Khảo sát năng lực viết tiếng việt của học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh sơn la - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

PHẠM TUYẾT LOAN

KHẢO SÁT NĂNG LỰC VIẾT TIẾNG VIỆT CỦA
HỌC SINH TRƢỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC
NỘI TRÚ TỈNH SƠN LA

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

SƠN LA NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

PHẠM TUYẾT LOAN

KHẢO SÁT NĂNG LỰC VIẾT TIẾNG VIỆT CỦA
HỌC SINH TRƢỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC
NỘI TRÚ TỈNH SƠN LA

Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 60220102

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
GS.TS Nguyễn Văn Khang




MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................ 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................ 2
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu ........................................... 4
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ............................................................... 5
5. Phƣơng pháp nghiên cứu ............................................................................ 5
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn ................................................ 6
7. Cấu trúc của luận văn ................................................................................. 6
CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT ............................................................. 8
1.1. Những vấn đề chung năng lực ngôn ngữ và năng lực giao tiếp ................ 8
1.1.1. Năng lực ngôn ngữ ............................................................................... 8
1.1.2.Năng lực giao tiếp ................................................................................. 9
1.1.3. Khái quát về năng lực ngôn ngữ của học sinh trung học phổ thông ... 11
1.2. Những vấn đề chung về ngôn ngữ nói và ngôn ngôn ngữ viết .................. 14
1.2.1. Khái quát về ngôn ngữ nói .................................................................. 14
1.2.2. Khái quát về ngôn ngữ viết ................................................................. 23
1.2.3. Mối quan hệ tƣơng tác giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết ....................... 31
1.3. Giới thiệu khái quát về trƣờng phổ thông dân tộc nội trú Sơn La .................. 35
1.4. Tiểu kết chƣơng 1 .................................................................................. 39
CHƢƠNG II: KHẢO SÁT THỰC TRẠNG NĂNG LỰC VIẾT TIẾNG
VIỆT CỦA HỌC SINH TRƢỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ
TỈNH SƠN LA ............................................................................................ 41
2.1. Giới hạn khảo sát ................................................................................... 41
2.1.1. Đối tƣợng khảo sát, tƣ liệu:. ............................................................... 41
2.1.2. Phƣơng pháp khảo sát: ....................................................................... 41



nƣớc Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Từ đó, Tiếng Việt trở thành ngôn ngữ
quốc gia chính thức của Việt Nam, đƣợc ghi nhận rõ trong hiến pháp và đƣợc
sử dụng trong mọi lĩnh vực tại Việt Nam. Cho đến nay, vị trí và vai trò của
tiếng Việt ngày càng đƣợc đề cao và là một cầu nối quan trọng có tính quyết
định trong giao lƣu giữa Việt Nam với thế giới.
1.2. Tiếng Việt là ngôn ngữ giao tiếp chung giữa các dân tộc, là tiếng
phổ thông của cả nƣớc, là ngôn ngữ chính thức trong giáo dục. Nhƣng, nhìn
từ góc độ lí thuyết ngôn ngữ học, việc tiếp thu những tri thức và kỹ năng
bằng tiếng Việt của học sinh ngƣời dân tộc gặp khó khăn hơn học sinh ngƣời
Kinh bởi tiếng mẹ đẻ của các em và tiếng Việt là hai ngôn ngữ khác nhau.
Tiếng Việt là tiếng phổ thông nhƣng vẫn là ngôn ngữ thứ hai. Các em vẫn
không thể có những ƣu điểm bẩm sinh nhƣ học sinh Kinh học tiếng Việt. Học
sinh ngƣời dân tộc, do nhầm lẫn giữa hai ngôn ngữ nên thƣờng mắc lỗi giao
thoa ngôn ngữ (quá trình tất yếu). Hiện tƣợng này diễn ra ở từng cá nhân và
cả cộng đồng trong mọi phạm vi giao tiếp, thể hiện trên tất cả các bình diện
của ngôn ngữ: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp... Đây là một trong những lực cản
lớn ảnh hƣởng đến việc tiếp nhận kiến thức của học sinh.
1.3 Nói đến năng lực sử dụng tiếng việt là nói tới khả năng sử dụng
thành thạo tiếng việt bao gồm 4 kĩ năng nói, viết, đọc, hiểu. Năng lực tiếng
Việt của học sinh dân tộc thiểu số có khác nhau: thƣờng thấy năng lực nói tốt
hơn năng lực viết. Mặt khác, vốn từ về các lĩnh vực chính trị - xã hội và khoa
học kỹ thuật, hoặc từ Hán Việt còn khá xa lạ với học sinh. Thói quen tƣ duy

1


cụ thể và ảnh hƣởng tiêu cực của ngôn ngữ tự nhiên đã là một trở ngại lớn với
học sinh dân tộc trong quá trình tạo lập văn bản viết.
1.4. Do vậy, việc khảo sát thực trạng viết Tiếng Việt để góp phần nâng
cao năng lực viết tiếng Việt cho học sinh dân tộc là cần thiết. Cái mà ngƣời

(1990), Sửa lỗi ngữ pháp, NXBGDHN.
- Các tác giả Hồ Lê, Trần Thị Ngọc Lang, Tô Đình Nghĩa (2005) trong
Lỗi từ vựng và cách khắc phục (NXB Khoa học xã hội và nhân văn) cũng đã
đƣa ra các lỗi về từ vựng thƣờng gặp của học sinh ở các cấp tiểu học, THCS,
THPT và cách sửa lỗi rất khoa học để giúp học sinh tránh các lỗi thƣờng gặp
trong khi viết cũng nhƣ khi nói.
- Nhóm biên soạn Ngọc Xuân Quỳnh (2009) trong cuốn Hướng dẫn
học tốt chính tả và ngữ pháp tiếng Việt (Sổ tay chính tả tiếng Việt dành cho
học sinh tiểu học) NXB Từ điển bách khoa
- Nhóm tác giả Diệp Quang Ban (2000) trong cuốn Câu tiếng Việt và
các bình diện nghiên cứu câu, sách bồi dưỡng thường xuyên chu kì 19972000, NXBGDHN, cũng đã rất chú trọng tới vấn đề này.
- Nhóm tác giả Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng (1997) trong cuốn
Tiếng Việt thực hành- NXBGD đã nêu về việc sử dụng ngôn ngữ từ chữ viết,
chính tả đến việc dùng từ, đặt câu và tạo lập văn bản. Bên cạnh đó các tác giả
cũng đã phân tích, lí giải thuyết phục về lỗi sử dụng ngôn ngữ mà học sinh
thƣờng mắc phải, đồng thời nêu lên cách khắc phục.
- Cuốn Tiếng Việt trong nhà trường do Lê Xuân Thại chủ biênNXBĐHQGHN, 1990 đã tập hợp các bài viết của nhiều tác giả đề cập tới tiếng
Việt trong nhà trƣờng cả phƣơng diện lí thuyết và thực hành.
- Tác giả Phan Thiều (Rèn luyện ngôn ngữ- NXBGDHN, 1998) xem
việc rèn luyện ngôn ngữ, trong đó rèn luyện kĩ năng sử dụng từ ngữ là một
hoạt động ngôn ngữ.

3


Trong thời gian gần đây, có nhiều tác giả tiếp tục đi sâu nghiên cứu một
cách khá toàn diện về năng lực sử dụng ngôn ngữ của học sinh phổ thông, đặc
biệt các tác giả đã chú ý tới sự ảnh hƣởng của ngôn ngữ nói đến ngôn ngữ viết
và việc phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ tại vùng dân tộc thiểu số:
- GSTS Nguyễn Văn Khang: Ngôn ngữ học xã hội (2014), Nhà xuất bản

Để đạt đƣợc mục đích trên, luận văn đề ra những nhiệm vụ nhƣ sau:
1. Hệ thống hóa những cơ sở lý thuyết liên quan đến lĩnh vực ngôn
ngữ, chủ yếu là ngôn ngữ viết.
2. Tìm hiểu những nét khái quát về đời sống của học sinh trƣờng Phổ
thông dân tộc Nội trú Tỉnh Sơn La (có liên quan đến việc sử dụng tiếng Việt của
học sinh).
3. Khảo sát thực trạng viết tiếng Việt của học sinh trƣờng Phổ thông
dân tộc Nội trú Tỉnh Sơn La
4. Phân tích và chỉ ra những hạn chế trong việc viết tiếng Việt của học
sinh trƣờng Phổ thông dân tộc Nội trú Tỉnh Sơn La đồng thời đề xuất kiến
nghị góp phần nâng cao năng lực viết tiếng Việt cho học sinh.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Tiếng Việt đƣợc học sinh trƣờng Phổ thông
dân tộc Nội trú Tỉnh Sơn La sử dụng khi viết văn và tạo lập các văn bản viết.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Các sản phẩm ngôn ngữ viết, cụ thể là các bài
kiểm tra, bài thi của học sinh.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Các phƣơng pháp chủ yếu đƣợc sử dụng trong luận văn:
Phƣơng pháp miêu tả, phân tích đối với các tƣ liệu là các văn bản tự
luận của học sinh.
Phƣơng pháp điều tra Anket để tìm hiểu năng lực sử dụng ngôn ngữ
viết tiếng Việt của học sinh.

5


Phƣơng pháp tham dự và phỏng vấn sâu để tìm hiểu khả năng truyền
đạt của giáo viên và tiếp thu của học sinh.
Phƣơng pháp thống kê toán học các kết quả khảo sát đƣợc.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

- Khảo sát năng lực viết tiếng Việt của học sinh ở bình diện câu.
- Khảo sát năng lực viết tiếng Việt của học sinh ở bình diện văn bản
(tạo văn bản, liên kết văn bản)
Chƣơng III: Một số đề xuất nhằm nâng cao năng lực năng lực viết
tiếng Việt cho học sinh ngƣời dân tộc tại Trƣờng Phổ thông dân tộc Nội trú
Tỉnh Sơn La
Chƣơng này dự kiến trình bày những nội dung chính nhƣ sau:
1/ Đánh giá chung về năng lực viết tiếng Việt của học sinh tại trƣờng
PTDTNT Tỉnh Sơn La
2/ Phân tích và chỉ ra những nguyên nhân hạn chế về năng lực viết
tiếng Việt của học sinh tại trƣờng
3/ Đề xuất kiến nghị giải pháp góp phần nâng cao năng lực viết tiếng
Việt của học sinh dân tộc.

7


CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Những vấn đề chung về năng lực ngôn ngữ và năng lực giao tiếp
1.1.1. Năng lực ngôn ngữ
Khái niệm “năng lực ngôn ngữ”có thể hiểu là khả năng sử dụng tốt, có
hiệu quả một ngôn ngữ nào đó.
“Thế giới ngôn ngữ của con người được hình thành từ hai nửa: một
nửa là năng lực ngôn ngữ (competence) thuộc phạm trù tâm lí và một nửa kia
là sự vận dụng ngôn ngữ, tức là năng lực giao tiếp (perfomance) thuộc phạm
trù xã hội”{345;29}. N.Chomsky, ngƣời sáng lập ra lý thuyết Ngôn ngữ học
tạo sinh, gọi năng lực ngôn ngữ là ngữ năng và năng lực giao tiếp là ngữ thi
và ông quan niệm ngữ thi biểu thị cách dùng ngôn ngữ - hệ thống.
Cũng theo N.Chomsky, ngôn ngữ là một hiện tƣợng tâm lí đặc thù,
mang tính phổ quát. Tất cả các ngôn ngữ đều có cấu trúc nội tại giống nhau,

của mỗi con người. Bất cứ một cá nhân nào muốn trở thành thành viên của xã
hội thì nhất thiết phải học hỏi các tri thức, kĩ năng quy phạm mà xã hội có
được nhờ sự tích lũy theo thời gian. Mức độ thích ứng của từng cá nhân với
xã hội cũng như tư cách của mỗi cá nhân có được trong xã hội phụ thuộc vào
sự học hỏi và nắm vững những điều mang tính xã hội hóa. Môi trường để học
và tiếp thu của con người rất rộng thông qua gia đình, nhà trường, nơi làm
việc cũng như xã hội rộng lớn.”{347,29}. Bất cứ thành viên nào của xã hội
cũng phải học tập, điều chỉnh hành vi ngôn ngữ của mình để có thể thích nghi
với môi trƣờng xã hội mà ngƣời đó sinh sống. Nó là một quá trình xuyên suốt
cuộc đời con ngƣời. Trong giao tiếp xã hội con ngƣời sử dụng ngôn ngữ
không chỉ là phải đúng chuẩn mực quy tắc chung mà phải biết dùng ngôn ngữ
để giao tiếp làm sao cho hiệu quả. Ngƣời tham gia giao tiếp không chỉ quan
tâm đến ngữ nghĩa mà phải quan tâm đến ngữ cảnh, hoàn cảnh giao tiếp. Để
đạt đƣợc mục đích giao tiếp, ngƣời ta không chỉ phải biết nói cái gì, cái gì cần

9


nói và phải biết nói lúc nào, nói nhƣ thế nào. Phát ngôn không chỉ phải đạt
yêu cầu về mặt hình thức (cấu trúc) mà còn phải đạt yêu cầu về nội dung. Đôi
khi cũng xảy ra trƣờng hợp các bên tham gia giao tiếp không hiểu nhau , tức
là có sự vênh nhau giữa hình thức phát ngôn và nội dung phát ngôn (cách
hiểu). Và điều đó có ảnh hƣởng không nhỏ đến hiệu quả giao tiếp.Vì vậy
ngƣời sử dụng ngôn ngữ không chỉ cần phải có năng lực ngôn ngữ (ngữ năng)
mà cần phải có năng lực giao tiếp (ngữ thi).
Đối với trẻ nhỏ hay nói khác là con ngƣời thời thơ ấu cùng một lúc học
cả năng lực ngôn ngữ và năng lực giao tiếp. Khi trẻ bắt đầu học nói cũng là
bắt đầu học cả quy tắc giao tiếp. Trong quá trình giao tiếp ở môi trƣờng ngôn
ngữ rộng lớn đó đó có nhiều trƣờng hợp trẻ đã tiếp thu sai và sử dụng ngôn
ngữ không phù hợp, thậm chí là không đúng (cả về ngữ nghĩa và ngữ cảnh,

David Nunan cũng đƣa ra những luận điểm nhằm chứng minh rằng “Trẻ em
thụ đắc khả năng luân phiên lượt lời từ rất sớm…khả năng tham gia những
lượt lời nói dài hơn và khả năng truyền đạt rõ ràng những tin căn cứ trên sự
việc thực - không thụ đắc được tốt cho tới những năm đi học”[154;36]
Sau đó bƣớc đến tuổi đến trƣờng, trẻ em đƣợc giáo dục một cách chính
quy bài bản, đƣợc học chữ viết, tiếp xúc với ngôn ngữ thành văn. Ngữ thi của
chúng lúc này sẽ mở rộng thêm một khả năng nữa là sử dụng ngôn ngữ viết để
xây dựng các văn bản theo mục đích giao tiếp. Vậy năng lực ngôn ngữ viết là
khả năng giao tiếp xã hội bằng ngôn ngữ viết có đƣợc nhờ quá trình giáo dục.
1.1.3.2. Nhận xét chung về năng lực ngôn ngữ viết của học sinh Trung
học phổ thông
Thứ nhất, vấn đề mà luận văn quan tâm là năng lực viết tiếng Việt của
học sinh Trung học phổ thông, cụ thể là học sinh ngƣời dân tộc tại trƣờng Phổ
thông dân tộc Nội trú tỉnh Sơn La. Học sinh phổ thông trung học đang ở đội
tuổi vị thành niên, từ 15 đến 18 tuổi. Đây là giai đoạn phát triển quan trọng cả

11


về thể chất và nhân cách của các em. Ở lứa tuổi này, các em có sự phát triển
mạnh mẽ nhƣng chƣa có khả năng tự điều chỉnh tốt về hành vi, đạo đức, trí
tuệ… Ở lứa tuổi này, bên cạnh việc hoàn thiện những yếu tố nhân cách có từ
trƣớc, bắt đầu xuất hiện những yếu tố mới của sự trƣởng thành. Điều đó đòi
hỏi sự tích cực của bản thân nhằm chiếm lĩnh những giá trị chuẩn mực nhất
định, xây dựng những quan hệ thỏa đáng với môi trƣờng sống và thiết kế
nhân cách, tƣơng lai của bản thân các em.
Bắt đầu bƣớc vào Trung học phổ thông, các em đƣợc tiếp xúc với nhiều
môn mới, hệ thống tri thức mới. Chƣơng trình đòi hỏi các em phải thay đổi tƣ
duy, thay đổi phƣơng pháp học tập. Những tri thức lĩnh hội ở nhà trƣờng ngày
một tăng lên, đa dạng hơn nên tầm hiểu biết của các em ngày một mở rộng.

- Cấp độ văn bản.
Ngoài ra với đặc thù là khống chế thời gian viết đối với bài kiểm tra
làm văn (thƣờng là 45’ hoặc 90’) nên điều đó cũng phản chiếu cả năng lực
ngôn ngữ của học sinh lứa tuổi này (Do cơ chế rà soát tác động). Nếu năng
lực ngôn ngữ của chủ thể tốt, cơ chế rà soát linh hoạt, thì rõ ràng trong một
khoảng thời gian hữu hạn, ngƣời viết có thể chủ động với văn bản mà mình
triển khai (về mục đích, kết cấu, thể loại, ngôn từ…). Ngƣợc lại, ngay khi nói,
chủ thể đã không định lƣợng đƣợc thời gian và mục đích thì trong khoảng
thời gian hữu hạn nhƣ thế việc tạo lập sản phẩm văn bản viết sẽ bị ảnh
hƣởng(dùng từ thiếu chính xác, đặt câu không chuẩn mực, sai phong cách,
không kết thúc đƣợc văn bản, lạc đề, xa đề...).
Để tiến hành phân tích văn bản tự luận của học sinh, chúng tôi dựa vào
những đặc trƣơng cơ bản sau:
1.Yếu tố chức năng: Đích hay chủ đích của chủ thể khi tạo lập một
văn bản để thực hiện một hành động, chƣơng trình sách giáo khoa từ
Trung học cơ sở đã đã đƣa ra 6 kiểu loại văn bản phù hợp với 6 kiểu đích
khác nhau nhƣ sau:

13


STT

Kiểu văn bản

Mục đích giao tiếp

Phƣơng thức biểu đạt

1


Hành chính công vụ

Trình bày ý muốn, quyết định nào đó, thể
hiện quyền hạn, trách nhiệm giữa ngƣời nói
và ngƣời nghe

2. Yếu tố nội dung:
Việc lựa chọn và sử dụng từ ngữ, câu văn, đoạn văn, sự thống nhất đề
tài, chủ đề của văn bản, sự thống nhất chủ đề lớn với nội dung diễn đạt,
phƣơng thức biểu đạt, khả năng tạo lập chủ đề, triển khai chủ đề, hoàn thiện
thông điệp viết là những yếu tố mang đến sự thành công cho văn bản viết.
Để khảo sát năng lực sử dụng tiếng việt của học sinh Trung học phổ
thông tại trƣờng Phổ thông dân tộc nội trú Tỉnh Sơn La, chúng tôi chủ trƣơng
đi sâu vào việc lựa chọn và sử dụng từ ngữ, câu văn, tạo lập đoạn văn và văn
bản của học sinh để đạt hiệu quả giao tiếp.
1.2. Những vấn đề chung về ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
1.2.1. Khái quát về ngôn ngữ nói
1.2.1.1. Khái quát về giao tiếp bằng lời nói
Giao tiếp là trao đổi tƣ tƣởng tình cảm, thông tin giữa con ngƣời với
con ngƣời trong xã hội. Ngôn ngữ là phƣơng tiện giao tiếp đắc lực và hiệu
quả nhất của con ngƣời. Nhờ có ngôn ngữ mà con ngƣời có thể trao đổi tình
cảm, ý nghĩ, tƣ tƣởng. Ngôn ngữ nhờ giao tiếp mà hình thành và không ngừng
phát triển. Ngôn ngữ gồm có hai dạng tồn tại nói và viết. Con ngƣời sử dụng

14


hai dạng ngôn ngữ này để thực hiện các tƣơng tác xã hội, tìm kiếm và trao đổi
thông tin, xác lập các mối quan hệ. Trong đó ngôn ngữ nói là một dạng tồn tại

trực tiếp nội dung tƣờng minh của phát ngôn, mà chỉ hồi đáp nhằm vào hàm ý
của ngƣời đối thoại. Các nhân vật giao tiếp tham gia hội thoại cần tuân thủ
các phƣơng châm hội thoại nhƣ phƣơng châm về chất, phƣơng châm về
lƣợng, phƣơng châm cách thức, phƣơng châm quan hệ, phƣơng châm lịch sự,
(giữ thể diện trong hội thoại).
1.2.1.2 Một số vấn đề về ngôn ngữ nói
a, Ngôn ngữ nói trong mối quan hệ với ngôn ngữ viết
Ngôn ngữ nói có một vai trò quan trọng trong đời sống cá nhân và cộng
đồng. Từ khi chƣa có chữ viết, con ngƣời đã giao tiếp bằng ngôn ngữ nói.
Giao tiếp bằng ngôn ngữ nói là một chuỗi những hành động nói có chủ ý
(hoặc không có chủ ý) với một số ngƣời nghe nhằm thỏa mãn nhu cầu giao
tiếp tức thì và đạt một số mục đích nào đó. Không ai có thể phủ nhận đƣợc vai
trò quan trọng của giao tiếp bằng ngôn ngữ nói trong đời sống cộng đồng.
Nếu ngôn ngữ viết là ngôn ngữ đƣợc thể hiện bằng chữ viết và đƣợc
tiếp nhận bằng thị giác thì ngôn ngữ nói là ngôn ngữ âm thanh đƣợc tiếp nhận
bằng thính giác. Phƣơng tiện sử dụng của hai dạng ngôn ngữ này cũng khác
nhau. Nếu ngôn ngữ viết dùng kí tự thì ngôn ngữ nói dùng lời nói, chuỗi âm
thanh. Mỗi một dạng ngôn ngữ lại có những ƣu thế nổi trội, nếu ngôn ngữ viết
ƣu thế là kí hiệu bảng biểu, sơ đồ, hệ thống dấu câu, ngữ pháp chặt chẽ thì
ngôn ngữ nói ƣu thế là những yếu tố phi ngôn ngữ nhƣ nét mặt cử chỉ điệu bộ,
giọng nói, dáng vẻ v.v…
Xét về mặt lịch sử, ngôn ngữ nói ra đời trƣớc sau đó mới có ngôn ngữ
viết. Ban đầu loài ngƣời giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ âm thanh, sau đó
trong quá trình phát triển con ngƣời mới dùng kí tự để ghi lại những suy nghĩ,
tình cảm của mình, tức ghi lại ngôn ngữ âm thanh ấy. Nhƣ vậy ngôn ngữ nói
là cái xuất hiện trƣớc, là hoạt động chính của ngôn ngữ, còn dạng viết chỉ là

16




vào ý kiến chủ quan của bản thân mà phụ thuộc rất lớn vào hồi đáp tức thời
của ngƣời sẽ luân phiên đảm nhận vị trí ngƣời nói thứ hai. Nếu cuộc hội thoại
không diễn tiến nhƣ dự kiến, ngƣời nói phải lựa chọn cách bổ sung, sửa chữa
hoặc chuyển hƣớng đề tài. Trong ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày, các bên tham
gia hội thoại không thể hoạch định một cách cụ thể đối với toàn bộ nội dung
thông tin.
Ví dụ 1: Tại phòng họp của giáo viên trƣớc giờ lên lớp
Giáo viên A: Cậu dạy đến bài “Thông điệp nhân ngày thế giới phòng
chống AIDS”chưa?
Giáo viên B: Dạy rồi. Gì thế?
Giáo viên A: Cậu có cho học sinh viết thu hoạch tình hình phòng chống
HIV/AIDS tại địa phương không?
Giáo viên B: Có. Bài tập về nhà.
Giáo viên A: Hôm nay mấy tiết đấy? Có tiết 5 không?
Giáo viên B: ít thôi, có mỗi ba “nhát”. Có.
Giáo viên A: Ở lại hay về?
Giáo viên B: Về thôi. Chiều có tí việc.
Giáo viên A: Chiều có kế hoạch họp hành gì không nhỉ?
Giáo viên B: Chiều mai họp tổ. À, chiều có đi thăm người ốm không?
Giáo viên A: 5h nhé, bận tí.
(Dữ liệu ghi tại trường Phổ thông dân tộc Nội trú Tỉnh Sơn La, tháng 9
năm 2016)
Trong cuộc hội thoại trên ta thấy, giáo viên A chủ yếu hỏi giáo viên B
về việc giao bài tập cho học sinh sau khi học xong bài “Thông điệp nhân ngày
thế giới phòng chống AIDS, 1-12-2003”(Cô- phi- An- nan) nhƣng trong cuộc
hội thoại ta thấy họ trao đổi với nhau cả những vấn đề không liên quan đến
chuyên môn. Nhƣ vậy trong giao tiếp sinh hoạt hàng ngày ngƣời nói và ngƣời

18

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status