LUẬN VĂN:
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát
triển khoa học và công nghệ từ năm
1996 đến năm 2006
mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ thập niên 80 của thế kỷ XX trở lại đây, những thành tựu to lớn của cuộc cách
mạng KH&CN hiện đại đã và đang đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng sản xuất, nâng
cao năng suất lao động xã hội, làm chuyển biến mạnh mẽ cơ cấu kinh tế của các quốc gia và
làm thay đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội loài người. Bước vào thế kỷ XXI, trong
các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, văn hoá, giao thông vận tải, môi trường... đều có
những biến đổi to lớn do tác động của cuộc cách mạng KH&CN. Cùng với việc xuất hiện
những cơ hội mới cho sự phát triển thì nguy cơ tụt hậu về kinh tế, KH&CN, thông tin... sẽ là
những thách thức không nhỏ đối với nhiều quốc gia trên thế giới.
Nhờ vận dụng nhanh chóng và sáng tạo những thành tựu mới nhất của KH&CN,
cũng như tận dụng có hiệu quả làn sóng đổi mới công nghệ, nhất là công nghệ thông tin,
công nghệ vật liệu, công nghệ sinh học... nên cục diện hiện nay của nhiều nước, nhiều khu
vực trên thế giới đã có sự thay đổi căn bản. Trong những năm đầu của thế kỷ XXI, trên quy
mô toàn cầu, nhiều nước đã xây dựng cho mình cơ cấu sản xuất và nền tảng của sự tăng
trưởng kinh tế ngày càng dựa vào việc ứng dụng các thành tựu KH&CN, nhất là các công
nghệ cao; các ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong cơ cấu tổng sản phẩm quốc
nội (GDP) với nền tảng là hoạt động xử lý thông tin; tri thức và quyền sở hữu trí tuệ đang
được coi là tài sản quan trọng và quý báu nhất của mỗi quốc gia, sáng tạo là động lực của sự
phát triển.
Việt Nam quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ TBCN, tiềm lực KH&CN còn yếu, trình
độ công nghệ còn lạc hậu, do đó quá trình CNH, HĐH đất nước tất yếu phải được tiến hành
thông qua cách mạng KH&CN.
Nhận thức được vai trò to lớn của KH&CN đối với sự phát triển của đất nước, trước
triển tiềm lực KH&CN nước ta trong thời gian tới, đáp ứng yêu cầu của quá trình đẩy mạnh
CNH, HĐH đất nước, trong đó giải pháp quan trọng hàng đầu là tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng đối với khoa học - công nghệ. Với những lý do đó, tôi đã chọn vấn đề: "Đảng Cộng
sản Việt Nam lónh đạo phát triển khoa học và công nghệ từ năm 1996 đến năm 2006"
làm đề tài cho luận văn thạc sĩ, chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đã có nhiều tài liệu, nhiều công trình nghiên cứu, bài viết của nhiều nhà khoa học,
nhà nghiên cứu lý luận trong nước và quốc tế viết về KH&CN như:
- PTS. Danh Sơn (chủ biên), Quan hệ giữa phát triển khoa học và công nghệ với phát
triển kinh tế - xã hội trong CNH, HĐH ở Việt Nam, Nxb KHXH, Hà Nội, 1999.
- PTS. Trần Thanh Phương, Tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ
đối với nền kinh tế các nước tư bản phát triển, một số gợi mở về thời cơ và thách thức đối
với Việt Nam, Luận án PTS Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội,
1996.
- PTS. Trần Thanh Phương, Tác động và những hệ quả kinh tế - xã hội của cuộc cách
mạng khoa học và công nghệ với sự phát triển ngưỡng cửa năm 2000, Hà Nội.
- Bộ Khoa học công nghệ và môi trường, Chiến lược CNH, HĐH đất nước và cách
mạng công nghệ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.
- GS.TS Lê Hữu Nghĩa, Phạm Duy Hải, Tư duy khoa học trong thời đại cách mạng
khoa học công nghệ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998.
- V.V.Đênixốp, Nguyễn Duy Thông, Nguyễn Trọng Chuẩn, Cách mạng khoa học kỹ thuật và
công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam, Nxb Tiến bộ, M, 1986.
- B.Kêđrốp (chủ biên), Cách mạng khoa học, kỹ thuật và CNXH, Nxb KHXH, Hà
Nội, 1978.
Một luận văn, luận án các chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế chính trị, Kinh tế
phát triển... có bàn đến vai trò của KH&CN đối với sự phát triển của kinh tế - xã hội cũng
như việc ứng dụng các thành tựu của KH&CN hiện đại trong các lĩnh vực kinh tế, như:
- Nguyễn Kim Phúc, Khoa học và công nghệ đối với phát triển nuôi trồng thủy sản
tài này, luận văn có kế thừa kết quả của các công trình nghiên cứu trước.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Nhằm góp phần làm sáng tỏ hơn quá trình nhận thức và lãnh đạo, chỉ đạo của TW
Đảng, Chính phủ về phát triển KH&CN từ 1996 đến 2006, qua đó khẳng định việc đổi
mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định làm cho KH&CN trở
thành động lực mạnh mẽ của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, góp phần đảm bảo cho sự
phát triển bền vững của đất nước trong thời kỳ hội nhập.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
- Trình bày có hệ thống đường lối, chủ trương phát triển KH&CN của Đảng từ 19962006, nêu rõ sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Đảng trong việc thực hiện các Nghị quyết
của Trung ương về KH&CN.
- Nêu những kết quả nổi bật đã đạt được trên một số lĩnh vực KH&CN, chỉ ra những
hạn chế và nguyên nhân, bước đầu rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu trong quá trình Đảng lãnh
đạo phát triển KH&CN thời kỳ CNH, HĐH đất nước.
4. Đối tượng và phạm vị nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự phát
triển KH&CN trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
4.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu quan điểm, đường lối của Đảng về KH&CN giai đoạn
1996-2006 và chứng minh trên một số lĩnh vực như nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh
học trong sản xuất nông nghiệp; nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn...
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
- Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về khoa học, kỹ thuật
và công nghệ.
- Quan điểm, đường lối của Đảng về KH&CN trong quá trình xây dựng và phát triển
đất nước.
Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc, kết hợp với
các phương pháp nghiên cứu khoa học liên ngành như thống kê, so sánh, đồng đại, lịch đại,
phân tích - tổng hợp...
6. Đóng góp mới của luận văn
- Luận văn làm rõ những bước phát triển trong tư duy và đường lối phát triển
KH&CN của Đảng từ 1996-2006; làm rõ sự chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng trên một số lĩnh vực
cụ thể như nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, nghiên cứu và ứng dụng KH&CN vào
sản xuất nông nghiệp... từ đó khẳng định những thành tựu, hạn chế và rút ra một số kinh
nghiệm của Đảng trong quá trình lãnh đạo phát triển KH&CN.
- Những kết quả của luận văn góp phần vào việc nghiên cứu và giảng dạy bộ môn
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm
2 chương, 6 tiết.
Chương 1
Đường lối phát triển khoa học và công nghệ
của đảng thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước (1996 - 2006)
1.1. Vai trò của khoa học, kỹ thuật và công nghệ đối với sự phát triển kinh tế xã hội trong quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
1.1.1. Theo quan điểm của các nhà kinh điển mác xít
Khoa học là một hệ thống những tri thức chân thực về thế giới, được khái quát, đúc
rút từ thực tiễn và được kiểm nghiệm bởi thực tiễn, phản ánh những thuộc tính, kết cấu,
những mối liên hệ bản chất của sự vật, những quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy. Khoa
học, kỹ thuật, công nghệ bắt nguồn từ sản xuất, từ đấu tranh xã hội, từ nhu cầu khám phá và
cải tạo thế giới của con người. Trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên, Ph.Ăngghen đã đi
tập đoàn xã hội nào. Trong xã hội có giai cấp, tính khách quan của khoa học thường phù
hợp với lợi ích của những giai cấp đang lên, những giai cấp đại diện cho một PTSX mới,
cho một chế độ xã hội mới đang hình thành và phát triển.
Khoa học ra đời, tồn tại và phát triển xuất phát từ những đòi hỏi, nhu cầu của hoạt
động thực tiễn của con người, trước hết là hoạt động sản xuất vật chất. Thực tiễn lao động
sản xuất vừa là mục đích tối cao, vừa là nguồn gốc ra đời và là động lực phát triển của khoa
học, ngược lại những tri thức khoa học càng phát triển và chính xác bao nhiêu thì càng đáp
ứng tốt hơn đòi hỏi của quá trình hoạt động thực tiễn, quá trình lao động sản xuất của con
người.
- Thứ hai, khoa học có vai trò là một động lực của lịch sử, một lực lượng cách mạng,
đồng thời cũng là một tác nhân, một lực lượng trong LLSX xã hội.
Trong tác phẩm "Lược thảo phê phán khoa kinh tế chính trị" (viết năm 1843-1844),
Ph.Ăngghen đã cho rằng: "khoa học thì ngày lại càng làm cho các lực lượng tự nhiên phải
phục tùng loài người" [28, tr.774]. Khoa học đã thúc đẩy sản xuất phát triển, làm thay đổi
bộ mặt thế giới một cách nhanh chóng. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và
Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng, sở dĩ giai cấp tư sản trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy
một thế kỷ đã tạo ra những LLSX nhiều hơn và đồ sộ hơn LLSX của tất cả các thế hệ trước
gộp lại nhờ áp dụng những thành tựu khoa học trong việc chinh phục tự nhiên... Không chỉ
khẳng định vai trò của khoa học trong việc thúc đẩy LLSX phát triển, C.Mác còn coi khoa
học là lĩnh vực sản xuất trí óc, xem xét khoa học với tư cách là một thành tựu sản xuất độc
lập và "khoa học gia nhập quá trình lao động với tư cách là một sức mạnh độc lập" [33,
tr.525, 908].
Trong Phê phán khoa kinh tế chính trị (1857-1858), khi phân tích vai trò của khoa
học trong việc làm biến đổi, thay thế các xã hội khác nhau trong lịch sử, C.Mác đã nêu
tư tưởng coi khoa học là một trong những mặt, những hình thức biểu hiện sự phát triển
của LLSX. C.Mác viết: "Chỉ riêng sự phát triển của khoa học - nghĩa là của hình thái của
cải căn bản nhất, vừa là sản phẩm, vừa là nhân tố sản xuất ra của cải - cũng đủ để làm
cho các xã hội ấy tan rã" [35, tr.60-61].
điểm của V.I.Lênin:
- Phát triển khoa học, kỹ thuật là cơ sở quan trọng nhất để xây dựng và củng cố chế
độ kinh tế XHCN.
- Phát triển khoa học, kỹ thuật là biện pháp quan trọng số một để nước Nga có thể
đuổi kịp và vượt các nước TBCN, chỉ khi nào CNXH có năng suất lao động cao hơn năng
suất lao động của CNTB thì mới có thể chiến thắng được CNTB.
Trên cơ sở nhận thức rõ vai trò quan trọng của khoa học, kỹ thuật đối với công cuộc
xây dựng CNXH ở nước Nga, V.I.Lênin đã dành nhiều thời gian và tâm sức cho việc tìm
biện pháp để phát triển khoa học, kỹ thuật cho quá trình xây dựng CNXH. V.I.Lênin đã đề
xuất một loạt các biện pháp phát triển khoa học, kỹ thuật trong điều kiện của CNXH:
Một là, thực hiện điện khí hoá toàn quốc.
Hai là, sử dụng đội ngũ chuyên gia tư sản và đào tạo đội ngũ chuyên gia công nông
thông qua hai con đường: sử dụng đội ngũ chuyên gia từ xã hội cũ để lại; đào tạo, bồi dưỡng
đội ngũ chuyên gia công nông.
Ba là, học tập, tiếp thu, kế thừa những thành tựu khoa học, kỹ thuật tiên tiến của các
nước tư bản, trong đó việc học tập các chuyên gia tư sản là vấn đề được V.I.Lênin hết sức
coi trọng và đề cập trong nhiều tác phẩm. Đây là tư tưởng rất táo bạo và đúng đắn, thể hiện
tầm nhìn chiến lược thiên tài của V.I.Lênin.
Tư tưởng của V.I.Lênin về vai trò của khoa học, kỹ thuật đối với công cuộc xây dựng
CNXH có ý nghĩa to lớn trong xây dựng nền kinh tế nước Nga sau Cách mạng tháng Mười
và sự nghiệp phát triển khoa học, kỹ thuật của Liên Xô sau này.
Tư tưởng của V.I.Lênin nói riêng, của chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung về vai trò
của khoa học, kỹ thuật có ý nghĩa thực tiễn to lớn đối với các nước đang xây dựng CNXH
hiện nay trong việc nắm bắt thời cơ để thúc đẩy khoa học, kỹ thuật phát triển.
1.1.2. Khoa học và kỹ thuật trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Xuất phát từ những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về khoa học và từ kinh
nghiệm hoạt động thực tiễn phong phú của mình, Hồ Chí Minh đã nhận thức một cách sâu
sắc ý nghĩa, vai trò to lớn của khoa học, kỹ thuật đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của
thuật là một nét độc đáo, sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khi cho rằng, chúng ta phải
dựa vào khoa học để tăng năng suất lao động, để cải thiện không ngừng đời sống nhân dân
và bảo đảm cho sự thắng lợi của CNXH..., Người đã nhìn thấy ở khoa học, kỹ thuật một
nguồn lực quan trọng của sự phát triển xã hội. Nhờ có tri thức khoa học, con người có thể
hạn chế những sai lầm, lệch lạc mang nặng tính chủ quan, kinh nghiệm trong nhận thức
cũng như trong hoạt động thực tiễn, và do vậy làm cho quá trình phát triển của xã hội ngày
càng gần hơn, phù hợp hơn với quy luật khách quan. Vì thế, Người đòi hỏi cán bộ và nhân
dân phải tích cực học tập, rèn luyện thói quen sinh hoạt và làm việc theo khoa học, "cái gì
trái với khoa học chúng ta kiên quyết chống". Người còn đặc biệt quan tâm đến nhiệm vụ
giáo dục khoa học, kỹ thuật cho nhân dân, coi việc cung cấp tri thức khoa học, kỹ thuật là
một nội dung cơ bản của giáo dục. Người viết:
Đại học thì cần kết hợp lý luận khoa học với thực hành, ra sức học tập lý
luận và khoa học tiên tiến của các nước bạn, kết hợp với thực tiễn của nước ta, để
thiết thực giúp ích cho công cuộc xây dựng nước nhà. Trung học thì cần đảm bảo
cho học trò những tri thức phổ thông chắc chắn, thiết thực, thích hợp với nhu cầu và
tiền đồ xây dựng nước nhà, bỏ những phần nào không cần thiết cho đời sống thực tế.
Tiểu học thì cần giáo dục các cháu thiếu nhi: yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao
động, yêu khoa học, trọng của công [36, tr.81].
Đó cũng chính là một trong những hình thức căn bản để xã hội hoá tri thức khoa học, để
khoa học thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Hồ Chí Minh còn cho rằng: Việc áp dụng rộng rãi những thành tựu khoa học, kỹ
thuật vào thực tiễn sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân nhằm đưa nước ta trở thành
một nước văn minh, hiện đại là công việc rất quan trọng và cần thiết. Tuy nhiên, theo Hồ
Chí Minh, công việc ấy không thể tiến hành một cách tùy tiện, thiếu sự kiểm tra, giám sát.
Là một người đã từng đặt chân tới nhiều nước công nghiệp phát triển trên thế giới, Hồ Chí
Minh đã chứng kiến cả mặt tích cực, tiến bộ lẫn những mặt tiêu cực và hậu quả mà cuộc
cách mạng này đưa lại. Chính vì vậy, Người đòi hỏi: những tri thức khoa học, kỹ thuật đem
phổ biến phải thiết thực, chính xác; nếu chỉ phổ biến rồi bỏ mặc quần chúng, không quan
khoa học, kỹ thuật chính là những tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh như đã phân tích ở phần trên.
Quan điểm của Đảng về vị trí, vai trò của khoa học, kỹ thuật lần đầu tiên được chính
thức nêu lên trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (9/1960):
Đi đôi với cuộc cách mạng về tư tưởng, cần phải tiến hành cuộc cách mạng
XHCN về văn hoá và kỹ thuật. Mục tiêu của cuộc cách mạng văn hoá và kỹ thuật
là làm cho nhân dân lao động đông đảo có trình độ văn hoá vững vàng, nắm được
những hiểu biết cần thiết về khoa học và kỹ thuật, và vận dụng được những hiểu biết
đó vào công cuộc cải biến bộ mặt lạc hậu của văn hoá và kỹ thuật nước ta, xây dựng
một nền văn hoá, khoa học và kỹ thuật hiện đại [20, tr.550].
Việc đưa ra quan điểm đó của Đảng là một tất yếu khách quan, phù hợp với bối cảnh
lịch sử cụ thể của nước ta lúc bấy giờ. Sau khi hoà bình lập lại, miền Bắc bước vào thời kỳ
quá độ lên CNXH trong điều kiện có nhiều khó khăn. Lịch sử để lại cho chúng ta một nền
sản xuất nghèo nàn, lạc hậu, trình độ dân trí thấp, trình độ kỹ thuật sản xuất thấp kém, tư
liệu lao động giản đơn, công cụ lao động phổ biến là thủ công, lao động chưa được tổ chức,
phân công một cách hợp lý... Do đó muốn đi lên CNXH, chúng ta phải tạo ra được cơ sở vật
chất - kỹ thuật cho CNXH. Đảng đã nhận thức được rằng, khoa học, kỹ thuật là không thể
thiếu và giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp cách mạng XHCN ở nước ta.
Quan điểm này của Đảng được tiếp tục thể hiện trong Nghị quyết 157 của Ban Bí thư
(khoá III), đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (12/1976) nhận thức của Đảng về vị trí,
vai trò của khoa học, kỹ thuật đã được nâng lên một bước. Sự nhìn nhận về vị trí, vai trò
của khoa học, kỹ thuật đối với sự nghiệp xây dựng CNXH trở nên rõ nét hơn. Đảng nhận
thức được rằng: "đẩy mạnh công tác khoa học, kỹ thuật sẽ giúp chúng ta xoá bỏ nhanh tình
trạng nghèo nàn, lạc hậu, rút ngắn thời gian xây dựng CNXH"[21, tr.552]. Từ đó Đảng chỉ
rõ: Khoa học, kỹ thuật phải là một trong những nhân tố hàng đầu trong việc nâng cao năng
suất, chất lượng, tiết kiệm đạt hiệu quả cao, thúc đẩy quá trình tái sản xuất mở rộng, do vậy
trong ba cuộc cách mạng, "cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt" [21, tr.508].
Quan điểm của Đại hội được khẳng định rõ trong Nghị quyết 37 của Bộ Chính trị
công tác KH&CN giai đoạn 1981-1985 là: "Làm tốt việc ứng dụng nhanh chóng và rộng rãi
thành tựu khoa học và tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và đời sống. Triển khai có hiệu quả các
chương trình khoa học và kỹ thuật trọng điểm..." [22, tr.94]. Khoa học và kỹ thuật phải phục
vụ tốt nhất cho việc đưa nông nghiệp một bước lên sản xuất lớn XHCN trong một cơ cấu
công - nông nghiệp hợp lý. Phải ứng dụng rộng rãi thành tựu của cách mạng khoa học - kỹ
thuật, đặc biệt chú ý những thành tựu về sinh học nhằm thúc đẩy nông nghiệp, lâm nghiệp,
ngư nghiệp và công nghiệp chế biến phát triển. Đồng thời, phải hướng khoa học và kỹ thuật
phục vụ các ngành công nghiệp quan trọng...
Như vậy, có thể thấy, trong quá trình lãnh đạo công cuộc xây dựng CNXH ở Việt
Nam, Đảng ta đã rất quan tâm phát triển KH&CN, tuy nhiên đến trước khi đổi mới toàn
diện đất nước, đường lối của Đảng về KH&CN chưa thực sự phát huy được vai trò của
KH&CN trong việc thúc đẩy đất nước phát triển.
1.2.2. Sự phát triển trong quan điểm của Đảng về khoa học và công nghệ thời kỳ
đổi mới toàn diện đất nước (1986-1996)
Đại hội VI (12/1986) của Đảng đã mở đầu cho một giai đoạn mới - giai đoạn đổi mới
toàn diện đất nước, giai đoạn đổi mới tư duy lý luận của Đảng và cũng là mốc đánh dấu sự
đi lên của quá trình xây dựng chiến lược KH&CN của Đảng ta.
Trên cơ sở đánh giá về tình hình kinh tế - xã hội của đất nước sau 5 năm thực hiện
Nghị quyết Đại hội lần thứ V của Đảng, Đại hội đã đặt ra nhiệm vụ hàng đầu của công tác
khoa học và kỹ thuật là: xây dựng cho kỳ được một chiến lược phát triển khoa học, kỹ thuật
làm luận cứ cho chiến lược kinh tế - xã hội, định hướng cho sự phát triển khoa học và kỹ
thuật. Trên cơ sở đó, Đại hội đưa ra những chủ trương, chính sách về khoa học, kỹ thuật
đúng đắn, phát huy vai trò động lực của khoa học, kỹ thuật trong đổi mới cơ chế quản lý
kinh tế và phát triển kinh tế - xã hội.
Điều đáng chú ý hơn trong chiến lược khoa học, kỹ thuật mà Đảng đề ra tại Đại hội
VI là chính sách về đầu tư, chủ trương thực hiện các chính sách khuyến khích, tạo điều kiện
và giải quyết quyền lợi thích đáng để phát huy trí tuệ, tài năng của đội ngũ cán bộ khoa học,
kỹ thuật được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau; đồng thời Đại hội cũng đã đề ra một số
chủ trương mới về cơ cấu tổ chức các cơ quan khoa học, kỹ thuật...
trọng của các cơ quan lãnh đạo, quản lý; là công cụ chủ yếu để nâng cao năng suất, chất
lượng, hiệu quả của mọi hoạt động kinh tế - xã hội; khoa học xã hội phải góp phần xứng
đáng cho việc đổi mới tư duy, xây dựng luận cứ khoa học cho con đường đi lên CNXH ở
nước ta, xây dựng lập trường, quan điểm, ý thức và nhân cách đúng đắn, khắc phục những
tư tưởng sai lầm...; các ngành khoa học tự nhiên và công nghệ phải tập trung vào việc cải
tạo, đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ trong nước hiện có, hiện đại hoá những công
nghệ truyền thống có ý nghĩa kinh tế, xã hội cao, lựa chọn tiếp thu những công nghệ mới.
Tập trung phát triển có trọng điểm một số hướng công nghệ hiện đại như điện tử, tin học,
công nghệ sinh học, vật liệu mới...
Chủ trương, chính sách, phương hướng đối với khoa học, kỹ thuật nêu trong văn kiện
của Đại hội VII đã thể hiện những đổi mới trong chính sách KH&CN, ghi thêm một dấu ấn
quan trọng trên bước đường cải cách thể chế KH&CN trong xu thế chung của cuộc cải cách
kinh tế và xã hội hướng vào sự hình thành những biện pháp, chính sách và cơ sở pháp lý
điều tiết nền kinh tế thị trường ở nước ta.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII
(14/7/1994) về "Phát triển công nghiệp và công nghệ đến năm 2000 theo hướng CNH,
HĐH" đã đánh giá: Mấy chục năm qua, trong những hoàn cảnh đặc biệt của đất nước, công
tác nghiên cứu, triển khai KH&CN có tiến bộ, góp phần tạo cơ sở vật chất - kỹ thuật bước
đầu cho CNXH, tuy nhiên nhìn chung còn rất yếu kém [24, tr.441-442].
Từ đó Nghị quyết nêu rõ định hướng nhiệm vụ phát triển KH&CN đến 2000 là "phát
triển KH &CN - nền tảng của phát triển công nghiệp theo hướng CNH, HĐH..."; "phải gắn
khoa học - công nghệ với sản xuất, dịch vụ; gắn các chương trình phát triển khoa học - công
nghệ với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, khuyến khích sự sáng tạo của các nhà
khoa học, đồng thời coi trọng phát huy sáng kiến của người lao động..." [24, tr.463]. Đặc
biệt, điểm mới ở đây là Đảng đã xác định cơ chế đúng đắn trong việc thúc đẩy sự phát triển
của KH&CN, đó là "tạo lập thị trường cho KH&CN để sản phẩm của các hoạt động khoa
học - công nghệ được lưu thông như các hàng hoá cao cấp khác" [24, tr.463].
Những chủ trương, chính sách, phương hướng và nhiệm vụ phát triển KH&CN được đề
và bảo vệ môi trường sinh thái... [15, tr.188-191].
Những phương hướng, nhiệm vụ về phát triển KH&CN ở nước ta được Đảng đề ra tại
Đại hội lần này là sự kế thừa, bổ sung và phát triển đường lối phát triển KH&CN những
năm trước đó, đặc biệt là những năm đổi mới toàn diện đất nước. Trong tình hình mới,
đường lối phát triển KH&CN của Đại hội VIII được đề cập tương đối toàn diện, từ mục tiêu
chung đến những phương hướng và nhiệm vụ cụ thể trên các lĩnh vực.
Các quan điểm của Đại hội là những định hướng lớn, tạo tiền đề thúc đẩy cho
KH&CN Việt Nam phát triển, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước trong
tình hình mới, đồng thời là cơ sở và tiền đề quan trọng cho việc hình thành chiến lược phát
triển KH&CN thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH ở Việt Nam.
Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII - "bước phát triển mới"
trong đường lối của Đảng về khoa học và công nghệ
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII (gọi tắt là
Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII (12/1996) về: "Định hướng chiến lược phát triển
KH&CN trong thời kỳ CNH, HĐH và nhiệm vụ đến năm 2000" là một văn kiện quan trọng
của Đảng, có tác động lớn và lâu dài đến công tác quản lý KH&CN nước ta trong những
thời kỳ phát triển tiếp theo của đất nước, đó cũng là một mốc quan trọng trong sự phát triển
tư duy, quan điểm của Đảng về KH&CN, góp phần đưa KH&CN phục vụ có hiệu quả hơn
sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Nghị quyết ra đời khi đất nước đã thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, đã có
những tiền đề mới, những thắng lợi mới để chuyển sang thời kỳ cách mạng mới - thời kỳ
đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước với những đòi hỏi mới. Những nhân tố phát triển đang được
phát huy, nền kinh tế đã và đang nhanh chóng hoà nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới,
quốc phòng - an ninh được củng cố vững chắc; chính trị được giữ vững và ổn định; đường
lối mở cửa và hội nhập quốc tế của Đảng với chính sách phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN đã gặt hái được nhiều thành công bước đầu. Bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam
đã được thử thách và khẳng định trước bạn bè và thế giới, đất nước đang có thế và lực mới
trên con đường hội nhập và phát triển...
tiềm lực KH&CN của đất nước, thúc đẩy việc đưa các tiến bộ KH&CN vào sản xuất và đời
sống, góp phần đưa nước ta ra khỏi tình trạng khủng khoảng kinh tế - xã hội, tạo ra những
tiền đề cần thiết để bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH.
Tuy nhiên, "Nền KH&CN nước ta phát triển chậm, chưa tương xứng với tiềm năng
sẵn có, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển trong thời kỳ CNH, HĐH, còn thua kém so
với nhiều nước trong khu vực" [16, tr.51]. Trình độ công nghệ thấp, chậm được đổi mới
trong nhiều ngành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội. Sản phẩm
nghiên cứu KH&CN trong nước chưa nhiều, tỷ lệ ứng dụng vào sản xuất và đời sống còn
thấp. Còn có tình trạng nhập khẩu các thiết bị, công nghệ lạc hậu, không đồng bộ, kém hiệu
quả... gây ảnh hưởng đến năng suất lao động và môi trường sinh thái.
Nhiều vấn đề nảy sinh trong công cuộc đổi mới chưa được làm sáng tỏ về
phương diện lý luận. Nhiều vấn đề kinh tế - xã hội thiếu những dự báo khoa học.
Việc tổng kết thực tiễn bị coi nhẹ, tình trạng chậm trễ trong một số lĩnh vực lý
luận và khoa học xã hội chưa được khắc phục...
Đội ngũ cán bộ KH&CN tuy tăng về số lượng nhưng tính tỷ lệ trên số dân
thì còn thấp so với các nước trong khu vực, chất lượng chưa cao, còn thiếu nhiều
cán bộ đầu ngành và chuyên gia giỏi, đặc biệt là các chuyên gia về công nghệ. Số
đông cán bộ có trình độ cao đều đã lớn tuổi, đang có nguy cơ hẫng hụt cán bộ.
Không ít cán bộ KH&CN chuyển đi làm việc khác hoặc bỏ nghề, gây nên sự lãng
phí chất xám nghiêm trọng.
Cơ sở vật chất - kỹ thuật cho nghiên cứu khoa học còn quá nghèo nàn, lạc
hậu; thông tin KH&CN quá thiếu và không kịp thời.
Hệ thống tổ chức các cơ quan nghiên cứu - triển khai tuy đã được sắp xếp
một bước nhưng vẫn còn trùng lắp, chưa đồng bộ, thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa
nghiên cứu, giảng dạy với thực tiễn sản xuất, kinh doanh và với quốc phòng - an
ninh, giữa các ngành khoa học, giữa khoa học tự nhiên và công nghệ với khoa
học xã hội và nhân văn... Tinh thần hợp tác giữa các nhà khoa học và giữa các cơ
quan nghiên cứu khoa học còn yếu... [16, tr.51-53].