Biện pháp sửa lỗi phát âm cho trẻ mầm non khu vực thị trấn yên lạc huyện yên lạc tỉnh vĩnh phúc - Pdf 41

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

NGUYỄN THỊ TUYẾT NHUNG

BIỆN PHÁP SỬA LỖI PHÁT ÂM
CHO TRẺ MẦM NON KHU VỰC
THỊ TRẤN YÊN LẠC – HUYỆN YÊN
LẠC – TỈNH VĨNH PHÚC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp phát triển ngôn ngữ

HÀ NỘI, 2016


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

NGUYỄN THỊ TUYẾT NHUNG

BIỆN PHÁP SỬA LỖI PHÁT ÂM
CHO TRẺ MẦM NON KHU VỰC
THỊ TRẤN YÊN LẠC – HUYỆN YÊN
LẠC – TỈNH VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp phát triển ngôn ngữ

Người hướng dẫn khoa học
ThS. VŨ THỊ TUYẾT


6. Phương pháp nghiên cứu................................................................................ 5
7. Cấu trúc của khóa luận................................................................................... 6
NỘI DUNG........................................................................................................ 7
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN......................................................................7
1.1. Cơ sở tâm lý của trẻ mầm non.....................................................................7
1.2. Cơ sở sinh lý của trẻ mầm non.................................................................. 11
1.3. Cơ sở ngôn ngữ học...................................................................................12
1.3.1. Đặc điểm của âm tiết tiếng Việt............................................................. 12
1.3.2. Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non.................................... 16
1.3.3. Một số lỗi phát âm của trẻ mầm non......................................................19
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN LỖI PHÁT ÂM
CỦA TRẺ MẦM NON................................................................................... 22
2.1. Thực trạng lỗi phát âm của trẻ mầm non.................................................. 22
2.1.1. Giới thiệu khái quát về trường Mầm non Thị trấn Yên Lạc –
huyện Yên Lạc – tỉnh Vĩnh Phúc.......................................................................22
2.1.2. Điều tra thực trạng................................................................................. 23
2.1.3. Phân tích kết quả điều tra...................................................................... 24


2.2. Nguyên nhân mắc lỗi phát âm của trẻ mầm non.......................................30
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬA LỖI PHÁT ÂM CHO
TRẺ MẦM NON.............................................................................................33
3.1. Sửa lỗi phát âm thông qua trò chuyện với trẻ hàng ngày......................... 33
3.2. Sửa lỗi phát âm thông qua luyện phát âm theo mẫu cho trẻ.....................34
3.3. Sửa lỗi phát âm thông qua các trò chơi phát triển ngôn ngữ.................... 35
3.3.1. Trò chơi “Ô cửa bí mật”........................................................................35
3.3.2. Trò chơi “Tai ai thính”...........................................................................39
3.3.3. Trò chơi “Cái gì thay đổi”..................................................................... 42
3.3.4. Trò chơi “Chiếc hộp kỳ diệu”................................................................ 46
3.4. Sửa lỗi phát âm thông qua sử dụng đồ dùng trực quan.............................49

đó là hiện tượng phát âm không đúng so với chuẩn chính tả. Thực tế, cha mẹ
không hiểu biết về phát âm đã ảnh hưởng trực tiếp đến trẻ ngay từ khi các em
tập phát âm. Việc phát âm sai các từ chứa âm tiết sẽ ảnh hưởng đến việc giao
tiếp của trẻ sau này.

1


Ở Việt Nam có rất nhiều vùng nói tiếng khu vực. Từ khu vực thuộc về
tiếng nói của một vùng nhất định. Người khu vực này không thể hiểu những
từ của khu vực kia. Nguyễn Xuân Khoa viết: “Trong nhà trường chúng ta
không nên dùng từ địa phương một khi không cần thiết, vì nhà trường là nơi
đảm bảo tính thống nhất cao của tiếng nói dân tộc. Ở trường mẫu giáo, lời nói
của cô mẫu giáo là nguồn cơ bản cho sự phát triển lời nói của trẻ. Cô giáo
mầm non là người tổ chức các hoạt động vui chơi, học tập của trẻ, là người
giúp trẻ làm quen với ngôn ngữ của tác giả trong các sáng tác văn học nghệ
thuật. Lời nói của cô mẫu giáo phải hướng tới chuẩn mực của tiếng nói dân
tộc của từ vựng toàn dân, phải là mẫu mực để trẻ noi theo” (Tiếng Việt, Nxb
Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 1996). Vì vậy, vai trò của người giáo viên
mầm non trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong trường mầm non là rất
quan trọng. Tuy nhiên, ở nước ta nhiều trường mầm non vẫn sử dụng tiếng
theo khu vực đó để dạy ngôn ngữ cho trẻ. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến
việc giao tiếp của trẻ sau này.
Thị trấn Yên Lạc (tên gọi trước đây là xã Minh Tân) - huyện Yên Lạc tỉnh Vĩnh Phúc là khu vực phát âm sai khá nhiều. Việc này ảnh hưởng rất lớn
đến trẻ em khi chúng lớn lên và giao tiếp với xã hội. Chính vì sự cần thiết của
việc cần rèn cho trẻ phát âm chuẩn, cũng như giúp cho trẻ mầm non khu vực
này phát âm đúng và chính xác hơn, chúng tôi quyết định nghiên cứu đề tài
“Biện pháp sửa lỗi phát âm cho trẻ mầm non khu vực Thị trấn Yên Lạc huyện Yên Lạc - tỉnh Vĩnh Phúc”.
2. Lịch sử vấn đề
Trẻ em như là mầm non tương lai của đất nước, chính vì vậy việc phát

thơ, truyện tạo tiền đề cho trẻ vào lớp 1.

3


Cuốn “Tiếng Việt 1, 2”, Nxb Đại học Sư phạm đã cung cấp những kiến
thức cơ bản về Tiếng Việt giúp giáo viên trong việc phát triển ngôn ngữ tiếng
mẹ đẻ và phát âm chuẩn cho trẻ.
Trong tạp chí Giáo dục mầm non số 3/2006 có bài viết “Một số biện
pháp rèn phát âm L - N cho trẻ 5 tuổi” của tác giả Đỗ Thị Lương Huệ, trường
mầm non Đằng Hải - Hải Phòng. Trong bài viết đã đưa ra một số biện pháp để
rèn phát âm l - n cho trẻ như: tự rèn luyện phát âm chuẩn xác l - n, sửa lỗi
phát âm phụ âm l - n thông qua hoạt động chung cho trẻ làm quen với chữ cái,
rèn cho trẻ phát âm chữ cái l - n thông qua các hoạt động khác, khuyến khích
trẻ tự phát âm và sửa lỗi cho nhau.
Tạp chí Giáo dục mầm non số 1/2009, có bài: “Một số biện pháp phát
triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” của ThS Bùi Kim Tuyến đề cập tới việc tạo
thói quen phát âm chuẩn, nói đúng ngữ pháp cho trẻ thông qua việc giao tiếp
với trẻ.
Trong tạp chí Giáo dục Mầm non số 1/2014 có bài “ Phát triển ngôn
ngữ cho trẻ 3 tuổi bằng biện pháp sử dụng trò chơi với các con rối ” của tác
giả Dương Thị Giác Vũ, trường mầm non Vàng Anh, Quận 5, TP.HCM. Giáo
viên đã sử dụng con rối để giúp cho trẻ tập nghe, hiểu, diễn đạt câu… nhằm
phát triển ngôn ngữ cho trẻ, đáp ứng tốt mục tiêu chăm sóc giáo dục mầm non
theo phương châm “chơi mà học, học mà chơi”.
Trong tạp chí Giáo dục mầm non số 2/2013 có bài “Mục tiêu phát triển
lĩnh vực ngôn ngữ trong chương trình Giáo dục Mầm non New Zealand”,
Nguyễn Thị Minh Thảo, vụ Giáo dục mầm non, dịch từ chương trình Giáo
dục Mầm non New Zealand. Bài viết đã đưa ra 4 mục tiêu để phát triển ngôn
ngữ cho trẻ và sự nối tiếp giữa nhà trường mầm non và trường tiểu học.

6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp đàm thoại

5


- Phương pháp phân tích xử lý số liệu
- Phương pháp phân tích và tổng hợp số liệu
- Phương pháp chuyên gia
7. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, phần Nội dung khóa luận gồm 3
chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Nguyên nhân và thực trạng lỗi phát âm của trẻ mầm non
Chương 3: Một số biện pháp sửa lỗi phát âm cho trẻ mầm non

6


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Cơ sở tâm lý của trẻ mầm non
Tư duy của trẻ mầm non mang tính hình tượng cụ thể, trẻ nhận biết
được các đặc điểm sự vật, hiện tượng thông qua các giác quan (mắt nhìn, tai
nghe, mũi ngửi,…). Hoạt động chủ đạo của trẻ mầm non là hoạt động với đồ
vật với nhà trẻ và mẫu giáo bé, trò chơi đóng vai theo chủ đề với mẫu giáo lớn
nhằm thỏa mãn mong muốn được làm người lớn, được giao tiếp như người lớn.

điều đó gây trở ngại lớn cho sự hình thành nhân cách sau này. Giao tiếp trực
tiếp với người lớn có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển tâm lý của trẻ.
Khi giao tiếp người lớn bế ẵm, chuyện trò, hát hò cho trẻ nghe cũng là để
khêu gợi lên ở trẻ những xúc cảm đầu tiên về con người.
Đến độ tuổi ấu nhi, mối quan hệ giữa trẻ với thế giới đồ vật được thay
đổi đáng kể và trở thành hoạt động chủ đạo. Nhờ có hoạt động này mà chức
năng của các đồ vật lần đầu tiên được bộc lộ ra trước đứa trẻ và đồ vật xung
quanh trở thành đối tượng thu hút sự chú ý của trẻ, khiến trẻ hăng hái đi tìm
kiếm, lôi cái này ra, tháo cái kia lắp vào cái nọ, bận rộn suốt ngày. Chính nhờ
vậy mà tâm lý của trẻ phát triển khá mạnh. Khi trẻ lên hai tuổi, đây là thời
phát cảm ngôn ngữ. Trẻ không chỉ luôn luôn đòi hỏi biết được tên đồ vật mà
còn cố gắng phát ra các âm để gọi tên đồ vật đó. Chẳng hạn trẻ nêu những câu
hỏi như: “cái gì đây”, “cái gì kia”, đòi hỏi người lớn phải giải đáp cho nó và
trẻ rất thích thú khi gọi được đúng tên các đồ vật và hiện tượng xung quanh.
Việc đó lại thường được người lớn khuyến khích và tán thưởng làm cho nhịp
độ phát triển ngôn ngữ của trẻ tăng lên rõ rệt, đặc biệt là vốn từ được mở rộng
nhanh chóng và phát âm cũng được chính xác hơn.

8


Ở tuổi mẫu giáo bé, diễn ra một bước chuyển biến cơ bản trong hoạt
động của trẻ đó là trò chơi đóng vai theo chủ đề xuất hiện. Nét đặc trưng của
trò chơi đóng vai theo chủ đề là ở chỗ trẻ phải hoạt động cùng nhau để mô
phỏng lại những mối quan hệ của người lớn trong xã hội. Nhưng ở tuổi mẫu
giáo bé trẻ chưa quen phối hợp hoạt động với nhau, cho nên tuy hoạt động vui
chơi được chuyển sang hoạt động chủ đạo nhưng vẫn còn bị hoạt động cũ,
hoạt động với đồ vật chi phối. Tuy trẻ đã biết bắt chước một số hành động
phối hợp với nhau trong sinh hoạt của người lớn, nhưng việc vui chơi đó vẫn
còn mang tính chất của việc chơi một mình. Chỉ khi nào có thêm vài đứa trẻ

Đến độ tuổi mẫu giáo lớn là giai đoạn hoàn thiện của trẻ về tư duy,
nhận thức ngôn ngữ, trò chơi,... Ngôn ngữ của trẻ thời kỳ này được phát triển
hoàn thiện và trẻ sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ. Trẻ nắm vững ngữ âm khi
sử dụng tiếng mẹ đẻ, phát âm tương đối chuẩn kể những cả âm khó. Trẻ biết
sử dụng ngữ điệu một cách phù hợp với nội dung giao tiếp hay nội dung của
câu chuyện mà trẻ kể. Vốn từ của trẻ tích lũy được khá phong phú không
những về danh từ mà cả động từ, tính từ. Trẻ nắm được vốn từ trong tiếng mẹ
đẻ đủ để diễn đạt các mặt trong đời sống hàng ngày. Tính mạch lạc rõ ràng
cũng phát triển ở trẻ do vốn từ của trẻ chiếm 50% là danh từ, nên câu nói của
trẻ thường ngắn gọn, rõ ràng. Việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp và các
tính chất của ngôn ngữ ở trẻ phụ thuộc phần lớn vào việc hướng dẫn và sự
gương mẫu về lời nói của người lớn.
Như vậy, các đặc điểm tâm lý chung của trẻ mầm non đang được hình
thành và phát triển mạnh mẽ song lại chịu ảnh hưởng sâu sắc của sự phát triển
ngôn ngữ. Sự lĩnh hội ngôn ngữ ở độ tuổi này góp phần thúc đẩy sự phát triển
ngôn ngữ và cả sự phát triển thể chất lẫn tâm lý của trẻ, bước đầu hình thành
những yếu tố đầu tiên của nhân cách con người mới.

10


1.2. Cơ sở sinh lý của trẻ mầm non
Trẻ em là một thực thể đang phát triển. Trẻ càng nhỏ thì tốc độ phát
triển càng nhanh, các cơ quan dần được hoàn thiện về cấu tạo và chức năng,
chúng ta có thể quan sát thấy trẻ lớn lên từng ngày. Tuy nhiên các cơ quan, hệ
cơ quan có các giai đoạn phát triển khác nhau chứ không giống nhau và trùng
nhau về mức độ phát triển mà còn tùy thuộc vào từng cơ quan, hệ cơ quan và
các giai đoạn phát triển. Quá trình hình thành và phát triển của các cơ quan,
hệ cơ quan có tác dụng rất lớn tới các quá trình phát triển tâm lí của trẻ. Vì
vậy tính thích nghi và khả năng hoạt động của trẻ dễ bị thay đổi dưới những

của nó, được thể hiện trong sinh hoạt, trong đời sống tâm lý hàng ngày của
con người. Nó đặc biệt có ý nghĩa trong quá trình học tập, giáo dục tư tưởng
tình cảm của trẻ. Nó là “chiếc chìa khóa” để hiểu được các hiện tượng tâm lý
của trẻ. Phản xạ có điều kiện là hoạt động tín hiệu nhờ hai loại kích thích.
Kích thích cụ thể như âm thanh, màu sắc, mô hình,… là tín hiệu thứ nhất; còn
tín hiệu thứ hai có được ở trẻ nhờ những kích thích trừu tượng như ngôn ngữ,
lời nói, chữ viết, môi trường, xã hội, con người. Các tín hiệu đó sẽ là vật kích
thích có điều kiện. Khi tác động vào các giác quan chúng sẽ tạo trên võ não
những đường liên hệ thần kinh tạm thời.
Khả năng chú ý của trẻ mầm non chưa cao, tư duy của trẻ đang đậm tư
duy trực quan hành động và trực quan hình ảnh, nhưng chưa hình thành loại
ngôn ngữ - logic. Bộ máy phát âm của trẻ mầm non phát triển chưa đầy đủ,
các bộ phận tạo thành tiếng nói chưa liên kết chặt chẽ nên trẻ thường phát âm
chưa chuẩn, không chính xác. Do đó ngôn ngữ của trẻ còn hạn chế hơn so với
các lứa tuổi khác.
1.3. Cơ sở ngôn ngữ học
1.3.1. Đặc điểm của âm tiết tiếng Việt
Mô hình cấu trúc âm tiết tiếng Việt có 5 thành phần và được sắp xếp
theo sơ đồ sau:

12


Thanh điệu (5)
Âm đầu (1)

Vần
Âm đệm (2)

Âm chính (3)

Thanh điệu

Âm đầu

Bậc 2:

Phần vần

Âm tiết

Thanh điệu

Âm đầu

Phần vần

Âm đệm Âm chính Âm cuối
 Thanh điệu là sự thay đổi độ cao những âm tiết: la, lá, lã đối lập với
là, lả, lạ. Các âm tiết trước đều được phát âm với cao độ cao, các âm tiết sau
phát âm với cao độ thấp. Trong những âm tiết trên, những âm tiết cùng thuộc
độ cao lại đối lập nhau về sự biến thiên về độ cao, trong thời gian âm tiết “la”
được phát âm với độ cao hoàn toàn bằng phẳng; còn “lã” với đường nét biến
thiên, cao độ không bằng phẳng; âm điệu là những nét biến thiên về cao độ.
 Âm chính được tạo nên từ các nguyên âm, khi phát âm nguyên âm
phát ra luồng hơi đi tự do không có gì cản trở. Trong tiếng Việt có 14 nguyên
âm bao gồm 11 nguyên âm đơn và 3 nguyên âm đôi.
- Nguyên âm đơn:
+ 9 nguyên âm đơn dài: a, ơ, u, e, ê, o, ô, i, ư.
+ 2 nguyên âm đơn ngắn: ă, â.
- Nguyên âm đôi là gồm hai nguyên âm ghép lại liền nhau: /iê/, /uô/,

L là âm đầu
O là âm đệm

15


A là âm chính
N là âm cuối
Oan là phần vần.
1.3.2. Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non
1.3.2.1. Đặc điểm ngữ âm của trẻ 0 - 3 tuổi
Thời kỳ sơ sinh: trẻ phát âm ra âm thanh đầu tiên là tiếng khóc, tiếng
“ọ”, “ẹ” đây không phải là những âm thanh ngôn ngữ. Đó là những phản ứng
tự nhiên của cơ thể khi trẻ thấy đói, thấy ướt hoặc nằm bị vướng. Tuy nhiên,
những âm thanh ban đầu này cũng là những tín hiệu báo cho người mẹ biết
những cảm giác khác nhau của bé.
Thời kỳ bập bẹ: Từ tháng thứ 2, thứ 3 trẻ bắt đầu bập bẹ, chúng biết
hóng chuyện, cười với những người xung quanh, khoa chân múa tay và phát
ra các âm gừ gừ. Những âm thanh này đã mang tính tâm lý và bắt đầu trở
thành phương tiện giao tiếp giữa trẻ và người lớn. Dần dần trẻ đã biết giao
tiếp bằng các âm khác nhau như: “a”, “u”, “ư”. Tháng thứ 5 và thứ 6 trẻ nằm
một mình và bập bẹ. Nó thường nhắc lại âm thanh của chính mình. Quá trình
nhắc lại ấy có sự lên xuống của giọng. Từ tháng thứ 4 trẻ đã phát ra một chuỗi
các âm thanh như “cha cha”, “da da”, “ba ba”, ở đây thường có sự kết hợp của
một phụ âm với một nguyên âm hoặc hai nguyên âm khác nhau. Trong tiếng
bập bẹ của trẻ, âm đầu của âm tiết thường được nhấn mạnh, âm sắc của các
âm bập bẹ không được rõ ràng.
Khoảng gần một năm, trẻ đã dùng một hai âm tiết để biểu thị một nội
dung nào đó (ví dụ: trẻ phát âm “ ó, ó”, để chỉ con chó, “ u, u” để chỉ tàu
hỏa ,…). Những từ này chúng ta gọi là từ giả. Mỗi trẻ có một hệ thống từ giả

th thành x: thịt gà thành xịt hà
- Âm đệm: ở lứa tuổi này trẻ chưa phát âm được âm đệm nên gặp
những âm tiết có âm đệm trẻ thường lược bỏ.

17


Ví dụ: hoa thành ha
huấn thành hấn
- Âm chính: là nguyên âm đơn trẻ phát âm tương đối chính xác (trừ
nguyên âm đơn ngắn như ă, â).
Ví dụ: a thành ă: canh thành căn
o thành oo: con thành coong
Âm chính là âm đôi thường bị trẻ nói sai do âm lượng phát ra không
đều. Trẻ thường nhấn mạnh vào một âm.
Ví dụ: uô /u thành ô/u: quả chuối thành quả chúi
- Âm cuối: Âm cuối là phụ âm đã xuất hiện trong vốn từ của trẻ 3 tuổi.
Ví dụ: ng thành n: khoai lang thành khoai lan
ch thành t: con ếch thành con ết
- Thanh điệu: Trong sáu thanh điệu của tiếng Việt thì thanh ngã và
thanh hỏi là những thanh trẻ chưa định vị được. Chúng thường chuyển đổi
thanh ngã thành thanh sắc, thanh hỏi thành thanh nặng.
Ví dụ: ngã thành ngá
ngủ thành ngụ
1.3.2.2. Đặc điểm ngữ âm của trẻ 3 - 6 tuổi
Ở thời kỳ này, trẻ hoàn thiện dần về mặt ngữ âm, các phụ âm đầu, âm
đệm, âm cuối, thanh điệu dần dần được định vị. Trẻ phát âm đúng hết các âm
vị của tiếng mẹ đẻ, kể cả các âm, các vần khó (iêu, ươn, uông). Trẻ đã biết
điều chỉnh nhịp điệu, cường độ của giọng nói khi giao tiếp để phù hợp với
từng hoàn cảnh, lời nói của trẻ đã rõ ràng, dứt khoát hơn.

với âm điệu không gãy ở giữa, vì vậy dễ đồng nhất với âm điệu của thanh sắc.
Ví dụ: ngã thành sắc: cái đĩa thành cái đía
Sự chuyển đổi hướng đi của đường nét âm điệu ở thanh hỏi không diễn
ra đột ngột như ở thanh ngã, quá trình phát âm kéo dài hơn trở thành khó đối với

19


trẻ vốn có hơi thở ngắn. Khi phát âm, trẻ thay thế âm điệu gãy bằng âm điệu
không gãy, điều này làm cho thanh hỏi ở trẻ gần như đồng nhất với thanh nặng.
Ví dụ: hỏi thành nặng: ngủ thành ngụ
ngã thành hỏi: đũa thành đủa
Đến hết tuổi mẫu giáo lớn lỗi sai về hai thanh này sẽ được khắc phục
hầu như hoàn toàn.
1.3.3.2. Lỗi về âm đầu.
Trẻ ở một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ thường mắc lỗi phát âm:
- Lỗi “l” thành “n” và “n” thành “l”.
Ví dụ: + “l” thành “n”: “leo núi” thành “neo núi”.
+ “n” thành “l”: “lúa nếp” thành “lúa lếp”.
- Lỗi “r” thành “d”, “gi”. Ví dụ: “réo rắt” thành “déo dắt”.
- Lỗi “ch”, “tr”, “c” thành “t”. Ví dụ: “trăng sáng” thành “tăng sáng”.
- Lỗi “s” thành “th”. Ví dụ: “ngôi sao” thành “ngôi thao”.
- Lỗi “qu” thành “ng”. Ví dụ: “quýt” thành “nguýt”.
- Lỗi “p” thành “b”. Ví dụ: “đèn pin” thành “đèn bin”.
- Lỗi “kh”, “g” thành “h”. Ví dụ: “quả khế” thành “quả hế”.
Trẻ ở khu vực miền Nam mắc lỗi phát âm:
- Lỗi “v” thành “d”. Ví dụ: “vui vẻ” thành “dui dẻ”.
1.3.3.3. Lỗi về âm đệm
Âm đệm chỉ được đọc lướt qua nên trẻ khó ghi nhận những âm này vì
thế nên âm đệm thường bị bỏ qua.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status