Header Page 1 of 123.
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC
CỦA SINH VIÊN KHOA NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ NGA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
Chuyên ngành:
Mã số:
Quản lý giáo dục
601405
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐẶNG QUỐC BẢO
HÀ NỘI - 2009
Footer Page 1 of 123.
1
Hµ Néi - 2009
Header Page 2 of 123.
DANH MỤC VIẾT TẮT
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CNH, HĐH
Cố vấn học tập
CVHT
Đại học Quốc gia Hà Nội
ĐHQGHN
Học sinh sinh viên
HSSV
Học sinh
HS
Khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Nga
Khoa NN&VH Nga
Ký túc xá
KTX
2. Mục đích nghiên cứu
2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
2
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
2
5. Giả thuyết khoa học
3
6. Phạm vi đề tài nghiên cứu
3
7. Phương pháp nghiên cứu
3
8. Cấu trúc luận văn
3
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.2.4. Tự học
16
1.3. Dạy học theo tín chỉ đòi hỏi sinh viên phải biết tự học
17
1.3.1. Học chế tín chỉ
17
1.3.2. Dạy - học theo học chế tín chỉ
20
1.3.3. Dạy học theo học chế tín chỉ đòi hỏi sinh viên phải biết tự học
23
1.4. Quản lý tự học theo học chế tín chỉ
28
Footer Page 4 of 123.
4
Header Page 5 of 123.
34
2.1.3. Quy mô và chất lượng đào tạo của trường
36
2.1.4. Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ
38
2.1.5. Đặc điểm của sinh viên
40
2.2. Thực trạng hoạt động tự học của sinh viên khoa NN&VH
43
Nga trường ĐHNN-ĐHQGHN trước yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ
2.2.1. Đặc điểm của sinh viên và đặc điểm đào tạo của khoa NN&VH Nga
43
2.2.2. Đội ngũ cán bộ và giảng viên khoa NN&VH Nga
46
2.2.3. Cơ sở vật chất của khoa NN&VH Nga
Header Page 6 of 123.
2.4.1. Những điểm mạnh
63
2.4.2. Những điểm yếu
63
Tiểu kết chương 2
65
Chương 3. NHỮNG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC
66
CỦA SINH VIÊN KHOA NN&VH NGA TRƯỜNG ĐHNN-ĐHQGHN
ĐÁP ỨNG YẾU CẦU ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
3.1. Nguyên tắc xác định các biện pháp
66
3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa
66
75
đẩy giảng viên cải tiến phương pháp giảng dạy giúp sinh viên tự học tốt
3.2.4. Biện pháp 4. Hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phù hợp
79
với yêu cầu đào tạo theo tín chỉ tạo điều kiện cho sinh viên tự học
3.2.5. Biện pháp 5. Phối kết hợp đồng bộ giữa các đơn vị chức năng
81
hướng tới hoạt động tự học của sinh viên theo học chế tín chỉ
3.3. Mối liên quan của các biện pháp
84
3.4. Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
86
Footer Page 6 of 123.
6
Header Page 7 of 123.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
90
giáo dục- đào tạo là phải “…đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện,
có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý
tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự
học, khả năng thực hành, lòng say mê và ý chí vươn lên”.
Tự học là một yêu cầu không thể thiếu đối với mỗi công dân nói chung,
thế hệ trẻ, sinh viên nói riêng. Tự học đã trở thành vấn đề cấp thiết đối với
giáo dục và đào tạo nước ta. Hoạt động tự học có ý nghĩa quyết định biến quá
trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo. Để hoạt động tự học của sinh viên đạt
được những thành quả như mong đợi thì đổi mới công tác quản lý giáo dục
được xem như giải pháp quan trọng.
Chuyển đổi phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ tạo sự thay đổi
lớn về phong cách, thói quen dạy - học của cả thầy và trò. Đối với hình thức
đào tạo này thì khối lượng giờ dạy trên lớp sẽ giảm đi, mà giờ tự học, tự
nghiên cứu của sinh viên sẽ tăng lên. Vì vậy việc tự học, tự nghiên cứu của
sinh viên có vai trò hết sức quan trọng, mang tính quyết định hiệu quả chất
lượng đào tạo.
Khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Nga nói riêng và trường Đại học Ngoại
ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội nói chung, trong các hội thảo về nâng cao
Footer Page 8 of 123.
8
Header Page 9 of 123.
chất lượng học tập của sinh viên, hội nghị nghiên cứu khoa học cũng đã nhiều
năm đề cập đến vấn đề tự học của sinh viên … và làm thế nào để kích thích
sinh viên ngoại ngữ tích cực hơn nhằm nâng cao kết quả học tập. Đồng thời
cũng đã có một số giải pháp như: đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoa
Ngôn ngữ và Văn hoá Nga trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoa Ngôn ngữ và
Văn hoá Nga đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu tìm được biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoa
Ngôn ngữ và Văn hoá Nga trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà
Nội phù hợp, đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ thì chất lượng hoạt
động học tập của sinh viên sẽ được nâng cao, đáp ứng mục tiêu đào tạo của
nhà trường trong giai đoạn hiện nay.
6. Phạm vi đề tài nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoa
Ngôn ngữ và Văn hoá Nga Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà
Nội từ năm học 2006-2007 đến nay.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
- Thu thập, nghiên cứu, phân tích xử lý tài liệu.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra bảng hỏi
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp chuyên gia.
7.3. Nhóm phương pháp hỗ trợ:
- Sử dụng công cụ thống kê để xử lý số liệu.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung luận văn trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài.
Footer Page 10 of 123.
việc học tập theo ông phải gắn liền với thực hành để thông suốt những điều đã
học. Ông đề cập và nhấn mạnh mối quan hệ tác động giữa việc học tập và tư
duy trong học tập, ông cho đó là hai yếu tố ràng buộc không thể thiếu của một
vấn đề: “Học nhi bất tư vong, tư nhi bất học tất đãi”. Ông cho rằng học mà
không nghĩ thì mờ tối, nghĩ mà không học thì khó nhọc, mất công. Do vậy,
với ông việc học tập và tự học là cần thiết và gắn bó mật thiết với nhau.
Socrat (469-309 trước công nguyên) đã từng nêu khẩu hiệu “Anh hãy
tự biết lấy anh” qua đó, mong muốn học trò phát hiện ra “chân lý” bằng cách
đặt câu hỏi để dần dần tìm ra kết luận.
Raja Roy Singh, nhà giáo dục Ấn Độ trong tác phẩm “Giáo dục cho thế
kỷ XXI, những triển vọng của Châu Á Thái Bình Dương” đã đưa ra quan
điểm về quá trình “Nhận biết dạy- học”, và ông chủ trương rằng người học
phải là người tham gia tích cực vào quá trình “Nhận biết dạy - học”. Theo ông
“Sự học tập do người học chủ đạo”
Một trong những đặc trưng cơ bản, quan trọng nhất trong xã hội học tập
là tư tưởng tự học tập suốt đời. Vì “việc học không bao giờ là muộn” (Ngạn
Footer Page 12 of 123.
12
Header Page 13 of 123.
ngữ), hay “Bác học không có nghĩa là ngừng học” (Đác-uyn). Quan niệm tự
học và học tập suốt đời nổi lên trong thời đại ngày nay như một chìa khoá mở
cửa đi vào thế kỉ 21 - thế giới của nền kinh tế tri thức.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, một tấm gương sáng ngời về ý chí quyết tâm
trong tự học, tự rèn luyện. Người luôn cho rằng học tập giúp con người tiến
bộ, nâng cao phẩm chất, mở rộng hiểu biết, làm thay đổi hiệu quả lao động.
Người đã động viên toàn dân: “Phải tự nguyện, tự giác xem công việc học tập
nghiên cứu giáo dục như: Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Ngọc Bảo, Hà
Thị Đức…với mục đích nâng cao hiệu quả tự học của sinh viên, góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo.
1.1.2. Những quan điểm dạy và học theo tín chỉ:
Xuất phát từ đòi hỏi quy trình đào tạo phải tổ chức sao cho mỗi sinh
viên có thể tìm được cách học thích hợp nhất cho mình, đồng thời trường đại
học phải nhanh chóng thích nghi và đáp ứng được những nhu cầu của thực
tiễn cuộc sống, vào năm 1982 Viện Đại học Harvard đã quyết định thay thế hệ
thống chương trình đào tạo niên chế cứng nhắc bằng hệ thống chương trình
mềm dẻo cấu thành bởi các môđun mà mỗi sinh viên có thể lựa chọn một
cách rộng rãi. Có thể xem đó là điểm mốc khai sinh học chế tín chỉ.
Đến đầu thế kỷ 20 hệ thống tín chỉ được áp dụng rộng rãi hầu như trong
mọi trường đại học Hoa Kỳ. Tiếp sau đó, nhiều nước lần lượt áp dụng hệ
thống tín chỉ trong toàn bộ hoặc một bộ phận của trường đại học của mình:
các nước Bắc Mỹ, Nhật Bản, Philippin, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan,
Malaisia, Indonesia, Ấn Độ… Tại Trung Quốc từ cuối thập kỷ 80 đến nay hệ
thống tín chỉ cũng lần lượt được áp dụng ở nhiều trường đại học. Vào năm
1999, 29 Bộ trưởng đặc trách giáo dục đại học ở các nước trong Liên minh
Châu Âu đã ký Tuyên ngônBoglona nhằm hình thành Không gian Giáo dục
đại học Châu Âu thống nhất vào năm 2010, một trong các nội dung quan
trọng của Tuyên ngôn đó là triển khai áp dụng học chế tín chỉ trong toàn hệ
thống giáo dục đại học để tạo thuận lợi cho việc cơ động hoá, liên thông hoạt
động học tập của sinh viên trong khu vực Châu Âu và trên thế giới.
Trước năm 1975, một số trường đại học chịu ảnh hưởng của Mỹ tại
Miền Nam Việt Nam đã áp dụng tín chỉ: Viện Đại học Cần Thơ, Viện Đại học
Thủ Đức…
Footer Page 14 of 123.
14
vào khoa đó không phải vì học giỏi ngôn ngữ đó, cũng không phải vì niềm
Footer Page 15 of 123.
15
Header Page 16 of 123.
say mê mà chủ yếu là giải pháp tình thế dẫn đến kết quả học tập của các em
không được cao. Chính vì vậy, là một cán bộ quản lý sinh viên của khoa, tác
giả đi sâu vào việc nghiên cứu tìm ra các biện pháp quản lý hoạt động tự học
của sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Nga trường Đại học Ngoại ngữ ĐHQGHN góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động tự học của sinh viên khoa
NN&VH Nga nói riêng và nâng cao chất lượng giáo dục của Nhà trường
trong xu hướng đào tạo theo học chế tín chỉ.
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Sinh viên:
Thuật ngữ “sinh viên” có nguồn gốc từ tiếng La tinh “student” có nghĩa
là người làm việc, học tập nhiệt tình, người tìm kiếm, khai thác tri thức. Nó
được dùng tương đương với từ “student” trong tiếng Anh, “Etudiant” trong
tiếng Pháp và “Cmgenm” trong tiếng Nga để chỉ những người đang theo học
ở bậc đại học, được phân biệt với học sinh đang học ở phổ thông.
Theo X.L.Rubinsen quan niệm: “sinh viên” là đại biểu của một nhóm
xã hội đặc biệt được đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng để chuẩn bị
cho hoạt động lao động và sản xuất vật chất cho xã hội. Nhóm sinh viên rất cơ
động được tổ chức theo một mục đích xã hội nhất định nhằm chuẩn bị thực
hiện vai trò xã hội với trình độ nghề nghiệp cao trong lĩnh vực xã hội, sinh
viên là nguồn lực bổ sung cho đội ngũ tri thức được đào tạo thành người lao
động có tay nghề cao tham gia hoạt động tích cực.
Quy chế công tác HSSV trong các trường đạo tạo của Bộ Giáo dục và
đào tạo thì “sinh viên” là người đang học hệ Đại học và Cao đẳng.
- Họ là nhóm xã hội đặc biệt gồm những thanh niên xuất thân từ các
tầng lớp xã hội khác nhau đang trong quá trình học tập, chuẩn bị
nghề nghiệp chuyên môn để bước vào một nhóm xã hội mới là tầng
lớp tri thức trẻ.
1.2.2. Quản lý, các chức năng quản lý
1.2.2.1. Quản lý:
Footer Page 17 of 123.
17
Header Page 18 of 123.
Thuật ngữ “quản lý” (từ Hán Việt) gồm hai quá trình tích nhau. Quá
trình “quản” gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định”. Quá trình
“lý” gồm sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ thống (tổ chức) vào thế “phát
triển”. Nếu chỉ “quản” thì tổ chức dễ trì trệ, nếu chỉ “lý” thì tổ chức phát triển
không bền vững. Do đó trong “quản” phải có “lý” và ngược lại để làm cho hệ
thống ở trạng thái cân bằng động, vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả
trong môi trường tương tác giữa các nhân tố bên trong và các nhân tố bên
ngoài tổ chức [9, tr.1].
Quản lý là sự điều khiển một hệ thống hoạt động xã hội ở tầm vĩ mô
cũng như vi mô vì vậy có nhiều cách tiếp cận khác nhau, ở mỗi cách tiếp cận
có những định nghĩa khác nhau.
K.Marx đã từng nói đến sự cần thiết của quản lý: “Bất kỳ một lao động
xã hội nào được tiến hành trên một quy mô tương đối lớn cũng đều cần có sự
quản lý, nó xác lập mối quan hệ hài hoà giữa các công việc riêng rẽ và thực
tiễn những chức năng chung nhất xuất phát từ sự vận động của toàn cơ cấu
sản xuất khác với vận động của từng bộ phận độc lập trong nền sản xuất ấy.
Một nghệ sĩ vĩ cầm tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng”
được mục tiêu. Khách thể quản lý là những người chịu sự tác động chỉ đạo
của chủ thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung.
1.2.2.2. Chức năng quản lý:
Chức năng của quản lý là tập hợp các nhiệm vụ mà chủ thể quản lý
phải thực hiện để đạt mục đích, mục tiêu quản lý đề ra. Có nhiều cách phân
chia về chức năng quản lý nhưng cơ bản thống nhất ở bốn chức năng cơ bản:
- Chức năng lập kế hoạch:
Lập kế hoạch là quá trình ấn định những nhiệm vụ, những mục tiêu và
phương pháp tốt nhất để thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ đó.
Lập kế hoạch là phương pháp tiếp cận hợp lý để đạt những mục tiêu
định trước, là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng quản lý vì nó gắn
liền với việc lựa chọn chương trình hành động trong tương lai.
Kế hoạch là văn bản trong đó xác định mục tiêu, mục đích của một tổ
chức và những con đường, các biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu,
mục đích đó. Chức năng kế hoạch hoá có 3 nội dung cơ bản là:
+ Xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức;
Footer Page 19 of 123.
19
Header Page 20 of 123.
+ Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về
các nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu này.
+ Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được
các mục tiêu, xác định các hoạt động ưu tiên.
- Chức năng tổ chức:
Tổ chức thực hiện kế hoạch là quá trình sắp xếp và phân phối các
nguồn lực để thực hiện các mục tiêu đã đề ra, là sự sắp đặt một cách khoa học
+ Xây dựng chuẩn thực hiện
+ Đánh giá việc thực hiện trên chính sách so với chuẩn
+ Nếu có sự chênh lệch thì cần điều chỉnh hoạt động.
Bốn chức năng của quản lý có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành
một chu trình quản lý. Chu trình quản lý bao gồm bốn giai đoạn với sự tham
gia của hai yếu tố quan trọng thông tin và quyết định. Trong đó thông tin có
vai trò là huyết mạch của hoạt động quản lý đồng thời cũng là tiền đề của một
quá trình quản lý tiếp theo.
Sơ đồ 1.1. Các chức năng trong một chu trình quản lý
Lập
kế hoạch
Kiểm tra
TT QL
Tổ chức
Chỉ đạo
1.2.3. Dạy - học:
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, dạy học bao gồm hai hoạt động:
hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò.
Dạy là quá trình hoạt động của thầy, thông qua sự truyền đạt nội dung
mà chỉ đạo (tổ chức, hướng dẫn, kiểm tra) hoạt động của trò, nhằm làm cho
trò đạt tới mục đích dạy học [21, tr.91].
Footer Page 21 of 123.
21
Footer Page 22 of 123.
22
Header Page 23 of 123.
Sơ đồ 1.2. Cấu trúc của quá trình dạy - học
Tri thức
Dạy
Học
Truyền đạt
Lĩnh hội
Điều khiển
Tự điều khiển
1.2.4. Tự học
Tự học (self-learning) là quá trình nỗ lực chiếm lĩnh tri thức của bản
thân người học bằng hành động của chính mình, hướng tới những mục đích
nhất định.
Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Tự học là tự mình động não,
suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng
hợp…) và có khi cả cơ bắp (khi sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của
mình, rồi cả động cơ tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung
căn cứ trên khối lượng lao động học tập trung bình của một sinh viên, gọi là
tín chỉ (credit).
1.3.1.2. Đặc điểm của học chế tín chỉ:
- Kiến thức được cấu trúc thành các mô-đun (học phần)
+ Học phần là môn học có cấu trúc chặt chẽ, được giảng dạy
trọn vẹn trong một học kỳ và được đánh giá độc lập với các học phần khác.
+ Đơn vị đo khối lượng học tập của sinh viên và tín chỉ. Một tín
chỉ được quy định bằng một số tiết học trên lớp tương đương với 15 tiết lý
thuyết; 30-45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45-90 giờ thực tập tại
cơ sở; 45-60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn
+ Đối với học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp
thu được một tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị bài ở nhà.
+ Một tiết học được tính bằng 50 phút.
- Quá trình học tập là sự tích luỹ kiến thức của người học theo từng
học phần (tín chỉ).
Footer Page 24 of 123.
24
Header Page 25 of 123.
- Lớp học tổ chức theo từng học phần, sinh viên đăng ký học các học
phần ở đầu mỗi kỳ học. Một năm học có thể gồm 2 học kỳ chính (15 tuần học
và 3 tuần thi ) và có thể có một học kỳ hè (5 tuần học và 1 tuần thi), hay gồm
3 học kỳ (12 tuần học và 3 tuần thi) hoặc chia làm 4 học kỳ (10 tuần học và 2
tuần thi)
- Đánh giá thường xuyên, thang điểm 4 bậc (A, B, C, D hay 4, 3, 2, 1)
- Quy định khối lượng kiến thức phải tích luỹ cho từng văn bằng. Dựa
vào khối lượng tín chỉ đã tích luỹ để xếp năm học phù hợp cho người học.