KẾ HOẠCH QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG CẤP HUYỆN
GS TS Trần Hiếu Nhuệ
I. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO
VỆ MÔI TRƯỜNG
A. Mở đầu
1.
Bồi dưỡng kiến thức và nâng cao nhận thức về môi trường là công việc phải làm thường
xuyên, liên tục đối với tất cả mọi người ở mọi lứa tuổi và vị trí công tác, người dân cũng như cán
bộ. Đây vừa là giải pháp, vừa là mục tiêu cần đạt.
2.
Cán bộ quản lý môi trường cấp quận huyện là đối tượng khá đặc biệt của việc bồi dưỡng
kiến thức và nâng cao nhận thức về môi trường. Họ vừa phải hành xử về mặt môi trường như một
công dân, vừa phải có trách nhiệm chấp hành yêu cầu của cơ quan quản lý môi trường cấp trên,
vừa phải hướng dẫn cán bộ địa chính cấp cơ sở quản lý môi trường, và rất quan trọng là phải bảo
đảm quản lý môi trường cấp của mình.
3.
Tài liệu bồi dưỡng, tập huấn về môi trường này chia thành nhiều mục khác nhau, vừa liên
quan đến các vấn đề lý luận cơ bản, vừa đi thẳng vào những hoạt động thực tiễn mà việc quản lý
môi trường ở cấp quận huyện thường gặp.
1.
2.
3.
4.
5.
6.
B. Các khái niệm cơ bản về môi trường
Khái niệm về Môi trường
Định nghĩa môi trường theo Luật bảo vệ môi trường năm 2005.
Xác định các nội dung chính của công tác bảo vệ môi trường theo Luật bảo vệ môi trường
năm 2005.
môi trường
+ Nghị quyết 246/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng về “Tăng cường công tác điều tra cơ bản
và bảo vệ môi trường” ngày 25/6/1985.
+ Chỉ thị 36, Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị, Đảng Cộng sản
Việt Nam về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
+ Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
+ Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Việt
Nam)
+ Chiến lược quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp Việt Nam đến năm 2002
(được phê duyệt tại QĐ số 152/1999/QĐ-TTg ngày 10/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ)
+ Kế hoạch hành động bảo vệ đa dạng sinh học - Luật ĐDSH
+ Kế hoạch hành động quốc gia về sản xuất sạch hơn (ban hành kèm theo Công văn số
1146/BKHCNMT-MTg ngày 6/5/2002 của Bộ KHCN&MT)
+ Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng (ban hành kèm
theo QĐ số 64/2003/QĐ/TTg ngày 22/4/2003 của Thủ tướng Chính phủ)
+ Kế hoạch hành động về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước giai đoạn
2004-2010 (ban hành kèm theo QĐ số 04/2004/QĐ-BTNMT ngày 5/4/2004 của Bộ trưởng Bộ
TN&MT)
+ Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003 của Thủ tướng Chính phủ về phí bảo vệ
môi trường đối với nước thải
+ Quy định về bảo vệ môi trường đối với phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất (Ban
hành kèm theo QĐ số 03/2004/QĐ-BTNMT ngày 2/4/2004 của Bộ trưởng Bộ TN&MT)
+ Nghị định số 109/2003/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ về bảo tồn và phát triển bền
vững các vùng đất ngập nước
+ Nghị định số 121/2004/NĐ-CP ngày 12/5/2004 của Chính phủ quy định về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. (TCBVMT-5/2004).
+ Luật BVMT 2005, NĐ 80/NĐCP, NĐ 21/NĐCP, ....
C. Các khái niệm cơ bản về quản lý nhà nước về Bảo vệ môi trường
1.
Quản lý môi trường được mô tả ở mục V
Các UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Hệ thống tổ chức nhà nước về quản lý môi trường
Sơ đồ tổ chức.
Sự biến động của bộ chủ trì gần đây.
Thanh tra môi trường
Chức năng, nhiệm vụ.
Tổ chức và sự thay đổi.
Các cơ sở pháp lý cho hoạt động thanh tra môi trường.
Thanh tra diện rộng chuyên đề bảo vệ môi trường.
Công cụ quản lý môi trường
Phân loại theo chức năng: Vĩ mô, hành động, hỗ trợ.
Phân loại theo bản chất: luật pháp, kế hoạch, chính sách.
Các công cụ kỹ thuật: đánh giá tác động môi trường, quan trắc môi trường, kiểm toán môi
trường, tái chế và xử lý chất thải, công nghệ môi trường, công nghệ sản xuất sạch hơn.
Các công cụ kinh tế: thuế, phí.
7.
Một số khái niệm cần lưu ý trong quản lý nhà nước về Bảo vệ môi trường
Tai biến môi trường, sự cố môi trường.
Rủi ro môi trường, rủi ro sinh thái.
Xung đột môi trường.
Quy hoạch môi trường.
Du lịch sinh thái.
Đạo đức môi trường.
Sự tham gia của cộng đồng, xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường.
Các khái niệm khác.
8.
Các khái niệm về một số vấn đề thường gặp trong quản lý môi trường ở địa phương, ở cấp
quận huyện
Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.
Quản lý môi trường đô thị (không khí, nước, chất thải).
+
+
+
3.
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
4.
-
Tác động của các hoạt động của con người đến tình trạng của môi trường cũng như các mối
quan hệ của chúng đến sức khoẻ và phúc lợi kinh tế của con người;
Các hệ quả của các đáp ứng, như là các sáng kiến về chính sách, các cải cách về pháp luật và
các thay đổi trong hành vi của công chúng.
Mục tiêu và chức năng của báo cáo hiện trạng môi trường
Ba mục tiêu cơ bản báo cáo hiện trạng môi trường:
Cung cấp thông tin góp phần hoàn thiện quá trình ra quyết định ở tất cả các cấp.
Nâng cao nhận thức và hiểu biết về hiện trạng và xu thế diễn biến môi trường.
Đo lường bước tiến bộ hướng tới sự phát triển bền vững.
Các mục tiêu cụ thể:
Thường xuyên cung cấp cho công chúng và các cơ quan nhà nước, đặc biệt các cấp ra quyết
quyết định.
Thông tin phải được trình bày một cách trung thực, phải được tổng hợp từ nhiều nguồn đa dạng,
trong đó quan trọng là các kết quả monitoring, điều tra khảo sát thực địa và nguồn viễn thám.
Sự hợp tác, phối hợp rộng rãi giữa các ngành, các cấp, các cơ quan, tổ chức là điều kiện để đảm
bảo thành công cho một báo cáo hiện trạng môi trường.
4
-
1)
2)
3)
4)
5)
-
-
-
1.
-
Cần đưa vào báo cáo hiện trạng môi trường các mối liên quan của các cấp độ không gian khác
nhau, ví dụ trong Báo cáo quốc gia phải đề cập đến các vấn đề Khu vực, Báo cáo địa phương phải
đề cập đến các vấn đề tổng thể của quốc gia,... và ngược lại.
Việc đánh giá các thông tin để đưa vào báo cáo hiện trạng môi trường phải nhằm mục tiêu phát
triển bền vững của hệ sinh thái.
hệ sinh thái.
Cấu trúc báo cáo theo quá trình môi trường theo Mô hình động lực- áp lực - tình trạng - tác
động- đáp ứng
Thu thập, xử lý và lưu trữ dữ liệu
Tổ chức thực hiện và xây dựng báo cáo
B. XÂY DỰNG BỘ CHỈ THỊ MÔI TRƯỜNG
Các dạng chỉ thị môi trường
Các chỉ thị đại diện sử dụng các thông số để minh hoạ chiều hướng của các thay đổi trong môi
trường. Ví dụ: xói mòn đất, ôxy hoà tan và sunfua dioxit có thể được sử dụng như các chỉ thị của
chất lượng đất, nước hoặc không khí.
Các tệp hay bộ chỉ thị về nhiều các khía cạnh của vấn đề môi trường hay cho nhiều vấn đề khác
nhau.
5
-
2.
-
-
3.
+
+
+
+
+
+
phức tạp.
Tiêu chuẩn lựa chọn các chỉ thị
Độ tin cậy của dữ liệu và tính đúng đắn của phân tích
Tính phù hợp với vấn đề môi trường
Tính đại diện,
Phạm vi địa lý,
Phản ánh được sự thay đổi: Các chỉ thị cần phải có tính nhạy cảm đối với các thay đổi tạm
thời trong môi trường và trong các hoạt động liên quan của con người; một bộ chỉ thị cần phải có
tính mở và mềm dẻo để có thể bổ sung được các vấn đề ưu tiên mới.
Sự có ích đối với người dùng tin:
Tính phù hợp liên quan đến các vấn đề môi trường, các mục tiêu và mục đích đề ra.
Tính dễ hiểu, đơn giản, rõ ràng và dễ diễn giải;
Giá trị tham khảo: Các chỉ thị cần phải được gắn liền với các ngưỡng hay các mục tiêu mà
chúng có thể so sánh với để giúp các người dùng tin có thể đánh giá được tầm quan trọng của các
giá trị gắn liền với nó và ghi nhận được sự tiến bộ và hướng tới các mục tiêu của môi trường.
Khả năng dự báo: Các chỉ thị phải đưa ra được sự cảnh báo sớm đối với các xu hướng môi
trường tương lai có tác động quan trọng đến sức khoẻ của con người, đến nền kinh tế và đến hệ
sinh thái; chúng phải có khả năng hỗ trợ việc phát triển và dự báo các kịch bản.
Tiềm năng so sánh: Các chỉ thị phải được trình bày sao cho có thể thực hiện được sự so sánh
quốc tế đối với những vấn đề cần thiết.
Tình hình xây dựng bộ chỉ thị môi trường ở Việt Nam
Bộ chỉ thị môi trường tiếp tục được hoàn thiện với 84 chỉ thị được sắp xếp dưới 9 mục đề:
Môi trường đất
Môi trường nước lục địa
Môi trường nước biển
Môi trường không khí
Chất thải rắn
Môi trường sinh thái, đa dạng sinh học
Sự cố môi trường
- ĐTM là việc làm gắn liền các việc khác như: phân tích kinh tế, tìm kiếm các giải phái
kinh tế kỹ thuật trong toàn bộ quá trình xây dựng thực hiện thẩm tra sau khi thực hiện hoạt động
phát triển, trong xây dựng đường lới chiến lược, quy hoạch, kế hoạch hoá đều phải có ĐTM, mà
dưới đây sẽ chuyển thành khái niệm đánh giá môi trường chiến lược.
ĐTM phải thực hiện cả ở giai đoạn luận chứng kinh tế, kỹ thuật mà theo Luật Xây dưng
hiện nay gọi là báo cáo đầu tư và dự án đầu tư, cũng như thiết kế chi tiết trong quá trình thi công,
khai thác công trình... ĐTM mang tính dự báo, độ tin cậy cuả kết quả dự báo tuỳ thuộc nhiều yếu
tố, do đó thường xuyên phải theo dõi diễn biến của việc thực hiện khai thác dự án bằng cách đo
đạc, quan trắc và phải dựa vào kết quả đo đạc thực tế để diều chính các biện pháp cần thiết giảm
thiểu tác động tiên cực.
ĐTM có ý nghĩa quan trọng trong xét duyệt và quyết định hành động phát triển cùng với
các nhân tố kỹ thuật KT-XH. một số quan niệm sai: đối lập giữa MT với phát triển KTXH.
Ngựơc lại chúng hoà nhập với nhau trong các bước hoạt động phát triển.
Tuy nhiên ở tấ cả các nước, điều đó không dễ dàng thực hiện. Thông thường nhân tố kinh
tế – kỹ thuật vấn chiếm địa vị ưu thế trong quyết định chung và thường xét đến trước tiên.
8
Gần đây một số chuyên gia mới đề cập tới việc phải làm sớm tổng hợp và phải thường xuyên.
2. Đánh giá môi trường Chiến lược (ĐMC)
Một điểm mới trong Luật BVMT VN năm 2005 là đề cập đến đánh giá môi trường chiến lược
(ĐMC). Trong Luật, ở mục 1 của chương 3, về đánh giá môi trường chiến lược đối với các dự án
chiến lược, qui hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội có 4 điều (từ điều 14 đến điều 17) .
Ngày 9/8/2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 80/2006/NĐ-CP qui định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường. Mục 2 của Nghị định dành cho đánh giá
môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường, trong đó 3
điều trực tiếp liên quan đến đánh giá môi trường chiến lược các dự án, chiến lược, qui hoạch, kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
Đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) là một công cụ quản lý môi trường rất có hiệu quả,
nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và mục đích khác;
b) Nhóm tiêu chuẩn môi trường đối với nước mặt và nước dưới đất phục vụ các mục đích
về cung cấp nước uống, sinh hoạt, công nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, tưới tiêu nông nghiệp và
mục đích khác;
c) Nhóm tiêu chuẩn môi trường đối với nước biển ven bờ phục vụ các mục đích về nuôi
trồng thuỷ sản, vui chơi, giải trí và mục đích khác;
9
d) Nhóm tiêu chuẩn môi trường đối với không khí ở vùng đô thị, vùng dân cư nông thôn;
đ) Nhóm tiêu chuẩn về âm thanh, ánh sáng, bức xạ trong khu vực dân cư, nơi công cộng.
3. Tiêu chuẩn về chất thải bao gồm:
a) Nhóm tiêu chuẩn về nước thải công nghiệp, dịch vụ, nước thải từ chăn nuôi, nuôi trồng
thủy sản, nước thải sinh hoạt và hoạt động khác;
b) Nhóm tiêu chuẩn về khí thải công nghiệp; khí thải từ các thiết bị dùng để xử lý, tiêu
huỷ chất thải sinh hoạt, công nghiệp, y tế và từ hình thức xử lý khác đối với chất thải;
c) Nhóm tiêu chuẩn về khí thải đối với phương tiện giao thông, máy móc, thiết bị chuyên
dụng;
d) Nhóm tiêu chuẩn về chất thải nguy hại;
đ) Nhóm tiêu chuẩn về tiếng ồn, độ rung đối với phương tiện giao thông, cơ sở sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ, hoạt động xây dựng.
Điều 11. Yêu cầu đối với tiêu chuẩn về chất lượng môi trường xung quanh
1. Tiêu chuẩn về chất lượng môi trường xung quanh quy định giá trị giới hạn cho phép
của các thông số môi trường phù hợp với mục đích sử dụng thành phần môi trường, bao gồm:
a) Giá trị tối thiểu của các thông số môi trường bảo đảm sự sống và phát triển bình thường
của con người, sinh vật;
b) Giá trị tối đa cho phép của các thông số môi trường có hại để không gây ảnh hưởng
xấu đến sự sống và phát triển bình thường của con người, sinh vật.
2. Thông số môi trường quy định trong tiêu chuẩn về chất lượng môi trường phải chỉ dẫn
7. QCVN 7:2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp chế biến thuỷ
sản;
8. QCVN 8:2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp giấy và bột
giấy;
9. QCVN 9:2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp dệt may;
10. QCVN 10:2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt;
11. QCVN 11:2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật
trong đất.
V, QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
5.1. Khái niệm về quản lý môi trường
Quản lý môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội, có tác động điều chỉnh các
hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các kỹ năng điều phối thông tin, đối
với các vấn đề môi trường có liên quan đến con người; xuất phát từ quan điểm định lượng, hướng
tới phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài nguyên. (Lưu Đức Hải và Nguyễn Ngọc Sinh, 2000)
Thuật ngữ về quản lý môi trường bao gồm:
- Quản lý nhà nước về môi trường
- Quản lý của các doanh nghiệp, khu vực dân cư về môi trường
5.2. Các nguyên tắc quản lý môi trường chủ yếu
- Hướng tới sự phát triển bền vững
- Kết hợp các mục tiêu quốc tế - quốc gia - vùng lãnh thổ và cộng đồng dân cư trong việc quản lý
môi trường
- Quản lý môi trường xuất phát từ quan điểm tiếp cận hệ thống và cần được thực hiện bằng nhiều
biện pháp và công cụ tổng hợp đa dạng và thích hợp.
- Phòng ngừa tai biến, suy thoái môi trường cần được ưu tiên hơn việc phải dử lý hồi phục môi
trường nếu để xảy ra ô nhiễm.
- Người gây ô nhiễm phải trả tiền (PPP - Polluter pays principle)
5.3.Tổ chức công tác quản lý môi trường
Tổ chức công tác quản lý môi trường là nhiệm vụ quan trọng nhất của công tác bảo vệ môi
các dạng ô nhiễm phát sinh từ hoạt động sản xuất. Tuy nhiên, môi trường tự nhiên là cỗ máy xử
lý khổng lồ và hoạt động liên tục, do vậy cần phải có những phương thức quản lý tối ưu dựa trên
các khả năng của môi trường tự nhiên và hoạt động sản xuất của con người.
Hoạt động quản lý môi trường là cần thiết để điều tiết khả năng ứng dụng công nghệ và thiết bị
có lợi cho môi trường sống của toàn nhân loại hiện tại cũng như trong tương lai.
Các giải pháp tối ưu có từ các ứng dụng thông tin dự báo môi trường GIS, mô hình hoá, qui
hoạch môi trường, EIA, kiểm toán môi trường, chỉ có thể triển khai trong thực tế thông qua các
biện pháp quản lý tổng hợp môi trường của địa phương, ngành, quốc gia, khu vực và quốc tế.
Quản lý môi trường trong tương lai, có thể trở thành công cụ trợ giúp đắc lực cho sự phát triển
của ngành công nghiệp tái chế chất thải, một trong giải pháp công nghệ sạch, công nghệ không có
phế thải.
Cơ sở kinh tế của quản lý môi trường
Cơ sở kinh tế của quản lý môi trường được hình thành trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường
và các hoạt động có ảnh hưởng tới môi trường, được điều tiết thông qua các công cụ kinh tế:
Nếu dùng các biện pháp và công cụ kinh tế, chúng ta có thể định hướng được sản xuất và tiêu
thụ, nói cách khác, có thể điều khiển được các hoạt động sản xuất có tác động đến môi trường.
Các công cụ bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên thiên nhiên rất đa dạng, bao gồm:
Quyền sở hữu
Thuế các loại
+ Công cụ điều chỉnh vĩ mô: là luật pháp, chính sách.
+ Công cụ hành động: là các công cụ hành chính (xử phạt vi phạm môi trường trong kinh
tế, sinh hoạt), công cụ kinh tế, có tác động trực tiếp tới lợi ích kinh tế - xã hội của cơ sở sản xuất
kinh doanh.
+ Công cụ phụ trợ: là các công cụ không có tác động điều chỉnh hoặc không tác động trực
tiếp tới hoạt động. Các công cụ này dùng để quan sát, giám sát các hoạt động gây ô nhiễm, giáo
dục con người trong xã hội. Công cụ phụ trợ có thể là các công cụ kỹ thuật như: GIS, mô hình
hoá...
Phân loại theo bản chất công cụ
+ Công cụ luật pháp - chính sách: bao gồm các qui định luật pháp và chính sách về môi
trường và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên như các bộ luật về môi trường, luật nước,...
+ Công cụ kinh tế: đánh vào thu nhập bằng tiền của hoạt động sản xuất kinh doanh. Các
công cụ kinh tế chỉ được áp dụng có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường và nhanh chóng hoàn
thiện theo thời gian, đồng thời rất đa dạng như: thuế môi trường; nhãn sinh thái; phí môi trường;
cota môi trường...
+ Các công cụ kỹ thuật quản lý: có tác động trực tiếp vào các hoạt động tạo ra ô nhiễm
hoặc quản lý chất ô nhiễm trong quá trình hình thành và vận hành hoạt động sản xuất. Các công
cụ kỹ thuật quản lý gồm các công cụ đánh giá môi trường, monitoring môi trường, kiểm toán môi
trường, qui hoạch môi trường, công nghệ xử lý các chất thải, tái chế và sử dụng... Các công cụ
này có tác động mạnh tới việc hình thành và hành vi phân bố chất ô nhiễm trong môi trường, có
thể được thực hiện thành công trong bất kỳ một nền kinh tế phát triển nào.
+ Các công cụ phụ trợ: không tác động trực tiếp vào quá trình sản xuất sinh ra chất ô
nhiễm hoặc điều chỉnh vĩ mô quá trình sản xuất này, có thể bao gồm: GIS, mô hình hoá môi
trường, giáo dục và truyền thông về môi trường.
5.6. Kế hoạch hoá công tác bảo vệ môi trường
Vai trò công tác kế hoạch hoá ở nước ta không những không bị “lu mờ” trong nền kinh tế thị
trường, mà ngược lại còn đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc hoạch định các chính sách vĩ
mô điều hành nền kinh tế phát triển đúng hướng, ổn định và bền vững.
Do vậy, để đảm bảo phát triển bền vững đất nước, cần phải hình thành những nguyên tắc như: coi
môi trường là đối tượng của kế hoạch hoá; đưa nội dung bảo vệ môi trường vào tất cả các dự án,
Để phát huy hiệu lực của công cụ kinh tế cần có những điều kiện:
- Nền kinh tế thị trường thực sự.
- Chính sách và các qui định pháp luật chặt chẽ để có thể kiểm soát và điều chỉnh các hoạt động
sản xuất kinh doanh gây ra ô nhiễm.
- Hiệu lực cao của các tổ chức quản lý môi trường từ trung ương đến địa phương.
- Thu nhập bình quân (GDP) của quốc gia cao, cho phép quốc gia có những nguồn tài chính dành
cho công tác bảo vệ và giáo dục môi trường.
Các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường là một phần của chính sách môi trường, do đó cần
luôn được nghiên cứu để hoàn thiện, tránh sự phản ứng của nhà sản xuất và người tiêu thụ. Công
cụ kinh tế môi trường có tác động rất mạnh tới sự điều chỉnh chính sách kinh tế và môi trường ở
các nước phát triển, do vậy cần phải nghiên cứu áp dụng chúng trong mọi hoạt động kinh tế xã
hội ở qui mô lâu dài.
Thuế tài nguyên, môi trường và các lệ phí ô nhiễm
- Thuế tài nguyên
Thuế tài nguyên là một loại thuế thực hiện điều tiết thu nhập về hoạt động khai thác sử dụng tài
nguyên thiên nhiên của đất nước.
Các tài nguyên tái tạo được bao gồm: sản phẩm rừng tự nhiên, sản phẩm thuỷ sản tự nhiên, nước
tự nhiên. Một số tài nguyên không tái tạo được nhưng chưa xác định được trữ lượng cũng áp
dụng cách tính thuế trên.
Với tài nguyên không tái tạo được đã xác định được trữ lượng thì đối tượng tính thuế phải là trữ
lượng tài nguyên mất đi trong quá trình khai thác.
- Thuế môi trường
Thuế môi trường là khoản thu của ngân sách nhà nước, nhằm điều tiết các hoạt động bảo vệ môi
trường quốc gia, nhằm bù đắp các chi phí mà xã hội bỏ ra để giải quyết các vấn đề như: chi phí y
tế, chi phí mất ngày công lao động, chi phí phục hội môi trường, chi phí phục hồi tài nguyên, chi
phí xử lý và ngăn ngừa ô nhiễm...
- Phí và lệ phí môi trường
Khái niệm chung:
14
họ gây ra. Khi người gây ô nhiễm biết chắc chắn rằng phải trả tiền cho những thiệt hại về môi
trường, thì họ sẽ có các hành động để giảm nguy cơ ô nhiễm tới mức tối thiểu.
- Quĩ môi trường
Các chi phí dành cho công tác quản lý môi trường và xử lý các chất ô nhiễm thường chiếm một tỷ
lệ lớn trong vốn đầu tư xây dựng và quản lý hoạt động của dự án. Có thể xem quĩ là nguồn kinh
phí cho hoạt động bảo vệ môi trường
Quĩ môi trường được thành lập từ các nguồn kinh phí, bao gồm nguồn đóng góp ban đầu của
ngân sách nhà nước, nguồn đóng góp của các cơ sở hoạt động sản xuất kinh doanh và nguồn
đóng góp tự nguyện của các tổ chức và cá nhân, nguồn đóng góp từ phí môi trường và các loại lệ
phí khác, nguồn hỗ trợ chính thức từ nước ngoài (ODA) và các nguồn viện trợ của chính phủ
nước ngoài.
- Nhãn sinh thái
Nhãn sinh thái là một danh hiệu của nhà nước dành cho các sản phẩm không gây ra ô nhiễm môi
trường trong quá trình sản xuất ra sản phẩm; quá trình sử dụng sản phẩm đó có tác động thúc đẩy
các loại hoạt động hướng tới việc bảo vệ môi trường.
15
5.8.Những khái niệm cơ bản về quy hoạch môi trường :
1. Khái niệm về quy hoạch môi trường (QHMT) ra đời vào những năm 70 và được thực hiện rộng
rãi vào những năm 90 của thế kỷ này. Quy hoạch môi trường có thể coi là một ngành khoa học
môi trường khá mới không chỉ ở Việt Nam mà cả trên thế giới, do đó tồn tại nhiều quan niệm và
phương pháp nghiên cứu khác nhau.
2. Mục tiêu của quy hoạch môi trường
Mục đích của Quy hoạch môi trường vùng lãnh thổ là điều hoà sự phát triển của ba hệ thống Môi
trường – Kinh tế – Xã hội đang tồn tại và hoạt động trong vùng, đảm bảo sao cho sự phát triển
của hệ thống kinh tế xã hội phù hợp với khả năng chịu tải của hệ thống tự nhiên, bảo vệ được môi
trường sống và làm cho chất lượng cuộc sống ngày càng tốt hơn.
Tư tưởng chủ đạo xuyên suốt của QHMT là những quan điểm về phát triển bền vững bao gồm sử
định các chính sách, các quy định, các biện pháp kỹ thuật để đảm bảo sự hài hoà giữa phát triển
với chất lượng môi trường sống của cộng đồng.
- QHMT có những điểm tương đồng với QHTT phát triển kinh tế xã hội và với một số quy hoạch
ngành khác (như quy hoạch sử dụng đất) về phương pháp luận. Sự khác nhau tuy không rõ rệt
nhưng rất quan trọng giữa QHMT với các quy hoạch khác đó là chất lượng môi trường của từng
đơn vị lãnh thổ phân chia và mối quan hệ ảnh hưởng môi trường giữa các đơn vị lãnh thổ với
nhau được xem xét một cách nghiêm túc, có hệ thống.
16
5.9. Kiểm soát ô nhiễm môi trường (KSON), công nghệ xử lý nguồn thải gây ô nhiễm nước ,
không khí , đất và chất thải rắn,
Kiểm soát ô nhiễm: là tổng hợp các hoạt động, biện pháp và công cụ nhằm phòng ngừa, không
cho ô nhiễm xảy ra, hoặc khi có ô nhiễm xảy ra thì có thể chủ động xử lý, làm giảm thiểu hay loại
trừ nó và phục hồi lại như trước khi bị ô nhiễm.
- Như vậy: KSON bao gồm cả việc ra các luật lệ, chính sách, các văn bản phòng ngừa và xử lý ô
nhiễm, việc thanh tra ô nhiễm, quan trắc (monitoring) ô nhiễm, phần ô nhiễm của đánh giá tác
động môi trường (ĐTM), kiểm kê, kiểm toán và dự báo các nguồn thải, chất thải, chất lượng của
môi trường, xây dựng các tiêu chuẩn chất lượng, tiêu chuẩn chất thải, tiêu chuẩn công nghệ, xây
dựng và thực thi kế hoạch phòng ngừa và xử lý sự cố ô nhiễm, các kỹ thuật và biện pháp khắc
phục hậu quả ô nhiễm, phục hồi môi trường đã bị ô nhiễm, giáo dục, tuyên truyền đào tạo, nâng
cao nhận thức về ô nhiễm môi trường, nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ về ô nhiễm, ...
- KSON là một phần quan trọng nhất của quản lý môi trường, phải và thường được lưu ý trước
tiên, có thể đồng nhất quản lý ô nhiễm với kiểm soát ô nhiễm.
- Nước ta là nước đang phát triển. Một số thành phố lớn, một số sông, hồ, vũng vịnh, cửa sông đã
bị ô nhiễm, một số cơ sở (bệnh viện, bãi rác và một số cơ sở sản xuất) đang gây ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng. Song nhìn chung, mức độ ô nhiễm trong cả nước, chưa trầm trọng bằng các
nước phát triển khác. Vì vậy phòng ngừa ô nhiễm là quan trọng nhất, xử lý và phục hồi là quan
trọng song vẫn là phụ, coi tiêu chuẩn môi trường, tiêu chuẩn thải và tiêu chuẩn về các công nghệ