GTSL
TCP
2,50
N1K3
113.050
65.540
19.040
47.510
2,50
N1K4
114.800
66.060
19.560
48.740
2,49
N1K5
116.900
2,57
N2K3
114.800
66.060
19.560
48.740
2,49
N2K4
116.550
66.580
20.080
49.970
2,49
N2K5
117.250
2,44
N3K3
114.450
66.580
20.080
47.870
2,38
N3K4
120.400
67.100
20.600
53.300
2,59
N3K5
122.500
2,44
N4K3
124.600
67.200
20.700
57.400
2,77
N4K4
127.400
67.720
21.220
59.680
2,81
N4K5
130.550
2,63
N5K3
127.400
67.670
21.170
59.730
2,82
N5K4
129.850
68.190
21.690
61.660
2,84
N5K5
130.900
nhất 62,31 triệu đồng/ha/năm và hiệu suất đầu tư phân bón tốt nhất với giá trị LN/CPPB đạt 2,87 lần.
3.2. Ảnh hưởng cách bón (số lần và tỉ lệ bón) đạm, lân và kali đến cây cà phê vối
3.2.1. Ảnh hưởng số lần và tỉ lệ bón đạm, lân và kali đến một số chất trong lá cà phê
- Hàm lượng đạm: Trong lá cà phê của các công thức thí nghiệm có sự khác nhau thấp nhất là công
thức đối chứng (3,42%), cao nhất là CT3 (3,58%). Sự sai khác này có ý nghĩa thống kê ở mức 95% giữa CT1
và CT3, giữa các cặp công thức còn lại sự sai khác không có ý nghĩa thống kê.
- Hàm lượng lân: Hàm lượng lân trong lá cà phê của các công thức thí nghiệm thấp nhất đạt 0,15%
và cao nhất đạt 0,17%, có sự sai khác giữa các công thức nhưng không có ý nghĩa thống kê.
- Hàm lượng kali: Hàm lượng kali trong lá cà phê của các công thức thí nghiệm có sự sai khác rõ
rệt, thấp nhất là công thức đối chứng (1,71%), cao nhất là CT3 (1,95%). Sự sai khác này có ý nghĩa thống kê
ở mức 95% giữa CT1 và CT3, giữa các cặp công thức còn lại sự sai khác không có ý nghĩa thống kê.
- Hàm lượng CaO: CT2 hàm lượng CaO trong lá tăng 3% và CT3 tăng 13% so với đối chứng, sự sai
khác này có ý nghĩa thống kê ở mức 95% giữa CT3 với công thức đối chứng.
Bảng 3.6: Ảnh hưởng số lần và tỉ lệ bón đạm, lân và kali đến hàm lượng một số chất trong lá cà phê
Chỉ tiêu
Trước thí
theo dõi
nghiệm (%)
Các công thức
CT1 (%)
b
N
3,37
CT2 (%)
3,46
ab
0,17
1,83
ab
1,39
ab
0,34
ab
CT3 (%)
CV (%)
LSD0,05
a
4,29
0,15
3,58
Ghi chú: Các chữ cái khác nhau trong hàng biểu thị sự sai khác có ý nghĩa thống kê với p
ab
0,97
ab
1,15
ab
LSD0,05
1,77
9,09
0,22
1,05
a
5,83
0,08
1,17
a
NS
319
327
338
6,19
NS
2
Độ mở KK (mmol/m /s)
2
Nồng độ CO2 (μmol/m /s)
19,78
a
Cường độ QH (μmol/m /s)
Cường độ THN (mmol/m /s)
18,84
a
suất cao hơn đối chứng là 10% và bón phân theo CT3 cho năng suất cao hơn đối chứng 15%. Sự khác nhau
15
này có ý nghĩa thống kê giữa CT2 và CT3 với công thức đối chứng ở mức 95%, giữa công thức 3 so với
công thức 2 mặc dù có sự chênh lệch về năng suất nhưng không có ý nghĩa thống kê.
Bảng 3.8: Ảnh hưởng của số lần và tỉ lệ bón đạm, lân và kali đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng
suất và tỉ lệ hạt cà phê nhân xuất khẩu
Các công thức
Chỉ tiêu theo dõi
CT1
Dài cành dự trữ (cm)
35,37
CT2
b
36,42
b
Tỉ lệ tươi/nhân
4,29
4,08
ab
a
14,72
ab
3,61
39,43
a
a
a
CV(%)
LSD0,05
3,88
1,55
3,07
Chỉ tiêu
Các công thức
Đơn vị tính
CT1
CT2
CT3
Năng suất sản phẩm
tấn/ha
3,15
3,47
3,61
Giá trị sản lượng
1.000 đ
110.250
121.450
126.350
45.750
53.950
56.600
35.000 đ/kg
-
2,54
3,00
3,14
Lợi nhuận/CPPB
Ghi chú
Ghi chú: Chi phí phân bón ở 3 công thức như nhau để tính riêng hiệu suất đầu tư phân bón
- Lợi nhuận/chi phí phân bón: Các công thức bón phân đạm, lân và kali với số lần và tỉ lệ bón khác
nhau cho kết quả khác nhau về giá trị lợi nhuận/chi phí phân bón dao động từ 2,54 (CT1) đến 3,14 (CT3). Tỉ
lệ này càng cao thể hiện hiệu quả đầu tư phân bón càng cao, cao nhất là công thức bón phân theo công thức 3
cho tỉ lệ lợi nhuận/chi phí phân bón tăng 24% so với công thức đối chứng.
3.2.5. Tóm tắt kết quả thí nghiệm 2
- Công thức bón đạm, kali 5 lần/năm (30% mùa khô và 70% mùa mưa) và bón lân 2 lần/năm (50%
mùa khô và 50% mùa mưa) - CT3 đã ảnh hưởng đến hấp thu dinh dưỡng khoáng làm tăng khả năng hấp thu
đạm, kali, canxi, magie trong đất và lá cà phê; Có ảnh hưởng tích cực đến quá trình sinh trưởng phát triển,
- Hàm lượng Zn: Các công thức phun ZnSO4 và Rosabor với nồng độ khác nhau cho cà phê vối giai
đoạn kinh doanh trên đất bazan sau 2 năm 2012 và 2013 có ảnh hưởng trực tiếp đến hàm lượng kẽm trong lá
cà phê. Khi thay đổi nồng độ phun ZnSO4 từ mức 0,3% đến 0,5% làm cho hàm lượng Zn trong lá cà phê tăng
từ 22,25 ppm lên 30,69 ppm (phụ biểu 2.16) và có ý nghĩa thống kê ở mức 95% với các công thức phun với
nồng độ từ 0,4% trở lên. Tương tự, khi thay đổi nồng độ Rosabor phun cho cây cà phê từ 0,15% đến 0,25%
dẫn đến hàm lượng Zn trong lá cà phê tăng từ 22,74 ppm lên 31,51 ppm và có ý nghĩa thống kê ở mức 95%
với nồng độ phun ở các công thức từ 0,20% trở lên (phụ lục 2.16). Khi phun phối hợp giữa ZnSO4 và
Rosabor với nồng độ khác nhau cho cà phê vối giai đoạn kinh doanh dẫn đến hàm lượng Zn trong lá thấp
nhất là công thức đối chứng (19,27 ppm) và cao nhất là công thức B3Zn2 (35,91 ppm). Đa số các công thức
thí nghiệm có phun ZnSO4 với nồng độ từ 0,4% đến 0,5% có hàm lượng kẽm trong lá cà phê cao hơn đối
chứng từ 15% đến 86% có ý nghĩa thống kê ở mức 95%.
Bảng 3.10: Ảnh hưởng của nồng độ ZnSO4 và Rosabor đến hàm lượng một số chất trong lá cà phê
Công thức
Các chỉ tiêu theo dõi
N (%)
P (%)
K (%)
CaO (%)
MgO (%)
Zn (ppm)
B (ppm)
Trước TN
17
B0Zn1
3,34
0,15
1,95
1,62
0,35
22,54
32,54
B0Zn2
3,46
0,14
1,97
1,95
1,76
0,34
25,61
36,16
B1Zn1
3,41
0,14
2,21
1,83
0,35
25,92
37,09
B1Zn2
3,45
0,15
0,15
2,18
1,69
0,33
25,26
37,91
B2Zn1
3,25
0,15
2,26
1,74
0,34
27,36
41,13
B2Zn2
B3Zn0
3,48
0,15
2,04
2,06
0,37
26,85
39,98
B3Zn1
3,37
0,15
2,32
2,01
0,38
28,43
34,85
46,18
CV(%)
5,41
8,60
14,33
16,75
14,56
17,75
16,24
LSD0,05 (B)
NS
NS
NS
NS
NS
NS
9,96
4,43
Để làm rõ hơn ảnh hưởng của nồng độ ZnSO4 và Rosabor phun phối hợp cho cà phê vối giai đoạn
kinh doanh trên đất bazan tại Đắk Lắk đến năng suất cà phê nhân chúng tôi tiến hành xây dựng tương quan
giữa hàm lượng Zn trong lá cà phê và năng suất cà phê nhân sau hai năm thí nghiệm ở đồ thị 3.3 như sau:
Tương quan giữa hàm lượng Zn trong lá với năng suất
cà phê nhân
y = 0.0021x2 - 0.08x + 3.9235
2
Năng suất cà phê
nhân (tấn/ha)
R = 0.9419
3.80
3.60
3.40
3.20
3.00
19.00
23.00
27.00
cà phê nhân
2
Năng suất cà phê
nhân (tấn/ha)
y = 0.0029x - 0.1878x + 6.2807
2
3.80
3.60
3.40
3.20
3.00
30.00
R = 0.9549
32.00
34.00
36.00
38.00
40.00
42.00
19
Bảng 3.11: Ảnh hưởng nồng độ của ZnSO4 và Rosabor đến cường độ quang hợp, cường độ thoát hơi
Công thức
nước, độ mở khí khổng, nồng độ CO2 trong gian bào
Các chỉ tiêu theo dõi
Cường độ QH
Cường độ THN
Độ mở KK
2
2
(μmol/m /s)
(mmol/m /s)
(mmol/m2/s)
Nồng độ CO2
(μmol/m2/s)
B0Zn0 (đ/c)
13,83
0,99
1.141
339
B1Zn0
16,00
1,04
1.267
343
B1Zn1
16,90
1,05
1.217
350
B1Zn2
15,70
0,98
1.233
339
B2Zn2
19,06
1,07
1.341
360
B2Zn3
19,30
1,10
1.330
371
B3Zn0
16,07
1,01
1.295
364
CV(%)
15,67
19,79
15,82
5,83
LSD0,05 (B)
NS
NS
NS
NS
LSD0,05 (Zn)
NS
NS
NS
20
Bảng 3.12: Ảnh hưởng nồng độ của ZnSO4 và Rosabor đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất
và tỉ lệ hạt cà phê nhân xuất khẩu
Các chỉ tiêu theo dõi
Số cành khô KL100 quả
Tỉ lệ
/cây (cành)
tươi (g)
tươi/nhân
Công thức
Dài cành
dự trữ (cm)
B0Zn0 (đ/c)
35,62
12,71
119,92
B0Zn1
35,99
127,18
4,21
13,51
33,98
36,78
12,01
130,39
4,26
13,73
34,78
B1Zn0
37,42
11,77
127,40
4,25
35,18
B1Zn3
37,94
11,52
132,81
4,10
13,69
37,17
B2Zn0
37,25
12,02
126,25
4,20
13,82
36,19
40,64
11,20
135,87
4,04
14,69
42,21
B3Zn0
38,47
11,72
131,63
4,17
13,88
38,95
B3Zn1
37,06
138,22
3,98
14,72
43,90
CV(%)
10,01
10,85
9,59
5,14
11,55
-
LSD0,05 (B)
NS
NS
NS
0,74
-
Ghi chú: Tỉ lệ % xuất khẩu: Là tỉ lệ hạt cà phê nhân trên sàng S16 để xuất khẩu (hạng đặc biệt và hạng 1)
- Khối lượng 100 quả tươi: Phun ZnSO4 với nồng độ từ 0,3% đến 0,5% cho cây cà phê và Rosabor
với nồng độ từ 0,15% đến 0,25% đã có ảnh đến khối lượng 100 quả tươi đao động tương ứng từ 125,55
g/100 quả tươi đến 136,04 g/100 quả tươi đối với phun ZnSO4 và 126,30 g/100 quả tươi đến 134,32 g/100
quả tươi đối với phun Rosabor (phụ biểu 2.31). Khi phun có sự kết hợp giữa ZnSO4 và Rosabor với các nồng
độ khác nhau cho cà cho cà phê vối giai đoạn kinh doanh đã có ảnh hưởng đến trọng lượng 100 quả tươi
trung bình qua hai năm tăng từ 119,92 g/100 quả tươi (B0Zn0) lên 139,85 g/100 quả tươi (B3Zn2) nhưng sự
sai khác này không có ý nghĩa thống kê.
- Tỉ lệ tươi/nhân: Cùng một giống cà phê, kỹ thuật canh tác, chăm sóc như nhau thì tỉ lệ này được
quyết định bởi chế độ dinh dưỡng, tỉ lệ này càng thấp cho năng suất cà phê nhân càng cao và ngược lại. Khi
phun ZnSO4 với nồng độ từ 0,3% đến 0,5% cho cây cà phê vối giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại Đắk
Lắk đã có ảnh đến tỉ lệ tươi/nhân giảm từ 4,23 xuống 4,10 và khi phun Rosabor với nồng độ từ 0,15% đến
0,25% đã làm giảm tỉ lệ tươi/nhân từ 4,24 xuống 4,05 (phụ biểu 2.32). Khi phun phối hợp giữa ZnSO4 và
Rosabor cho cà phê vối giai đoạn kinh doanh đã làm giảm tỉ lệ tươi/nhân trung bình sau hai năm cao nhất là
8% (B3Zn2) so với đối chứng nhưng sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê.
- Năng suất cà phê tươi: Thí nghiệm về ảnh hưởng của nồng độ ZnSO4 và Rosabor đến năng suất cà
phê tươi trên đất bazan tại Đắk Lắk sau hai năm cho thấy: Khi thay đổi nồng độ phun ZnSO4 từ 0,3% đến
0,5% dẫn đến năng suất cà phê tươi dao động trung bình thấp nhất là 13,68 tấn/ha đến cao nhất đạt 14,21
21
tấn/ha và có ý nghĩa thống kê ở mức 95% với nồng độ phun từ 0,4% trở lên so với đối chứng. Tương tự, khi
thay nồng độ Rosabor phun cho cây cà phê từ 0,15% đến 0,25% dẫn đến năng suất cà phê tươi dao động
trung bình từ thấp nhất đạt 13,55 tấn/ha đến cao nhất đạt 14,25 tấn/ha và có ý nghĩa thống kê ở mức 95% với
nồng độ phun từ 0,20% trở lên so với đối chứng (phụ biểu 2.33). Khi phun phối hợp giữa ZnSO4 và Rosabor
Zn2
3,21
NS
3,30
NS
Zn3
TB (B)
3,23
NS
3,20
3,34
NS
3,27NS
B1
3,19
B2
3,43
3,48*
3,36
Ghi chú: (*) - Sai khác có ý nghĩa (P
111.650
64.500
65.310
65.580
65.850
65.400
18.000
18.810
19.080
19.350
18.900
46.100
46.340
46.770
47.200
46.250
2,56
2,46
2,45
2,44
2,45
B1Zn1
B1Zn2
B1Zn3
B2Zn0
67.350
19.710
19.980
20.250
19.200
20.010
20.280
20.550
19.500
20.310
20.580
20.850
46.840
49.020
50.150
49.450
51.090
55.720
60.350
50.550
50.090
62.770
62.150
2,38
2,45
2,48
2,58
23