A.
1.
MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Văn hoá là toàn bộ những hoat động sáng tạo và giá trị của nhân dân một
nước, một dân tộc về mặt sản xuất vật chất và tinh thần trong sự nghiệp dựng nước
và giữ nước. Văn hoá là tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác,
từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán,
lối sống và lao động.Văn hoá là một hoạt động nhằm phát huy những nhu cầu và
năng lực bản chất của con người, vươn tới cái chân, thiện, mỹ; là hoạt động nhằm
tạo ra những giá trị, chuẩn mực xã hội; là cái nôi nuôi dưỡng nhân cách của con
người. Với ý nghĩa đó, văn hoá có mặt ở mọi hoạt động sản xuất vật chất cũng như
sản xuất tinh thần của con người, trong mọi quan hệ ứng xử xã hội hay thái độ đối
với thiên nhiên.
Như vây, văn hóa là hệ thống giá trị toàn diện, ở đó nó được cấu thành và
hòa đồng bởi những giá trị của truyền thống và giá trị hiện đại; trình độ học vấn và
trình độ văn minh; giá trị của chân, thiện, mỹ.
Trong đời sống xã hội, con người bị ảnh hưởng bởi nền văn hóa trong đó họ sống,
nó bao gồm những giá trị, niềm tin, thái độ và những hành vi mong đợi. Cũng như
xã hội, ở phạm vi hẹp hơn, trong công sở cũng có một nét văn hóa riêng gọi là văn
hóa công sở, đó là một yếu tố rất quan trọng mà nhà quản lý cần xây dựng và duy
trì để xây dựng một công sở hoạt động hiệu quả, ổn định và bền vững.
Văn hoá công sở là sự pha trộn của văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần.
Xuất phát từ đặc điểm của công sở là trụ sở công mà ở đó có tổ chức (cơ cấu, đội
ngũ cán bộ, công chức); có cơ sở vật chất (nhà cửa, phòng làm việc v.v..) cho thấy
văn hoá công sở rộng hơn, bao trùm lên cả văn hoá tổ chức. Văn hóa công sở là
nguyên), thời tây Hán với những ý nghĩa như một phương thức giáo hoá con người
– giá trị văn hoá. Ở phương Tây, để chỉ đối tượng mà chúng ta nghiêm cứu, người
Pháp, người Anh có từ culture, người Đức có từ kultur, người Nga có từ kultura.
Những chữ này có chung gốc Latinh là chữ cultus animi là trông trọt tinh thần.(1)
Vào thế kỷ XIX, thuật ngữ “văn hoá” được những nhà nhân loại học phương
Tây sử dụng như một danh từ chính. Những học giả này cho rằng văn hoá (văn
minh) thế giới có thể phân loại ra từ trình độn thấp nhất đến cao nhất, và văn hoá
của họ chiến vị trí cao nhất.(1)
Ở Việt Nam, Đường lối xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam được
xác định tại Đề cương văn hóaViệt Nam(1943): “Mặt trận văn hóa là một trong ba
mặt trận (chính trị, kinh tế, văn hóa)”; “Không phải chỉ làm cách mạng chính trị
mà còn phải làm cách mạng văn hóa…”; “Có lãnh đạo được phong trào văn hóa,
Đảng mới ảnh hưởng được dư luận, việc tuyên truyền của Đảng mới có hiệu
quả”(2) và “Phải hoàn thành cách mạng văn hóa mới hoàn thành được cuộc cải tạo
xã hội…”(3); “Cách mạng văn hóa muốn hoàn thành phải do Đảng Cộng sản Đông
Dương lãnh đạo”(4). Mục tiêu trước mắt mà Đề cương văn hóa Việt Nam đề ra là
1(1): Giáo trình cơ sở văn hoá Việt Nam, Trần Quốc Vượng, Nxb Giáo dục, tr.17,18.
2(2): Văn kiện Đảng Toàn tập, t.43, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 318.
3(3),(4),(5): Văn kiện Đảng Toàn tập, t.43, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 318, 319, 98
(6): Sđd, t. 51, tr. 135-136.
(7): Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1998, tr.54-55
4
xây dựng nền văn hóa mới dân tộc, khoa học, đại chúng và mục tiêu lâu dài là xây
dựng “văn hóa xã hội chủ nghĩa”(5).
Từ ba nguyên tắc vận động cách tân văn hóa: dân tộc hóa, đại chúng hóa,
khoa học hóa (1943); tiến hành cách mạng XHCN trên lĩnh vực tư tưởng và văn
-
sách báo, các công trình nghiêm cứu khác có liên quan và qua mạng internet.
Phương pháp khảo sát thực địa: đây là phương pháp tiếp cận trực tiếp đối
-
tượng từ đó có những kiến thức thực tế để hoàn thành bài tập.
Phương pháp phân tích và tổng hợp: từ những tài liệu thu thập được qua
phương pháp thu thập và xử lý thông tin kết hợp với kiến thức thực tế thông
qua phương pháp khảo sát thực địa. Cần phải tiến hành phân tích và tổng hợp
-
lại thông tin. Đây là phương pháp được sử dụng trong suốt quá trình làm bài.
Phương pháp phân loại và hệ thống hoá.
6. Bố cục bài tiểu luận
MỞ ĐẦU
-
Lý do chọn đề tài
Mục tiêu nghiêm
cứu
Đối tượng nghiêm
cứu
Lịch sử nghiêm
cứu
CHƯƠNG 1. CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HOA CÔNG SỞ VÀ HÊ
THỐNG CÁC VĂN BẢN CỦA VIÊT NAM VỀ VĂN HOÁ CÔNG
SỞ
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm văn hoá
Theo cách hiểu thông thường, văn hoá là học thức, trình độ học vấn và
lối sống lành mạnh.
Theo nghĩa rộng, văn hoá bao gồm toàn bộ đời sống con người.
Trên thế giớ có nhiều định nghĩa về văn hoá. Theo UNESCO: “Văn hoá
là một hệ thống những hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người
sáng tạo và tích luỹ trong quá trình hoạt động thực tiễn và trong sự tương tác
giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”.
1.1.2.
Khái niệm công sơ
Công sở là một tổ chức đặt dưới sự quản lý trực tiếp của nhà nước để tiến
hành một công việc chuyên ngành của nhà nước. Công sở là một tổ chức thực
hiện cơ chế điều hành, kiểm soát công việc hành chính, là nơi soạn thảo văn bản
để thực hiện công vụ, đảm bảo thông tin cho hoạt động của bộ máy quản lý nhà
nước, nơi phối hợp hoạt động thực hiện một nhiệm vụ được nhà nước giao. Là
nơi tiếp nhận yêu cầu, đề nghị, khiếu nại của công dân . Do đó, công sở là một
bộ phận hợp thành tất yếu của thiết chế bộ máy quản lý nhà nước.
Là tổ chức của hệ thống bộ máy nhà nước hoặc tổ chức công ích được
Nhà nước công nhận, bao gồm cán bộ, công chức được tuyển dụng, bổ nhiệm
theo quy chế công chức hoặc theo thể thức hợp đồng để thực hiện công vụ nhà
nước. Công sở có vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và có cơ cấu tổ chức
hay thấp. Đây là vấn đề cần được quan tâm vì nó đánh vào ý thức của mỗi
người các bộ công chức,người cán bộ phải xem công việc của cơ quan như công
việc của gia đình mình và có trách nhiệm cao trong công việc. Có như vậy hiệu
quả làm việc mới cao được.
Các biểu hiện hành vi của văn hoá công sở rất đa dạng và phong phú.cần
phải xem xét một cách tỉ mỷ mới có thể đánh giá hết được mức độ ảnh hưởng
của chúng tới năng suất lao động quản lý, tới hiệu quả của hoạt động tổ chức
công sở nói chung.
Kỹ thuật điều hành tạo nên Văn hoá tổ chức công sở. Đây là vấn đề có liên
quan tới nề nếp làm việc, kỷ cương trong bộ máy quản lý nhà nước. Nếu những
kỷ cưng này được xây dựng một cách chặt chẽ thì nền văn hóa công sở sẽ được
đề cao và tổ chức có điều kiện để phát triển.
Thực tế cho thấy rằng, công sở là nơi phải thường xuyên tiếp xúc với nhân dân,
các cơ quan hữu quan, bạn đồng nghiệp và các cơ quan cấp trên. Yếu tố cơ sở
vật chất chỉ một phần, nhưng quan trọng hơn cả là yếu tố con người sẽ quyết
định Văn hoá công sở.
1.3.
Các yếu tố cấu thành văn hoá công sơ
Hệ thống giá trị văn hóa công sở được cấu thành bởi các thành tố và
nội dung sau: truyền thống, hiện đại, trình độ học vấn, trình độ văn minh.
Tất cả hướng tới các giá trị chân, thiện, mỹ.
Văn hóa nói chung, văn hóa công sở nói riêng là sự kết nối của hệ
thống giá trị từ truyền thống đến hiện đại, nó vừa mang đậm bản sắc của cái
riêng, cái “dân tộc” vừa tuân thủ chuẩn mực chung, chuẩn mực của “thời
đại”. Trình độ học vấn là điều kiện để mở cánh cửa sổ trí tuệ và tâm hồn con
người bước vào nền văn hóa tiên tiến hơn. Trình độ văn minh là đánh dấu
tại khiến họ ý thức được văn hoá là động lực phát triển của mọi hoạt động
trong các công sở hiện nay. Yếu tố dân tộc, hiện đại và hệ giá trị này thấm
nhuần trong mỗi thành viên công sở, được chắt lọc, kế thừa và phát triển,
phát huy theo quá trình đi lên của công sở, được vật chất hoá trong các cấu
trúc thiết chế hành chính và công nghệ hành chính. Đổi mới hoạt động công
sở là một thành tựu văn hoá.
Hai là, vai trò của văn hoá càng được phát huy nếu gắn với trình độ học vấn
và trình độ văn minh trong hoạt động của các công sở.Một nền văn minh
mới xuất hiện đã thể hiện ở sự hình thành các tiêu chí, chuẩn mực trong hoạt
động công sở, quan hệ ứng xử và môi trường chính trị mang đậm màu sắc
văn hoá nhân văn, nhân ái và nhân bản, với các giá trị chân, thiện, mỹ.
Tài sản vô hình ở các công sở hiện nay bao gồm các yếu tố như: thông tin
khoa học - công nghệ, tổ chức bộ máy và nghệ thuật quản lý, sự tín nhiệm của
nhân dân đối với cán bộ, công chức nhà nước. Những điều này có thể coi là sự
chuyển hoá các năng lượng tinh thần của con người vào hoạt động công sở, đó
chính là văn hoá công sở.
Ba là, vai trò của văn hóa thể hiện là nền tảng mang tính con người.
Thực tế phát triển của các cơ quan, công sở ở nước ta vừa qua chứng minh rằng
không thể coi nhẹ nhân tố con người. Nói đến con người chính là nói đến văn
hoá, vì toàn bộ những giá trị văn hoá làm nên những phẩm chất, năng lực tinh
thần của con người. Những phẩm chất và năng lực thật đó của cán bộ, công
chức được vật chất hóa tạo thành nguồn lực nuôi dưỡng sự tồn tại và phát triển
của công sở.
Văn hóa là chiếc nôi nuôi dưỡng giá trị "cái thiện" trong hoạt động công
sở với hệ thống giá trị của cái tốt, của lương tâm, đạo đức và tâm hồn cao đẹp
của mỗi cán bộ, công chức trong thực thi công vụ. Thiếu nền tảng tinh thần tiến
bộ, lành mạnh thì không có sự phát triển công sở bền vững. Vận dụng các yếu
tố văn hoá trong việc thúc đẩy mọi hoạt động của công sở như có hệ thống
chính phính phủ về việc thực hiện chế độ làm việc 40 giờ.
Quyết định gồm 9 điều, quy định chi tiết về phạm vi, đối tượng điều chỉnh
và nguyên tắc chế độ tuần làm việc 40 giờ trên tuần, nghỉ ngày thứ 7 và chủ
nhật hàng tuần đối với cán bộ, công chức và người lao động trong các cơ
4.
quan, đơn vị.
Chỉ thị số 05/2008/CT-TTg ngày 31 tháng 01 năm 2008 của Thủ tướng
Chính phủ về việc nâng cao hiệu quả sử dụng thời giờ làm việc của cán bộ,
5.
công chức, viên chức nhà nước
Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg ngày 02 tháng 8 năm 2007 của Thủ tướng
Chính phủ ban hành quy chế văn hoá công sở tại các cơ quan hành chính nhà
nước.
Quy chế gồm 03 chương, 16 điều quy định chi tiết các nội dung, phạm
vi, đối tượng điều chỉnh và nguyên tắc: phù hợp với truyền thống, bản sắc
văn hoá dân tộc và điều kiện kinh tế xã hội phù hợp với định hướng xây
dựng đội ngũ cán bộ công chức chuyên nghiệp, hiện đại; phù hợp với các
quy định của pháp luật và mục đích, yêu cầu của cải cách hành chính, chủ
trương hiện đại hoá nền hành chính nhà nước. Theo quy chế này, các nhân
viên cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương trong khi làm việc,
tiếp xác với dân giao tiếp, ứng xử phải hết sức nghiêm túc, lịch sự, biết tôn
trọng người dân; quy định cụ thể trang phục, việc đeo thể khi thực hiện
nhiệm vụ, việc bố trí phòng làm việc, treo biển hiệu cơ quan… Ngoài ra,
quy chế còn quy định các hành vi cấm đối với cán bộ công chức: cấm hút
Long Biên; Phía tây giáp huyện Từ Liêm và quận Cầu Giấy; Phía nam giáp quận
Ba Đình; Phía bắc giáp huyện Đông Anh. Quận Tây Hồ có địa hình tương đối bằng
phẳng, có chiều hướng thấp dần từ bắc xuống nam. Dân số của quận (đến năm
2005) là 109.163 người, mật độ dân số là 4.547 người/km 2, quận Tây Hồ có mật độ
dân số thấp nhất trong các quận nội thành.
Quận Tây Hồ có Hồ Tây với diện tích khoảng 526 ha, nằm trọn trong địa
giới Quận, là một cảnh quan thiên nhiên đẹp của Hà Nội và cả nước, phía bắc và
phía đông là sông Hồng chảy từ phía bắc xuống phía nam.
2.1.2. chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn
- chức năng
Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu là cơ quan chấp hành của Hội
đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước
Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên.
Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản
của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp
nhằm bảo đảm thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, củng cố
quốc phòng, an ninh và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn.
Uỷ ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp
phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ
trung ương tới cơ sở.
- nhiệm vụ và quyền hạn
Trong lĩnh vực kinh tế
Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm trình Hội đồng nhân
dân cùng cấp thông qua để trình Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt; tổ
thiện, nhân đạo.
Lĩnh vực quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội
Tổ chức phong trào quần chúng tham gia xây dựng lực lượng vũ trang và
quốc phòng toàn dân; thực hiện kế hoạch xây dựng khu vực phòng thủ
huyện; quản lý lực lượng dự bị động viên; chỉ đạo việc xây dựng lực lượng
dân quân tự vệ, công tác huấn luyện dân quân tự vệ;
Tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân tham gia phong trào bảo vệ an
ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Việc xây dựng chính quyền và quản lý địa giới hành chính, Uỷ ban nhân dân
huyện thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
Tổ chức thực hiện việc bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân
dân theo quy định của pháp luật;
Quy định tổ chức bộ máy và nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của cơ quan
chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp mình theo hướng dẫn của Uỷ ban
nhân dân cấp trên;
theo đúng quy định tại khoản điều 13 quy chế văn hoá công sở tại các cơ
quan hành chính nhà nước:
1. Quốc kỳ được treo nơi trang trọng trước công sở hoặc toà nhà chính.
Quốc kỳ phải đúng tiêu chuẩn về kích thước, màu sắc đã được Hiến pháp quy định.
2. Việc treo Quốc kỳ trong các buổi lễ, đón tiếp khách nước ngoài và lễ tang
tuân theo quy định về nghi lễ nhà nước và đón tiếp khách nước ngoài, tổ chức lễ
tang.
2.2.1.2. Bài trí khuôn viên công sơ
UBND Quận Tây Hồ được xây dựng với khuôn viên rộng rãi, phòng óc làm
việc sang trọng, cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại phục vụ cho hoạt động của UBND.
Trước cổng UBND quận tên cơ quan được viết rõ ràng bằng tiếng việt
“HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN – UỶ BAN NHÂN DÂN QUẬN TÂY HỒ”. Các
phòng làm việc đề ghi rõ tên đơn vị, họ và tên, chức danh của CBCC, viên chức.
Phòng làm việc được bài trí một cách gọn gàng, ngăn nắp, khoa học và hợp lý.
Ngoài ra UBND quận còn bố trí khu vực để xe rại rãi, thuận tiện cho cán bộ,
công chức, viên chức và người đến giao dịch, làm việc. Không thu phí của người
đến giao dịch làm việc.
2.2.2. Trang phục của cán bộ, công chức
Là cơ quan hành chính nhà nước nên cơ quan không quy định về đồng phục
phục như các cơ quan doanh nghiệp, tuy nhiên UBND quận Uỷ Tây Hồ cũng có
quy định rõ rằng về trang phục và lễ phục đối với các cán bộ, công chức, viên chức
trong cơ quan.
Khi đến cơ quan cán bộ, công chức, viên chức phải ăn mặc gọn gàng, lịch
sự. Trang phục màu sắc không quá loè loẹt.
Trong các buổi lễ, các cuộc họp trọng thể các cán bộ công chức viên chức
phải mặc lễ phục.
2.2.4. Thái độ và cách làm việc
Làm cơ quan hành chính cấp quận có rất nhiều công việc cần phải xử lý.
Tuy niên bên cạnh những người có thái độ làm việc tích cực thì còn một bộ phận
cán bộ, công chức, viên chức còn có thái độ làm việc, cách làm việc và mọi cử chỉ
trong công việc vần còn thấp kém, không có tự chủ động, nghiêm túc trong giờ làm
và trong mọi công việc không được xử lý tốt.
UBND quận Tây Hồ còn chưa sắp xếp và quản lý tốt thời gian làm việc của
các cán bộ công chưc, viên chức, còn tạo cho họ nhiều khoảng thời gian ngồi chơi
xơi nước dẫn đến tình trạng "buôn chuyện”, dòm ngó chức vụ tạo bè, kéo cánh để
tranh ghế, tranh chức và cuốn hút người lao động vào vòng xoáy của quyền lực mà
quên đi cả nhiệm vụ chuyên môn của mình.
Ngoài ra cơ quan còn xảy ra một số tình trạng như khách cứ phải chờ đợi
lâu, còn cán bộ đang bận… trà nước, tán gẫu. Có cơ quan, còn nửa tiếng mới hết
giờ làm việc, nhưng khi có khách đến liên hệ công việc, cán bộ tiếp dân đã trả lời
là hết giờ nhận giấy tờ, mai quay lại. Thái độ tuỳ tiện thiếu trách nhiệm này làm
ảnh hưởng không nhỏ đến hình ảnh các “công bộc” của dân.
Lại có những cá nhân lấy cớ vì hiệu quả chung của công việc mà cố tình
không thừa nhận năng lực, làm khó dễ cho những thành viên khác.
Trong khi đó, đáng lẽ ra trên cương vị của mình, họ phải là người dẫn dắt
những người đi sau, chỉ bảo và giúp họ tiến bộ, trưởng thành hơn trong từng công
việc được giao.
2.2.4. Thời gian làm việc và trách nhiệm đối với công việc
Theo như quy chế hoạt động của UNBD quận Tây Hồ. Buổi sáng UBND
quận làm việc từ lúc 07 giờ 30 phút đến 11 giờ 30 phút ; chiều bắt đầu làm việc từ
lúc 1 giờ 00 phút đến 17 giờ 00 phút. Hầu hết các cán bộ công chức, viên chức
điều đi lam đúng giờ. Tuy nhiên vẫn còn Tình trạng cán bộ thực hiện chưa nghiêm
túc Quy chế văn hóa công sở, hoặc còn mang tính hình thức, làm việc với chất
lượng chưa cao, đi muộm, về sớm, kỹ năng giao tiếp và ứng xử cũng có nhiều
cũng như cán bộ công chức, viên chức nên đã tạo được bầu không khí bình đẳng
thể hiện mối quan hệ thân thiện; trong điều hành hoạt động tiền tệ - ngân hàng,
luôn thể hiện trí tuệ- bản lĩnh - linh hoạt, đã tạo nên nét văn hoá đẹp của UBND.
Nhờ đó, trong những năm qua hoạt động của UBND đã đạt được những kết quả
đáng khả quan, hoàn thành cơ bản nhiệm vụ theo đúng lộ trình, kế hoạch đề ra.
3.1.2. Hạn chế
Tình trạng cán bộ thực hiện chưa nghiêm túc Quy chế văn hóa công sở, hoặc
còn mang tính hình thức, làm việc với chất lượng chưa cao, đi muộm, về sớm, kỹ
năng giao tiếp và ứng xử cũng có nhiều điểm cần khắc phục; vấn đề thực hành tiết
kiệm, chống lãng phí cũng cần được đẩy mạnh hơn nữa. Sau đây là một số tồn tại
điển hình cầm sớm được khắc phục:
Vẫn còn không ít CBCC với thái độ làm việc thiếu nghiêm túc, trang phục
phản cảm; tác phong công tác tuỳ tiện, tính kỷ luật yếu kém, hiện tượng “Sáng cắp
cặp đi, tối cắp cặp về” vẫn diễn ra; đến cơ quan uống trà, tán chuyện vặt; chơi
game hoặc lướt web; gọi điện thoại “chùa”, dùng điện, nước, giấy vô tội vạ; tình
trạng công chức bớt xén thời gian làm việc đi mua hàng, đùn đẩy trách nhiệm; nói
chuyện riêng, ngủ gật trong giờ họp và hội nghị, chưa giữ vệ sinh chung, hút thuốc
lá, sử dụng ngôn từ tục tĩu.
3.2.3. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên
Do một số đơn vị thuộc UBND chưa triển khai thực hiện một cách nhiệm
túc, quyết liệt, còn mang tính hình thức nên chưa đạt được kết quả như mong
muốn. Một số thói quen xấu của cán bộ công chức, viên chức từ thời bao cấp chưa
được xóa bỏ; Quy chế văn hóa công sở của UBND còn thiếu các chế tài xử lý vi
phạm; Các đơn vị cũng chưa quan tâm nhiều đến việc đào tạo, bồi dưỡng về văn
hóa công sở cho CBCC, viên chức; Ý thức của CBCC, viên chức và người lao
động tại UBND trong việc thực hiện Quy chế văn hóa công sở cũng chưa cao.
3.2. Giải pháp nâng cao văn hoá công sơ tại UBND quận Tây Hồ
Thực trạng trên cho thấy, nhận thức về văn hóa công sở của không ít cán bộ,