khả năng sinh sản của tổ hợp lai giữa lợn nái f1(landrace × yorkshire), f1(yorkshire × landrace) được phối với đực duroc và pidu nuôi tại trại chăn nuôi xã thượng lan, việt yên, bắc giang - Pdf 41

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN ĐỨC HƯNG

KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA TỔ HỢP LAI

GIỮA LỢN NÁI F1(LANDRACE × YORKSHIRE),

F1(YORKSHIRE × LANDRACE) ĐƯỢC PHỐI VỚI

ĐỰC DUROC VÀ PIDU NUÔI TẠI TRẠI CHĂN NUÔI
XÃ THƯỢNG LAN, VIỆT YÊN, BẮC GIANG
Chuyên ngành:
Mã số:
Người hướng dẫn khoa học:

Chăn nuôi
60.62.01.05
1. TS. Nguyễn Hoàng Thịnh
2. PGS.TS. Đinh Văn Chỉnh

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên
cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào.

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ để thực hiện luận văn đã được cám ơn và các
thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận
lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./.
Hà Nội, ngày

tháng

năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Đức Hưng

ii


MỤC LỤC
Lời cam đoan ..................................................................................................................... i
Lời cảm ơn ........................................................................................................................ ii

Mục lục ........................................................................................................................... iii
Danh mục viết tắt .............................................................................................................. v
Danh mục bảng ................................................................................................................ vi
Danh mục hình ................................................................................................................ vii

Trích yếu luận văn ......................................................................................................... viii
Thesis abstract.................................................................................................................. ix

Phần 1. Mở đầu ............................................................................................................... 1
1.1.
1.2.


Phần 3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu .......................................................... 19
3.1.

Đối tượng nghiên cứu ....................................................................................... 19

3.3.

Nội dung nghiên cứu ........................................................................................ 19

3.2.
3.4.
3.5.

3.5.1.
3.5.2.

Địa điểm, thời gian, điều kiện nghiên cứu ........................................................ 19

Điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ....................................................................... 19
Phương pháp nghiên cứu .................................................................................. 20
Năng suất sinh sản của lợn nái ......................................................................... 20

Sinh trưởng của lợn con và tiêu tốn thức ăn cho 1 kg lợn con cai sữa ............. 22

3.6. Xử lý số liệu ............................................................................................................. 22

iii




iv


DANH MỤC VIẾT TẮT

Chữ viết tắt

Nghĩa tiếng Việt

CS:

Cai sữa

Du/D:

Duroc

F1(YL)/F1(Y×L):

F1(Yorkshire × Landrace)

F1(LY)/F1(L×Y):

F1(Landrace × Yorkshire)

KL:

Khối lượng


Bảng 4.4. Năng suất sinh sản của lợn nái F1(L×Y) và F1(Y×L) phối với đực Du
và PiDu ở lứa 1 ............................................................................................. 39
Bảng 4.5. Năng suất sinh sản của lợn nái F1(L×Y) và F1(Y×L) phối với đực Du
và PiDu ở lứa 2 ............................................................................................. 40
Bảng 4.6. Năng suất sinh sản của lợn nái F1(L×Y) và F1(Y×L) phối với đực Du
và PiDu ở lứa 3 ............................................................................................. 41
Bảng 4.7. Năng suất sinh sản của lợn nái F1(L×Y) và F1(Y×L) phối với đực Du
và PiDu ở lứa 4 ............................................................................................. 42
Bảng 4.8. Năng suất sinh sản của lợn nái F1(L×Y) và F1(Y×L) phối với đực Du
và PiDu ở lứa 5 ............................................................................................. 43
Bảng 4.9. Sinh trưởng lợn con và tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa ......................... 52

vi


DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1. Số con/ổ của lợn nái F1(L×Y) và F1(Y×L) .................................................. 27

Hình 4.2. Khối lượng/con của lợn nái F1(L×Y) và F1(Y×L) ....................................... 29

Hình 4.3. Khối lượng/ổ của lợn nái F1(L×Y) và F1(Y×L)........................................... 30
Hình 4.4. Số con/ổ của lợn nái F1(L×Y) và F1(Y×L) phối với đực Duroc

và PiDu ......................................................................................................... 34

Hình 4.5. Khối lượng/con của lợn nái F1(L×Y) và F1(Y×L)phối với

đực Duroc và PiDu........................................................................................ 35

Hình 4.6. Khối lượng/ổ của lợn nái F1(L×Y) và F1(Y×L) phối với đực Duroc


Yorkshire), F1(Yorkshire × Landrace) được phối với đực Duroc và PiDu nuôi tại Trại
chăn nuôi xã Thượng Lan, Việt Yên, Bắc Giang.
Ngành: Chăn nuôi

Mã số: 60.62.01.05

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiêp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu

- Đánh giá được năng suất sinh sản của lợn nái lai F1(Landrace × Yorkshire) và
F1(Yorkshire × Landrace) phối với đực Duroc và PiDu nuôi trong điều kiện trang trại.

- Đánh giá được sinh trưởng của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa và tiêu tốn thức
ăn để sản xuất ra 1 kg lợn con cai sữa.
Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại trang trại chăn nuôi xã Thương Lan, Việt Yên,
Bắc Giang từ 08/2014 đến 07/2015 nhằm đánh giá khả năng sản suất của lợn nái F1
(LxY) phối với đực Duroc và PiDu. Nghiên cứu được theo dõi đánh giá năng suất sinh
sản của 4 tổ hợp lai Du x F1(LxY), PiDu x F1(LxY), Du x F1(YxL) và PiDu x F1(YxL)
với 1020 ổ đẻ từ lứa đẻ 1 đến 5; đánh giá sinh trưởng của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa
và tiêu tốn thức ăn để sản xuất ra 1 kg lợn con cai sữa với tổng số 12 ổ đẻ, mỗi tổ hợp
lai 03 ổ đẻ.
Kết quả chính và kết luận

Năng suất sinh sản của lợn nái F1(L×Y) và F1(Y×L) đều đạt tương đương nhau
với số con đẻ ra sống/ổ đạt cao nhất ở tổ hợp lai PiDu x F1(YxL) (10,85 con/ổ) và đạt
thấp nhất ở tổ hợp lai PiDu x F1(LxY) (10,66 con/ổ); số con cai sữa/ổ đạt cao nhất ở tổ
hợp lai PiDu x F1(YxL) (10,28 con/ổ) và đạt thấp nhất ở tổ hợp lai Du x F1(YxL) (10,00

and the growth of piglets from birth to weaning and the feed conversion ratio to produce 1
kg of weaned with a total of 12 litters, 03 litters for each hybrid combinations.
Results and conclusions

Reproductive performance of F1(L×Y) and F1(Y×L) sows are achieved similar
to the piglets born alive/litter combinations highest in PiDu x F1(Y×L) (10.85
piglets/litter) and was lowest in PiDu × F1(L×Y) (10.66 piglets/litter); number piglets
weaned/litter combinations hybrid highest in PiDu x F1(Y×L) (10.28 piglets/litter) and
was lowest in Du × F1(Y×L) (10.00 piglets/litter); weaning piglets weight/highest litter
in PiDu x F1(Y×L) (62.49 kg) and was lowest in Du x F1(Y×L) (62.00 kg).
Reproductive performance of F1(L×Y) and F1(Y×L) sows in collaboration with Duroc
and PiDu boars through parities are achieved and fully consistent with the law of
reproductive sows, that mean ascending from age 1 to age 4 or 5, then subside. ADG of
piglets from birth to weaning highest in hybrid combinations between F1(Y×L) sows
with PiDu boars reached 239.24 g/day. FCR/kg piglets weaned hybrid combinations
F1(Y×L) sows between with the highest Duroc 5.89 kg weaners also hybrid
combinations between F1 (L×Y) sows with Duroc 5.20 kg is the lowest gain of
weaners.

ix


PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong những năm gần đây, chăn nuôi lợn ở nước ta có những bước

chuyển dịch tích cực, từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang chăn nuôi tập trung theo
mô hình trang trại, gia trại, ứng dụng công nghệ khoa học kỹ thuật, tăng hiệu quả


năm 2014. Theo xu hướng phát triển của tỉnh, ngành chăn nuôi và cụ thể là chăn
nuôi lợn đang có hướng giảm dần chăn nuôi nhỏ lẻ, tăng chăn nuôi theo hình
thức trang trại, gia trại.

Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và thế giới,

người chăn nuôi cần áp dụng quy trình chăn nuôi tiên tiến, đàm bảo an toàn trong
chăn nuôi, áp dụng các tiến bộ di truyền, thay đổi cơ cấu giống, chọn lọc, … để
nâng cao năng suất và chất lượng thịt.

1


Xuất phát từ nhu cầu của thị trường, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Khả năng sinh sản của tổ hợp lai giữa lợn nái F1(Landrace × Yorkshire),
F1(Yorkshire × Landrace) phối với đực Duroc và PiDu tại trại chăn nuôi xã
Thượng Lan, Việt Yên, Bắc Giang” góp phần nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi
lợn, tạo ra được sản phẩm thịt lợn có chất lượng cao, an toàn, đáp ứng được yêu
cầu của người tiêu dung.
1.2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI

- Đánh giá được năng suất sinh sản của lợn nái lai F1(Landrace ×
Yorkshire) và F1(Yorkshire × Landrace) phối với đực Duroc và PiDu nuôi trong
điều kiện trang trại.

- Đánh giá được sinh trưởng của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa và tiêu tốn

thức ăn để sản xuất ra 1 kg lợn con cai sữa.


nuôi hậu bị.
Tuy nhiên người ta chỉ đưa vào khai thác khi lợn đã thành thục về thể vóc,
đó là tuổi mà con vật có sự phát triển về ngoại hình và thể vóc đạt tới độ hoàn
chỉnh, xương đã cốt hóa hoàn toàn, tầm vóc ổn định, thời gian thành thục về thể
vóc thường chậm hơn thành thục về tính, nghĩa là sau khi con vật đã thành thục
về tính thì vẫn tiếp tục sinh trưởng lớn lên. Chính vì vậy, trong chăn nuôi lợn

3


không nên cho lợn cái sinh sản quá sớm vì nếu lợn cái phối giống sớm khi cơ thể
chưa có sự phân hóa chất dinh dưỡng, ưu tiên cho sự phát triển của bào thai, ảnh
hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cơ thể mẹ, do đó sự phát triển của bào thai
cũng bị ảnh hưởng. Kết quả là mẹ yếu, con nhỏ. Mặt khác, khung xương chậu
chưa phát triển hoàn toàn, nhỏ hẹp làm con vật khó đẻ con. Do đó việc xác định
tuổi phối giống lần đầu với lợn cái có ý nghĩa quan trọng trong chăn nuôi. Tuổi
giao phối lần đầu với lợn cái nội là 6 - 7 tháng nặng trên 50kg, lợn lai trên 7
tháng nặng tự 60 - 70 kg, lợn ngoại từ 8 tháng nặng trên 100 kg.
Khi lợn đã thành thục về tính, cơ quan sinh dục không có bào thai và không
có hiện tượng bệnh lý, thì cơ thể con cái, đặc biệt là cơ quan sinh dục có biến đổi
kèm theo sự rụng trứng. Sự sinh trưởng của trứng dưới sự điều tiết của hormone
thùy trước tuyến yên làm cho trứng chin và rụng một cách có chu kỳ và biểu hiện
bằng những triệu chứng động dục kèm theo chu kỳ được gọi là chu kỳ tính. Thời
gian chu kỳ tính là từ lần rụng trứng trước tới lần rụng trứng sau. Chu kỳ tính
được bắt đầu từ khi lợn cái thành thục về tính, nó tiếp tục xuất hiện và chấm dứt
hoàn toàn khi cơ thể đã già yếu. Chu kỳ tính của lợn cái là một hiện tượng sinh
vật học có tính quy luật, nó tạo ra hàng loạt những điều kiện cần thiết để tiến
hành giao phối, thụ tinh và phát triển bào thai. Thời gian chu kỳ tính của lợn là từ
17 - 27 ngày, trung bình là 21 ngày. Thời gian của mỗi lần động đực là 3 - 4
ngày, sau khi lợn động đực 24 - 20 giờ thì trứng rụng, thời gian trứng tụng kéo

progesterol ức chế hypothalamus giải phóng GRH trong thời gian mang thai và
qua đó ngăn cản động dục. Do vậy, hormone này được coi như là hormone bảo
vệ sự mang thai. Nếu như trứng rụng không được thụ tinh, thể vàng tồn tại đến
ngày thứ 15 - 17 bị phá vỡ dưới tác động của prostalandine do sừng tử cung tiết
ra, sau đó chu kỳ tính mới lại bắt đầu.

Theo quy luật, lợn mẹ sau khi cai sữa cho con sẽ biểu hiện động dục vào
ngày thứ 4 - 8. Tuy nhiên thời gian động dục trở lại sau cai sữa phụ thuộc vào
thời gian bú sữa.

2.1.2. Các chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất của con lợn nái
Mục đích của việc sản xuất lợn con là để bán, làm giống hay là để nuôi
thịt, kết quả sản phẩm này tùy thuộc vào khả năng sản xuất của lợn nái và được
thể hiện qua chỉ tiêu tổng hợp là số lợn con cai sữa (hay số lợn con có khả năng
sản xuất)/ nái/ năm. Để có được số lợn con cai sữa/nái/năm cao thì chúng ta cần
phải hoàn hiện tất cả các bước trong quá trình chăn nuôi.
Các chỉ tiêu sinh sản bao gồm:
-

Tuổi phối lần đầu (ngày)
Tuổi đẻ lứa đầu (ngày)
Thời gian mang thai (ngày)
Số con đẻ ra/ ổ (con)
Số con đẻ ra sống/ ổ (con)
Số con cai sữa/ ổ (con)
Số lứa đẻ/ nái/ năm (lứa)

5



suất sinh sản của lợn nái. Tác giả cũng cho biết tầm quan trọng của các thành phần
cấu thành ảnh hưởng đến chỉ tiêu số lợn con cai sữa do một nái sản xuất trong một
năm lần lượt là: số con đẻ ra trong ổ, tỷ lệ chết của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa,
thời gian bú sữa, tuổi đẻ lứa đầu và thời gian từ cai sữa đến khi thụ thai lứa sau.

Theo Ducos (1994), các thành phần đóng góp vào chỉ tiêu số con còn sống
khi cai sữa gồm số trứng rụng, tỉ lệ lợn con sống lúc sơ sinh và tỉ lệ lợn con sống tới
lúc cai sữa là các thành phần quan trọng nhất đánh giá năng suất sinh sản của lợn
nái. Do vậy việc nâng cao chỉ tiêu số con đẻ ra sống và số con cai sữa là một vấn đề
được quan tâm hàng đầu trong chăn nuôi lợn nái sinh sản.
6


Mabry et al. (1997) cho rằng các tính trạng năng suất sinh sản chủ yếu của
lợn nái bao gồm: số con đẻ ra, số con cai sữa, khối lượng 21 ngày/ổ và số lứa
đẻ/nái/năm. Các tính trạng năng suất sinh sản chủ yếu này có tầm quan trọng về
mặt kinh tế và ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của người sản xuất lợn giống cũng
như người nuôi lợn thương phẩm.

Năng suất sinh sản của lợn nái có mối quan hệ chặt chẽ và phụ thuộc vào

các yếu tố di truyền và ngoại cảnh.

2.1.3.1. Yếu tố di truyền
Giống là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái
(Trần Tiến Dũng và cs., 2002). Giống và đặc tính sản xuất của nó gắn liền với
năng suất. Lê Đình Phùng và cs. (2011) cho rằng: giống lợn nái ảnh hưởng đến
hầu hết các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái.

Năng suất sinh sản của lợn nái bao gồm các tính trạng vốn có hệ số di

- Các giống chuyên dụng “dòng mẹ”, đặc biệt một số giống chuyên sản
của Trung Quốc như Taihu (điển hình là Meishan) có khả năng sinh sản đặc biệt
cao nhưng khả năng cho thịt kém.

- Các giống địa phương có đặc tính chung là khả năng sinh sản và sức sản

xuất thịt kém, song có khả năng thích nghi tốt với môi trường.

Các giống “dòng bố” thường có khả năng sinh sản thấp hơn so với các
giống đa dụng, ngoài ra chúng có chiều hướng hơi kém về khả năng nuôi con, tỷ
lệ lợn con chết trước khi cai sữa của các giống này cao hơn so với Landrace và
Yorkshire (Blasco et al., 1995).

Rothschild and Bidanel (1998) cho rằng: sự thành thục về tính của các
giống khác nhau cũng khác nhau. Gia súc có tầm vóc và khối lượng nhỏ thường
sớm hơn gia súc có tầm vóc, khối lượng lớn. Tuổi thành thục của giống lợn nội
Trung Quốc khi 3 - 4 tháng tuổi và các giống lợn châu Âu là 6 - 7 tháng tuổi.

Sự cận huyết cũng ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái, số con đẻ

ra trong một ổ giảm 0,29 con khi hệ số cận huyết tăng thêm 10% (Johnson, 1990).

Ngoài ra, năng suất sinh sản còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố di truyền

khác như kiểu gen, cá thể, lai giống…

Như vậy năng suất sinh sản của lợn nái chịu ảnh hưởng của giống và cá
thể, mỗi một giống có một đặc tính sản xuất gắn liền với năng suất và hiệu quả
kinh tế của nó, giống khác nhau thì có năng suất khác nhau.


Nên cho lợn nái nuôi con ăn tự do để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng. Giảm
lượng thức ăn thu nhận khi nuôi con sẽ làm giảm khối lượng cơ thể, hậu quả là
thời gian động dục trở lại dài, giảm tỉ lệ thụ tinh và giảm số phôi sống (Brand et
al., 2000). Theo Chung et al. (1998), Lember (1998) tăng lượng thức ăn thu nhận ở
lợn nái tiết sữa sẽ làm tăng sản lượng sữa và tăng khả năng tăng khối lượng của
lợn con. Gordon (2004) cho biết: tăng lượng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở
giai đoạn đầu và giữa chu kỳ tiết sữa sẽ có tác dụng giảm thời gian động dục trở lại
hơn là tăng lượng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn cuối, tăng
lượng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn giữa và cuối chu kỳ tiết sữa
sẽ có tác dụng tăng khối lượng cai sữa hơn là tăng ở giai đoạn đầu.

Nuôi dưỡng lợn nái trong thời kỳ tiết sữa nuôi con với mức lysine và
protein thấp sẽ làm suy giảm sự phát triển của bao noãn, giảm khả năng trưởng
thành của tế bào trứng, giảm số con đẻ ra/ổ và số con sống/ổ, tăng tỷ lệ hao hụt của
lợn mẹ và giảm tốc độ sinh trưởng của lợn con (Yang et al., 2000).
Mục tiêu của nuôi dưỡng lợn nái là làm sao cho số ngày không sản xuất ít
nhất, khối lượng cơ thể tăng phù hợp trong thời kỳ có chửa và có được khối
lượng cơ thể thích hợp trong thời kỳ nuôi con. Vì vậy cần phải đưa ra khẩu phần
ăn khoa học để tăng sữa.
* Mùa vụ

Mùa vụ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái.
Gaustad et al. (2004) cho biết: mùa vụ có ảnh hưởng đến số con đẻ ra/ổ. Mùa có
nhiệt độ cao là nguyên nhân làm kết quả sinh sản ở lợn nái nuôi chăn thả thấp, tỷ
lệ chết ở lợn con cao (Akos et al., 2004).

9


Nhiệt độ cao làm khả năng thu nhận thức ăn của lợn nái thấp, tỷ lệ hao hụt

sinh sản (Koketsu et al., 1998). Số lượng trứng rụng thấp nhất ở chu kỳ động dục
thứ nhất, tăng đến 3 tế bào trứng ở chu kỳ động dục thứ hai và đạt tương đối cao
ở chu kỳ động dục thứ ba (Deckert et al., 1998). Số con đẻ ra tương quan thuận
với số lượng trứng rụng (trích dẫn từ Gordon, 1997).

Lứa đẻ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái vì
có sự khác nhau về chức năng theo tuổi của lợn nái. Khả năng sinh sản của lợn nái
thường thấp nhất ở lứa đẻ thứ nhất, đạt cao nhất ở lứa đẻ thứ 3, 4, 5 và sau đó gần
như là ổn định và có xu hướng giảm khi lứa đẻ tăng lên. Gordon (1997) cho biết số
con đẻ ra/ổ tăng từ lứa đẻ một đến lứa đẻ thứ 4, ở lứa đẻ thứ 8 trở đi, số lợn con mới
đẻ bị chết tăng lên. Số con đẻ ra/ổ có quan hệ chặt chẽ đến tuổi của lợn nái và giảm
10


nhanh sau 4, 5 tuổi. Lợn đẻ lứa đầu tiên thường có số con đẻ ra, khối lượng sơ sinh
nhỏ hơn so với những lứa đẻ sau (Colin et al., 1998). Lợn mới đẻ lứa đầu thường
hay sợ hãi do đó tỷ lệ thụ thai thấp và tỷ lệ chết cao (Grandinson et al., 2005).
* Số lần phối và phương thức phối giống

Gordon (1997) cho biết: số lần phối giống trong một lần động dục ở lợn nái
ảnh hưởng tới số con đẻ ra/ổ. Phối đơn trong một chu kỳ động dục ở lúc động dục
cao nhất có thể đạt được số con đẻ ra/ổ cao, nhưng phối hai lần trong một chu kỳ
động dục làm tăng số con đẻ ra/ổ. Khi phối giống cho lợn nái trực tiếp ba lần, mỗi
lần cách nhau 24 giờ tăng hơn 1,3 con/ổ so với phối hai lần.

Phương thức phối giống cũng ảnh hưởng khá rõ rệt. Trong phối trực tiếp,
ảnh hưởng của con đực rất rõ. Thụ tinh nhân tạo có thể làm giảm tỷ lệ thụ thai do
kỹ thuật phối giống. Phối giống kết hợp giữa thụ tinh nhân tạo và nhảy trực tiếp có
thể làm tăng 0,5 lợn con so với phối riêng rẽ (trích dẫn từ Gordon, 1997). Phối
giống bằng thụ tinh nhân tạo làm tỷ lệ thụ thai và số con đẻ ra/ổ đều thấp hơn từ 0

ứng nhu cầu của người tiêu dùng, các nhà chọn giống lợn trên thế giới đã sử dụng

các phương pháp lai, tạo ưu thế lai nhằm tạo ra con lai thương phẩm nhiều máu

có năng suất và tỷ lệ nạc cao. Nhiều giống lợn cao sản đã được sử dụng làm
nguyên liệu cho các công thức lai như Yorkshire (Y), Landrace (L), Duroc (D),
Hampshire (H), Pietrain (Pi)… Việc nghiên cứu chọn lọc dòng cao sản huyết

thống và lai tạo tìm ra các tổ hợp lai đạt số con sơ sinh sống/ổ cao, tỷ lệ nạc cao,
tiêu tốn thức ăn thấp và độ dày mỡ lưng mỏng đã thành công ở hầu hết các nước
có nền chăn nuôi tiên tiến như : Mỹ, Đức, Canada, Hà Lan, Đan Mạch và Úc.

Theo Gordon (1997), lai giống trong chăn nuôi lợn đã có từ hơn 50 năm

trước, việc sử dụng lai hai, ba, bốn giống để sản xuất lợn thịt thương phẩm đã trở
thành phổ biến.

So sánh giữa các công thức lai hai, ba, bốn giống, Otrowski et al. (1997)

cho thấy con lai có 25% và 50% máu Pietrain có tỷ lệ nạc cao và chất lượng thịt
tốt. Sử dụng đực lai F1(PiD) có tác dụng nâng cao diện tích và khối lượng cơ

thăn (Gajewczyk et al., 1998). Các nghiên cứu của Gerasimov et al. (1997) cho

biết lai hai, ba giống đều có tác dụng nâng cao các chỉ tiêu sinh sản như: số con
đẻ ra/lứa, tỷ lệ nuôi sống và khối lượng ở 60 ngày tuổi/con. Lai hai giống làm

tăng số con đẻ ra/lứa so với giống thuần (10,9 con so với 10,1 con/lứa), tăng khối
lượng sơ sinh và khối lượng khi cai sữa. Vì vậy, việc sử dụng lai hai, ba giống là
phổ biến để nâng cao khả năng sinh sản và sản xuất lợn thịt thương phẩm


dụng là Pietrain, Hampshire và Duroc. Kết quả lai kinh tế đã làm tăng số lợn con sơ

sinh trung bình/ổ là 12-16%, tỷ lệ nuôi sống cao hơn từ 10-15% so với lợn thuần, khả
năng nuôi thịt tốt hơn, giảm được thời gian nuôi vỗ beo từ 25-30 ngày và khối lượng
giết mổ đạt 100 kg.

Tại Bỉ, việc sử dụng nái lai (LY) phối giống với lợn Pietrain để sản xuất

con lai ba giống, sử dụng nái lai (LY) phối với lợn đực lai (PiD) để sản xuất
con lai bốn giống khá phổ biến tại Bỉ. Lợn đực giống Pietrain đã được cải tiến
(Pietrain Rehal hay còn gọi Pietrain kháng stress) có tỷ lệ nạc cao (trên 60%)

được sử dụng là dòng đực cuối cùng để sản xuất lợn thịt (Leroy et al., 2000).
Warnants et al. (2003) cho biết ở Bỉ thường sử dụng lợn nái lai phối giống với
lợn đực Pi để sản xuất lợn thịt có tỷ lệ nạc cao và tiêu tốn thức ăn thấp.

Tại Áo, với 4,8 triệu lợn thịt giết mổ hàng năm thì gần như tất cả được

sản xuất từ lai hai, ba giống. Nái lai được sử dụng phổ biến là F1(Edelschwein 
LW) và F1(Edelschwein  L) được phối giống với lợn đực Pietrain hoặc Duroc
để sản xuất con lai ba giống nuôi thịt.

Ở Hà Lan, chăn nuôi là một trong những ngành quan trọng. Thịt lợn

chiếm 60% tổng sản lượng thịt các loại được sản xuất trong năm. Trong chăn
nuôi lợn thì trên 90% lợn vỗ béo là lợn lai. Tổ hợp lai hai máu (L×Y) chiếm tới
69%, các tổ hợp lai nhiều giống tham gia ngày càng tăng. Nhiều địa phương của
Hà Lan đã sử dụng lợn lai hai máu để nuôi thịt, một số địa phương khác thì ưa


Landrace, Duroc, Hampshire. Kết quả công bố của Pholsing et al. (2009) cho
thấy, lợn Piétrain nuôi tại Thái Lan có tuổi đẻ lứa đầu 434,76 ngày, số con sơ
sinh sống đạt 7,47 con và khối lượng sơ sinh/ổ đạt 11,10 kg thấp hơn so với lợn

nái Large White nuôi trong cùng điều kiện (428,34 ngày, 8,58 con và 11,80 kg).

Tác giả khẳng định hệ số di truyền ước tính ở mức thấp cho các tính trạng tuổi đẻ
lứa đầu (0,06), số con sơ sinh sống (0,11) và khối lượng sơ sinh/ổ (0,08).

Tại Nhật Bản, ở lợn Berkshire hệ số di truyền của khối lượng sơ sinh là

0,07, khối lượng cai sữa là 0,14 và khối lượng 60 ngày tuổi là 0,18 (Tomiyama et

al., 2010). Roehe et al. (2009) cho biết, hệ số di truyền ước tính ở mức thấp đối
với tính trạng khối lượng sơ sinh (0,20).

Tại Tây Ban Nha, lợn nái Piétrain có số con đẻ ra đạt 9,96 con thấp hơn so

với nái Large White (13,29 con), Landrace (11,58 con) (Ibáñez-Escriche et al.,
2009) Tuy nhiên, tỷ lệ lợn con sơ sinh chết của nái Piétrain (8,23%) thấp hơn so
với nái Large White (14,30%), Landrace (9,45%).

Mccann et al. (2008) khẳng định sử dụng đực thuần hoặc đực lai không

ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái.

Số con đẻ ra/lứa thường thấp ở lứa thứ nhất, tăng dần và đạt cao nhất từ

lứa thứ 3 đến lứa thứ 5 (Tretinjak et al., 2009).


Những năm gần đây, việc xây dựng chỉ số chọn lọc kết hợp giá trị giống
của các tính trạng chọn lọc đã bắt đầu được quan tâm tại một số trại lợn giống.
Đối với các tính trạng sinh sản của hai giống Yorkshire và Landrace, Đoàn Văn
Giải và Vũ Đình Tường (2004) đã báo cáo tiến bộ di truyền bước đầu ở hai giống
lợn trên tại Xí nghiệp lợn giống Đông Á bằng việc áp dụng chỉ số chọn lọc: tiến
bộ di truyền bình quân về số con sơ sinh sống/ổ và khối lượng 21 ngày tuổi/ổ
tương ứng là 0,045 con/năm và 0,056 kg/ổ đối với giống Yokshire; 0,047con/năm
và 0,070kg/ổ đối với giống Landrace trong 3 năm từ 2001 - 2004. Một số cơ sở
giống lợn khác cũng cho những kết quả tương tự. Tạ Thị Bích Duyên (2003) đã
công bố kết quả ước tính giá trị giống về số con sơ sinh sống/ổ từ -1,32 đến
+1,26 trên đàn lợn Landrace và Yorkshire nuôi tại trại Đông Á và trại lợn tại
15



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status