BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
--------------------
BÙI THỊ YẾN
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TẠI KHU CÔNG NGHIỆP
THUỴ VÂN, THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
--------------------
BÙI THỊ YẾN
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TẠI KHU CÔNG NGHIỆP
THUỴ VÂN, THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
Tôi cũng xin ghi nhận và tỏ lòng biết ơn đến gia đình, nhà trường, các thầy
cô giáo đã hướng dẫn, thúc đẩy, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn, đánh dấu thành
quả giai đoạn 2 năm được học tập tại trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2014
Tác giả luận văn
Bùi Thị Yến
ii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN..........................................................................................................
LỜI CẢM ƠN...............................................................................................................
MỤC LỤC...................................................................................................................
DANH MỤC BẢNG...................................................................................................
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH...................................................................................
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU HÓA HỌC.................................
MỞ ĐẦU......................................................................................................................
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU................................................
Chương 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU................................
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU......................................................................
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ....................................................................................
TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................................
nghiệp trong khu công nghiệp....................................................................................
Bảng 3.15. Kết quả thực hiện công tác nộp phí nước thải.........................................
iv
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH
Trang
Biểu đồ 3.1. Diễn biến nồng độ bụi TSP trong không khí khu vực..........................
bị ảnh hưởng KCN......................................................................................................
Biểu đồ 3.2. Diễn biến thông số COD trong môi trường nước nội đồng..................
ảnh hưởng KCN..........................................................................................................
Biểu đồ 3.3. Diễn biến thông số BOD trong môi trường nước nội đồng..................
ảnh hưởng KCN..........................................................................................................
Biểu đồ 3.4. Diễn biến nồng độ NH4+-N trong môi trường nước ngầm ảnh
hưởng bởi KCN..........................................................................................................
Hình 1.1. Sơ đồ nguyên tắc các mối quan hệ trong hệ thống quản lý môi
trường KCN................................................................................................................
Hình 3.1. Biểu thị biểu đồ tần suất gió.......................................................................
Hình 3.2. Bản đồ hành chính khu vực dự án KCN Thụy Vân...................................
Hình 3.3. Sơ đồ mối quan hệ trong hệ thống quản lý môi trường tại KCN
Thuỵ Vân....................................................................................................................
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU HÓA HỌC
- BOD5:
Nhu cầu ôxy sinh học.
- KCN:
Hệ thống xử lý nước thải tập trung.
Khu công nghiệp.
- KKT:
Khu kinh tế.
- KPH:
- NH4+-N:
Không phát hiện.
Amoni tính theo Nitơ.
- NO2--N:
Nitrit tính theo Nitơ.
- NO3--N:
- NTSH:
- PM10:
Nitrat tính theo Nitơ.
Nước thải sinh hoạt.
Bụi hô hấp.
- QCVN 05:2013/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí
xung quanh (trung bình 1giờ).
- QCVN 06:2009/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về một số chất độc hại
Được hình thành từ những năm 1990 và đặc biệt phát triển mạnh trong
những năm gần đây khu công nghiệp (KCN) có vai trò quan trọng trong quá trình
phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Các KCN đã và đang là nhân tố chủ yếu
thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp, tăng khả năng thu hút vốn đầu tư trong và
ngoài nước, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo công ăn việc làm và thu nhập cho người dân.
Cùng với sự phát triển các KCN, các đô thị mới, các cơ sở phụ trợ và dịch vụ đã
không ngừng phát triển, góp phần tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội
theo hướng tích cực.
Phát triển các KCN đã đạt được mục tiêu tập trung các cơ sở sản xuất công
nghiệp, sử dụng hiệu quả tài nguyên và năng lương, tập trung các nguồn phát thải ô
nhiễm và các khu vực nhất định, nâng cao hiệu quả sản xuất, hiệu quả quản lý
nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, quá trình phát triển KCN đã bộc
lộ một số khiếm khuyết trong việc xử lý chất thải và đảm bảo chất lượng môi
trường. Trong thời gian tới, cùng với phát triển các KCN sẽ làm gia tăng lượng thải
và các chất ô nhiễm môi trường, nếu không tăng cường công tác quản lý môi trường
sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của đất nước.
Phú Thọ là một tỉnh thuộc vùng miền núi trung du Bắc bộ. Nằm trong khu
vực giao lưu giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và vùng Tây Bắc, Phú
Thọ cách trung tâm Hà Nội 80km, cách sân bay Nội Bài 60km. Phú Thọ là tỉnh có
khu công nghiệp phát triển sớm, ngay sau khi được tái thành lập tỉnh năm 1996,
năm 1997 đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Ban quản lý các Khu
công nghiệp Phú Thọ cùng với việc hình thành và xây dựng KCN Thuỵ Vân quy
mô 306ha. Bằng sự hồ trợ nguồn với của Trung ương và huy động nguồn vốn của
địa phương. Đến nay khu công nghiệp Thuỵ Vân đã cơ bản đầu tư xong cơ sở hạ
tầng, đã lấp đầy 2/3 diện tích đất công nghiệp. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của
KCN. Chất lượng môi trường nước, không khí và chất thải rắn trong khu vực đã và
đang có xu hướng suy giảm và tồn tại nhiều bất cập. Chính vì thế mà việc quan tâm
đến chất lượng môi trường ở đây đang rất cần thiết. Cần phải có những đánh giá
1
Khu chế xuất (KCX): là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện
dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác
định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với KCN đã quy
định. Thông thường KCN và KCX được gọi chung là KCN, chỉ trừ trong những
trường hợp có quy định cụ thể (Văn phòng Chính phủ, 2008).
Cụm công nghiệp: là một dạng KCN nhưng có quy mô nhỏ do chính quyền
địa phương phê duyệt, cấp phép và quản lý (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2009).
Điểm công nghiệp: là một dạng công nghiệp tập trung mới xuất hiện gần
đây do sự phát triển bùng phát của các làng nghề. Điểm công nghiệp có quy mô nhỏ
từ vài chục ha trở xuống, được chính quyền địa phương phê duyệt và cấp phép (Bộ
Tài nguyên và Môi trường, 2009).
Khu công nghệ cao: là nơi tập trung, liên kết hoạt động nghiên cứu và phát
triển, ứng dụng công nghệ cao; ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công
nghệ cao; đào tạo nhân lực công nghệ cao; sản xuất và kinh doanh sản phẩm công
nghệ cao; cung ứng dịch vụ công nghệ cao (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2009).
Khu kinh tế: là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường
đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác
định… Khu kinh tế được tổ chức thành các khu chức năng gồm: khu thu phí thuế
quan, khu bảo thuế, khu chế xuất (KCX), khu công nghiệp (KCN), khu giải trí, khu
du lịch, khu đô thị, khu dân cư, khu hành chính và các khu chức năng khác phù hợp
với đặc điểm của từng khu kinh tế (Văn phòng Chính phủ, 2008).
3
Khu công nghiệp sinh thái (KCNST): là một “cộng đồng” các doanh
nghiệp sản xuất và dịch vụ có mối liên hệ mật thiết trên cùng một lợi ích: hướng tới
một hoạt động mang tính xã hội, kinh tế và môi trường chất lượng cao, thông qua sự
hợp tác trong việc quản lý các vấn đề về môi trường và nguồn tài nguyên. Bằng các
hoạt động hợp tác chặt chẽ với nhau, “cộng đồng” KCNST sẽ đạt được hiệu quả
Sau 20 năm xây dựng và phát triển, đến nay hệ thống các Khu công
nghiệp (KCN), Khu chế xuất (KCX) và các khu kinh tế ven biển, khu kinh tế cửa
khẩu (KKT) đã có những đóng góp quan trọng trong công cuộc phát triển của đất
nước ta. Từ nền tảng là các KCN, KCX, có thể nói các trung tâm sản xuất công
nghiệp, dịch vụ với kết cấu hạ tầng kỹ thuật tương đối đồng bộ, hiện đại đã được
hình thành và từng bước phát triển. Bên cạnh đó, với thủ tục hành chính đơn
giản, môi trường đầu tư thông thoáng, chính sách ưu đãi đầu tư hấp dẫn, các
KCN, KCX, KKT đã trở thành những trọng điểm thu hút dự án đầu tư trong và
ngoài nước, góp phần quan trọng vào việc nâng cao giá trị sản xuất công nghiệp,
giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các địa phương và cả nước.
Các KCN, KKT của Việt Nam hiện đang là điểm đến của nhiều Tập đoàn hàng
đầu thế giới trong những lĩnh vực khác nhau như Canon, Samsung, LG,
Sumitomo, Posco, Kumho, Nokia...với các sản phẩm sản xuất tại Việt Nam được
xuất đi toàn cầu, góp phần khẳng định vị thế nước ta trong bản đồ địa kinh tế của
khu vực và thế giới. Nhiều doanh nghiệp trong nước như Sonadezi, Becamex,
Đại An, Tập đoàn đầu tư phát triển Việt Nam (VID Group), KBC...với khởi điểm
là nhà đầu tư phát triển và kinh doanh hạ tầng KCN, KCX nay đã trưởng thành
và trở thành những tập đoàn mạnh, đầu tư đa ngành, đa lĩnh vực và dần vươn tới
các thị trường ngoài nước, góp phần khẳng định vị thế doanh nghiệp Việt Nam
trên thương trường quốc tế (Bộ Tài nguyên và Môi trường,, 2012).
Được khởi nguồn từ năm 1991 với việc thành lập KCX Tân Thuận, đến
năm 2012, cả nước đã có 283 KCN được thành lập với tổng diện tích đất tự
nhiên khoảng 80.000 ha, trong đó diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt
gần 52.000 ha, chiếm khoảng 65% tổng diện tích đất tự nhiên; 178 KCN đã đi
vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên trên 47.300 ha; các KCN còn lại
đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản. Các KCN
được phân bố trên 58 tỉnh, thành phố trên cả nước, tập trung chủ yếu ở vùng
Đông Nam Bộ với 93 KCN (chiếm 33% về số lượng và 43% về tổng diện tích),
5
thải của các doanh nghiệp; chất lượng các Nhà máy XLNT ngày càng nâng cao;
công tác xử lý chất thải tại các KCN, KCX đã từng bước đi vào nền nếp và có
6
những chuyển biến tích cực. Đối với 60 KCN đã thành lập và 105 KCN đang trong
thời kỳ xây dựng cơ bản chưa có hệ thống XLNT tập trung thì việc sớm huy động
các nguồn lực để đầu tư xây dựng là cần thiết và cấp bách. Để thực hiện mục tiêu
này, hiện nay Việt Nam đã và đang xã hội hóa các nguồn lực, trong đó có nguồn
vốn hỗ trợ ODA để đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung tại các
KCN, KCX. Dự kiến kế hoạch 5 năm 2011-2015 đã đặt ra mục tiêu đến năm 2015,
thì 100% các KCN đã đi vào hoạt động có công trình xử lý nước thải tập trung đạt
tiêu chuẩn môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012).
1.2.2 Chất lượng môi trường tại KCN
1.2.2.1. Các nguồn thải và lượng thải phát sinh tại các KCN
Theo thời gian, mức độ lấp đầy và hoàn thành hệ thống hạ tầng kỹ thuật
(HTKT) ở các KCN được phân biệt thành một số nhóm: Các KCN đã hoàn thành
và lấp đầy 90-100%, các KCN này chỉ có chất thải rắn (CTR), nước thải sinh
hoạt và sản xuất công nghiệp; Các KCN có hệ thống HTKT đã hoàn thành và
đang thu hút đầu tư xây dựng các dự án thứ cấp, thì phát sinh chất thải rắn và
nước thải từ quá trình xây dựng là chính; Các KCN vừa xây dựng hạ tầng, vừa
thu hút đầu tư vừa sản xuất thì chất thải đa dạng bao gồm cả chất thải xây dựng,
sản xuất và sinh hoạt. Ngoài ra, có các KCN vừa khai thác vừa chế biến khoáng
sản thì chất thải chủ yếu là CTR từ quá trình khai thác. Tùy theo loại hình ngành
nghề mà có KCN chủ yếu là nước thải hoặc có KCN chỉ có nhiều CTR (Bộ Tài
nguyên và Môi trường, 2012).
1.2.2.1.1. Chất thải rắn và chất thải nguy hại
Tỷ lệ các loại CTR sinh hoạt, công nghiệp và xây dựng, chất thải khai
thác, chế biến khoảng sản (như ở các tỉnh miền núi Yên Bái, Lào Cai),.. từ các
giá trị giới hạn của một số thông số cơ bản như BOD, COD, TSS, dầu mỡ vượt
QCCP, nhất là năm 2010 (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Quảng Nam…)
nhưng có xu hướng giảm năm 2011 và 2012, thể hiện sự đầu tư đúng mức hơn cho
công tác XLNT.
- Về chất lượng không khí: Trừ những KCN có tập trung nhiều ngành nghề
liên quan đến vật liệu xây dựng (miền Bắc, miền Trung) hoặc chế biến thủy sản
(miền Nam) có phát sinh khói bụi và mùi khó chịu với nồng độ cao hơn QCCP. Kết
quả quan trắc còn lại đa số các KCN đều cho thấy chất lượng không khí chưa bị ảnh
hưởng, các chỉ tiêu đo đạc đều trong giới hạn cho phép.
8
- Đối với các tỉnh, thành phố phát triển nhiều các KCN như TP Hồ Chí Minh.
Bình Dương, Đồng Nai,... Các Ban Quản lý các KCN đều thực hiện các chương
trình quan trắc môi trường định kỳ và tự động để kịp thời phát hiện và xử lý những
vấn đề bất thường khi xả thải. Bên cạnh đó, các Sở TNMT còn có các Trung tâm
Quan trắc môi trường, điển hình là tỉnh Bình Dương đã xây dựng mạng lưới quan
trắc tự động online.
1.2.2.3. Đầu tư và xây dựng cơ sở hạ tầng BVMT các KCN và thực hiện cam kết
xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung ở KCN
Tính đến tháng 9 năm 2012, toàn quốc có 348 KCN đã được Thủ tướng
Chính phủ và UBND cấp tỉnh ra quyết định thành lập, trong đó có 227 KCN đang
hoạt động và số còn lại đang xây dựng cơ bản. Tình trạng phổ biến hiện nay ở các
địa phương, đặc biệt vùng sâu vùng xa là nhiều KCN đã được phê duyệt thành lập
từ lâu nhưng chưa đầu tư hạ tầng hoặc cũng có nhiều KCN đã hoạt động lâu năm
nhưng vẫn chưa đầu tư xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung. Trong số 227 KCN
đang hoạt động chỉ có 143 KCN có vận hành HTXLNTTT, 32 KCN đã có cam kết
xây dựng và vận hành cuối năm 2012 đầu năm 2013 (theo Công văn số
4903/BTNMT-TCMT ngày 30/11/2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường có về
4500 m3/ngày. Tổng số DN tại 02 KCN của Hậu Giang là 27 DN. Hiện tại đã có 14
DN đi vào hoạt động, trong đó có 06 DN phát sinh nước thải sản xuất. Các DN này
đã đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải công suất từ 350 - 5.000m3/ngày, tiêu
chuẩn nước thải đạt QCVN 40:2011/BTNMT loại A. Có nơi như Hải Phòng, KCN
Nam Cầu Kiền đã xây dựng trạm xử lý nước thải nhưng vẫn chưa hoàn thiện, lắp đặt
thiết bị xử lý để vận hành mặc dù đã có một số doanh nghiệp thứ cấp hoạt động.
KCN Chơn Thành ở Bình Phước, KCN An Hạ TP Hồ Chí Minh, CCN Đông HàQuảng Trị, do không đủ kinh phí hoặc không có nước thải nên xây dựng TXLNT bỏ
dở, chưa hoàn thành phần xây dựng và lắp đặt thiết bị.
- Sức ép từ phía các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường tại các địa
phương mà các KCN được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách địa phương, chủ đầu
tư kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN là đơn vị trực thuộc BQL các KCN tỉnh, có
trách nhiệm làm chủ đầu tư tiếp nhận các nguồn vốn từ ngân sách tỉnh để đầu tư xây
dựng kết cấu hạ tầng trong KCN, mà nguồn ngân sách thường không đáp ứng kịp
thời yêu cầu đầu tư và phát triển KCN, dẫn đến chậm tiến độ đầu tư, gây những vẫn
đề về ô nhiễm môi trường.
10
1.2.2.4. Đánh giá hiện trạng hoạt động của các công trình xử lý chất thải
1.2.2.4.1.Xử lý chất thải rắn công nghiệp thông thường
Chất thải rắn thông thường: bao gồm rác thải sinh hoạt và rác thải công
nghiệp, thành phần gồm rác hữu cơ, kim loại, thủy tinh…Tổng lượng rác thải phát
sinh trên địa bàn từng KCN được xác định, trong đó rác thải công nghiệp thường
chiếm 80%. Loại rác thải này hầu hết được các doanh nghiệp phân loại, thu gom
bán lại cho các đơn vị thu mua để tái chế. Phần còn lại, các doanh nghiệp sẽ tự hợp
đồng với Công ty TNHH MTV môi trường đô thị của tỉnh vận chuyển đi chôn lấp
tại bãi chôn lấp.
1.2.2.4.2. Xử lý chất thải công nghiệp nguy hại
Chất thải nguy hại (CTNH) phát sinh từ các doanh nghiệp trong KCX, KCN
- Tiến độ xây dựng hạ tầng thu gom nước thải công nghiệp ở nhiều KCN rất
chậm so với tỷ lệ lấp đầy và hoạt động của các cơ sở, chưa đủ điều kiện để xúc tiến
đấu nối. Một số KCN, chất lượng xây dựng chưa đáp ứng, nhanh xuống cấp, tắc
cống, ảnh hưởng đến việc thu gom nước thải.
- Trạm xử lý nước thải cục bộ của từng đơn vị hay xí nghiệp trong KCN, là
trạm xử lý riêng của đơn vị. Trong trường hợp, khi nước thải của đơn vị hay xí
nghiệp chứa các chất đặc thù hay có nồng độ vượt quá ngưỡng quy định của đối với
nước thải đầu vào của trạm xử lý nước thải tập trung của KCN, thì trách nhiệm xử
lý nước thải cục bộ thuộc về đơn vị hay xí nghiệp trong KCN. Như trên đã đề cập,
do lịch sử, một số doanh nghiệp trong KCN tự xử lý và được phép miễn trừ đấu nối
vào HTXLNTTT của KCN nhưng phải tuân thủ QCVN 40:2011 (trước đây là
TCVN 5945:1995, QCVN 5945:2005 và QCVN 24:2009).
Khi các cơ sở đấu nối với HTXLNTTT của KCN, dòng vào theo sự thỏa
thuận giữa chủ đầu tư –các công ty HTKT với các doanh nghiệp trong KCN và
thường trong khoảng giá trị ở cột 4. Đối với dòng ra, theo quy định của cơ quan
quản lý nhà nước về môi trường, áp dụng QCVN 40:2011/BTNMT. Nếu nước thải
của các đơn vị/xí nghiệp trong KCN vượt quá giới hạn quy định đối với dòng vào,
thì các đơn vị phải xử lý nước thải cục bộ trước khi đấu nối.
- HTXLNTTT ở KCN tùy theo quy mô, đặc điểm quy hoạch hoặc thành
phần nước thải, mỗi HTXLNTTT KCN có thể có 1, 2 hay 3 đơn nguyên. Vận hành
các HTXLNTTT ở đa số các địa phương cũng chưa thường xuyên, chưa đáp ứng
được QCVN (một số thông số trong nước thải vượt ngưỡng), ví dụ như Thanh Hóa,
12
TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng… Cũng có một thực trạng ở nhiều KCN (đặc
biệt là Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Quảng Nam,......), HTXLNTTT đã
được đầu tư nhưng lượng nước thải thu gom không đủ để vận hành thường xuyên.
1.2.2.4.4. Xử lý khí thải
phủ, liên quan đến bảo vệ môi trường và quản lý môi trường của các KCN còn có:
Ban quản lý các KCN; Chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng kỹ thuật
KCN; các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ trong KCN. Hiện nay Ban quản lý các
KCN thực hiện chức năng quản lý môi trường của mình theo sự ủy quyền của các
cơ quan có thẩm quyền phê duyệt dự án ĐTM tại các KCN. Cụ thể là tiến hành tổ
chức thẩm định phê duyệt ĐTM, chủ trì phối hợp thực hiện giám sát, kiểm tra các vi
phạm về bảo vệ môi trường đối với các dự án, cơ sở sản xuất, kinh doanh tại KCN.
Đây là điểm mới trong hệ thống quản lý nó sẽ tăng cường vai trò của các BQL các
KCN và giám sát thực tế hơn hoạt bảo vệ môi trường tại các KCN.
Thông tư 08/2009/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường tập trung
vào việc quy định trách nhiệm, quyền hạn của các đơn vị và các vấn đề có liên quan
đến quản lý và bảo vệ môi trường của các KCN, trong đó đặc biệt nâng cao trách
nhiệm của BQL các KCN. Theo đó, BQL các KCN chịu trách nhiệm trực tiếp quản
lý công tác bảo vệ môi trường tại KCN theo sự ủy quyền của cơ quan quản lý nhà
nước có thẩm quyền. Để thực hiện nhiệm vụ này, BQL các KCN phải có tổ chức
chuyên môn, cán bộ phụ trách về bảo vệ môi trường theo Quy định tại Nghị định số
81/2007/NĐ-CP ngày 23/5/2007 của Chính phủ quy định tổ chức, bộ phận chuyên
môn về bảo vệ môi trường tại cơ quan nhà nước và doanh nghiệp nhà nước.
BQL các KCN thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về môi trường KCN
theo ủy quyền như tổ chức thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi
trường; chủ trì hoặc phối hợp thực hiện giám sát, kiểm tra các vi phạm về bảo vệ
môi trường đối với các dự án, các cơ sở sản xuất kinh doanh tại KCN; phối hợp với
Bộ TN&MT, Sở TN&MT thực hiện việc thanh tra và xử lý vi phạm về bảo vệ môi
trường trong KCN.
Sở TN&MT thực hiện chức năng quản lý nhà nước về môi trường, chủ trì
công tác thanh tra về việc thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường và các nội
dung của Quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM theo thẩm quyền; chủ trì hoặc phối
hợp với BQL các KCN tiến hành kiểm tra công tác bảo vệ môi trường trong KCN;
phối hợp giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về bảo vệ môi trường KCN…
Công ty phát triển hạ tầng KCN có chức năng xây dựng và quản lý cơ sở hạ
Ban quản lý các KCN
Khu Công nghiệp
Chủ đầu tư XD&KD
KCHT KCN
Các DN
CCSX
Khu Công nghiệp
Chủ đầu tư XD&KD
KCHT KCN
Các DN CCSX
Hình 1.1. Sơ đồ nguyên tắc các mối quan hệ trong hệ thống
quản lý môi trường KCN
Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2009
15
1.3.3.. Kết quả thực hiện các quy định pháp luật về BVMT trong KCN
- Việc thực thi các văn bản cũng gặp nhiều lúng túng, hầu hết các địa phương
đều thụ động trong việc triển khai các VBQPPL, chưa mạnh dạn vận dụng phù hợp
với điều kiện đặc thù của địa phương, ví dụ hướng dẫn DN triển khai đấu nối vào
HTXLNTTT hoặc tính toán lượng nước thải để tính phí BVMT.
- Việc thực hiện các thủ tục môi trường tại các KCN cũng chưa đầy đủ, nhất
là việc xác nhận hoàn thành công trình BVMT (theo báo cáo của các địa phương,
BVMT (thì mới được phép đầu tư), mặt khác đã bỏ kinh phí để đầu tư hoàn thiện
nhà máy xử lý nước thải đạt quy chuẩn tương đương với HTXLNTTT. Trong số
143 KCN đang hoạt động có HTXLNTTT hiện nay, chỉ có 84 KCN báo cáo đã
hoàn thành toàn bộ việc đấu nối nước thải từ các cơ sở trong KCN vào hệ thống
XLNTTT (chiếm tỷ lệ 59 %).
- Việc áp dụng quy chuẩn môi trường ở các KCN có một vấn đề nảy sinh, đó
là KCN áp dụng QCVN 40 (quy chuẩn nước thải công nghiệp chung), tuy nhiên
trong KCN lại có một số ngành nghề đặc thù như chế biến thủy sản, dệt nhuộm có
những chỉ tiêu đặc trưng cao hơn QCVN, nhưng nếu cơ sở xử lý nước thải theo quy
chuẩn đặc thù thì sẽ không đáp ứng được quy chuẩn nước thải chung. Một trong
những lý do là việc quy hoạch phát triển ngành nghề chưa tính toán hết các vấn đề
môi trường.
1.3.4.. Nguồn kinh phí cho công tác quản lý môi trường các KCN
Nguồn chi SNMT ở các địa phương không bố trí để thực hiện BVMT ở các
KCN, ở một số địa phương phần lớn chỉ là kinh phí bố trí cho công tác quan trắc
chất lượng môi trường xung quanh KCN và tổng hợp báo cáo giám sát môi trường
định kỳ do Sở TNMT thực hiện và mức chi cũng rất hạn chế, từ 100 – 500 triệu
đồng/năm, do đó các Sở mặc dù có thực hiện quan trắc môi trường nhưng không
đảm bảo đủ theo định kỳ, đặc biệt là các tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung và Tây
Nam Bộ. Các nguồn kinh phí khác bố trí cho công tác quản lý môi trường đều
không thường xuyên, mà tùy theo các đề tài, dự án từ trung ương hoặc địa phương
thực hiện trong một số năm hoặc có thể là nguồn hỗ trợ có mục tiêu… Tuy nhiên
đánh giá chung thì kinh phí bố trí cho công tác quản lý môi trường KCN chưa đáp
ứng yêu cầu.
1.3.5. Kết quả thanh tra, kiểm tra BVMT KCN
Theo báo cáo của các địa phương, trong số 59/60 địa phương đã có KCN, từ
năm 2009 đến nay hàng năm đều có ít nhất một đoàn thanh tra của Bộ TNMT thực
17