BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
-------&-------
NGUYỄN HÀ CHI
PH¸T TRIÓN N¡NG LùC GIAO TIÕP THÈM MÜ
TRONG D¹Y HäC TRUYÖN NG¾N CHÝ PHÌO” CñA NAM CAO
Chuyên ngành: LL và PPDH bộ môn Văn
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS NGUYỄN VIẾT CHỮ
HÀ NỘI - 2016
Lời cảm ơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới PGS. TS
Nguyễn Viết Chữ, người thầy đã nhiệt tình và tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn.
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn,
tổ bộ môn Lý luận và phương pháp dạy học Văn, phòng Sau Đại học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá
trình học tập, nghiên cứu tại đây.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn BGH cùng các thầy cô giáo công tác
tại trường THPT số 2 TP. Lào Cai; gia đình và bạn bè đã luôn tạo điều kiện,
động viên và khích lệ tôi trong thời gian thực hiện luận văn này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do hạn chế về thời gian và kiến
thức nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được
sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn.
Giáo viên
Học sinh
Phương pháp dạy học
Giao tiếp
Giao tiếp ngôn ngữ
Giao tiếp văn học
Giao tiếp thẩm mĩ
Tác phẩm văn chương
Trung học phổ thông
Năng lực giao tiếp thẩm mĩ
MỤC LỤC
Trang
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Tính cấp thiết của vấn đề
Công cuộc cải cách để hiện đại hóa nhà trường, đón nhận những chân trời
mới của hội nhập quốc tế và khu vực đã dẫn đến những đổi mới rõ rệt trong giáo
dục từ khâu xây dựng chương trình, biên soạn SGK đến kiểm tra, đánh giá; đặc biệt
là phương pháp dạy học. Nhưng đáng chú ý nhất là đổi mới về quan niệm, nhất là
với bộ môn nghệ thuật như môn Ngữ văn. Thực tế sư phạm bốn thập kỉ qua đã chỉ
ra rằng: việc dạy học nghiêng về kiến thức văn chương, nội dung nghệ thuật của tác
phẩm được nhìn từ nhiều góc độ trong mỗi giờ học đã được chú ý. Bản chất của quá
trình dạy học môn Ngữ văn cũng khác hẳn so với trước. Thầy hướng đạo, trò chủ
động, tự giác, tích cực, tự lực. Hàng loạt năng lực thiết yếu được đặt ra trong mục
tiếp thẩm mĩ
Tác giả Trần Đình Sử khi nói về thi pháp học có nhận định: “Nếu thi pháp
học truyền thống xem nghệ thuật như những vật được sáng tạo tinh xảo bằng chất
liệu, thì thi pháp học hiện đại xem nghệ thuật là một hoạt động giao tiếp, một hệ
thống kí hiệu mà sản phẩm của nó là một khách thể thẩm mĩ, một sáng tạo tinh thần
tồn tại vừa trong văn bản, vừa trong cảm thụ người đọc” [34, 105]. Hay nói cách
khác, quá trình sáng tạo và tiếp nhận trong nghệ thuật nói chung và văn chương nói
riêng là một hoạt động giao tiếp. Tính chất giao tiếp của văn chương bắt nguồn từ
quan hệ giữa tác giả và người đọc thông qua tác phẩm văn chương. Có thể quan
niệm tác phẩm văn chương là một thông điệp thẩm mĩ, người nghệ sĩ là người phát
đi những thông điệp nghệ thuật, còn bạn đọc là người nhận thông điệp đó. Tuy
nhiên, hoạt động phát tin và nhận tin giữa tác giả (người phát tin) và người đọc
(người nhận tin) là một quá trình đặc biệt. Công việc sáng tạo văn chương của
người nghệ sĩ là một quá trình tư duy ngôn ngữ thầm lặng, là cả một quá trình gian
khổ nhà văn đi tìm tòi ý tứ, thổi hồn vào từng câu, từng chữ, từng hình tượng…
nhằm dẫn dắt người đọc vào những cuộc giao tiếp đồng điệu, tri âm về những vấn
đề của đời sống. Khi đó, sự sáng tạo của người nghệ sĩ đã là một hoạt động giao
tiếp, giao tiếp đối với đời sống, với mọi người và với chính bản thân mình.
2
Ngược lại, “tiếp nhận văn học là một cuộc giao tiếp, đối thoại tự do giữa
người đọc và tác giả qua tác phẩm. Nó đòi hỏi người đọc tham gia với tất cả trái
tim, khối óc, hứng thú và nhân cách, tri thức và sức sáng tạo” [35, 325]. Tiếp nhận
một tác phẩm văn chương, người đọc sẽ “giao lưu”, đối thoại về cuộc sống qua lăng
kính nhà văn. Đồng thời, người đọc bằng niềm say mê và vốn sống, vốn văn hóa,
vốn ngôn ngữ... của bản thân để bồi đắp thêm, làm phong phú thêm những ý nghĩa
thẩm mĩ của tác phẩm văn chương. Thông qua quá trình GT thầm lặng ấy giữa
người đọc với tác phẩm, với hiện thực đời sống (phản ánh thông qua lăng kính của
cận từ hướng vận dụng Ngôn ngữ học văn bản… Hướng tiếp cận truyện ngắn Chí
Phèo ngày càng phong phú hơn, phần nào đáp ứng được nhu cầu của người học.
Tuy nhiên, để nâng cao hơn nữa hiệu quả dạy học tác phẩm này, thiết nghĩ còn
nhiều vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu, trong đó có vấn đề phát triển năng lực
nói chung và năng lực giao tiếp thẩm mĩ nói riêng cho người học.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Phát triển năng lực
giao tiếp thẩm mĩ trong dạy học truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao” với
mong muốn hướng đến một cách dạy học mới, vừa kích thích được sự hứng thú
trong học tập, vừa hình thành và phát triển được một năng lực thiết yếu cho người
học trong học tập và đời sống – năng lực giao tiếp thẩm mĩ.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
2.1. Vấn đề dạy học Ngữ văn theo hướng giao tiếp và phát triển năng lực giao
tiếp thẩm mĩ
Dạy học tác phẩm văn chương nói chung, truyện ngắn nói riêng luôn gắn liền
với những yếu tố GT đi cùng. Mặc dù GT là một hoạt động không hoàn toàn xa lạ
trong giờ học Văn nhưng hiện tại có rất ít tài liệu liên quan tới vấn đề này. Các công
trình nghiên cứu của một số tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu quan điểm GT và
việc dạy học Làm văn, Tiếng Việt.
Trong một số những nghiên cứu của mình, tác giả Nguyễn Quang Ninh đã đi
sâu phân tích những vấn đề về lí thuyết của GT bằng ngôn ngữ, trên cơ sở đó ông
đề xuất quy trình vận dụng quan điểm GT vào dạy học Làm văn “Làm văn là một
hoạt động GT” và “dạy làm văn chính là dạy cách thức tổ chức GT, hay nói một
cách chính xác là dạy cách thức tổ chức GT bằng văn bản”. Tác giả Nguyễn Trí
4
trên cơ sở tiếp cận, nghiên cứu những thành tựu hiện đại của việc dạy tiếng nói
chung, dạy Tập làm văn nói riêng của các nước trong khu vực và trên thế giới đã
khẳng định “dạy tập làm văn nói và dạy tập làm văn viết trong GT và để GT là
qua hệ thống ngôn ngữ và hình tượng văn học. Về giao tiếp sư phạm, tác giả khẳng
định dạy học TPVC phải tổ chức các hoạt động trao đổi, bàn luận, đánh giá... trong
một quy trình dạy và học chặt chẽ với sự tham gia của GV (người dạy) và HS
(người học) để việc tiếp nhận văn học trở nên đa chiều và sâu sắc hơn. Giao tiếp sư
phạm có thể được tổ chức dưới nhiều hình thức: giữa GV và cá nhân HS, giữa GV
và nhóm HS, giữa GV và tập thể lớp. Điều này giúp HS biết ứng dụng các kiến thức
văn học, kiến thức ngôn ngữ vào đời sống, giao tiếp văn hóa, sử dụng văn học như
một phương tiện giao tiếp. Trên cơ sở đó, luận án nghiên cứu một cách khá hệ
thống từ quan điểm, nguyên tắc đến các bước thực hiện bài học TPVC theo hướng
giao tiếp. Tác giả Nguyễn Viết Chữ trong bài “Đối thoại trong dạy học Văn” cũng
đề cập đến vai trò quan trọng của việc dạy học Văn theo hướng giao tiếp, đối thoại.
Tác giả khẳng định trong dạy học TPVC, thông qua ngôn ngữ, GV hướng dẫn HS
tiếp nhận tác phẩm bằng việc tổ chức các quan hệ đối thoại giữa HS và thế giới
nghệ thuật trong tác phẩm, với các nhân vật, các sự kiện, tình tiết trong tác phẩm,
với tác giả để từ đó HS có thể khám phá tác phẩm, để hiểu nội dung tác phẩm một
cách căn kẽ hơn. Hay nói cách khác, dạy học TPVC phải gắn liền với GT, đối thoại.
Trong công trình nghiên cứu “Ngôn ngữ với văn chương” tác giả Bùi Minh Toán
chỉ rõ “Giao tiếp chính là sự tiếp xúc giữa người với người, trong đó diễn ra quá
trình trao đổi nhận thức tư tưởng, tình cảm, bàn bạc hành động...” [63, 11], giao
tiếp có thể tiến hành bằng những phương tiện khác nhau, tuy nhiên ngôn ngữ vẫn là
phương tiện giao tiếp quan trọng nhất và hiệu quả nhất của con người. Tác giả phân
chia hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ thành hai phương diện: giao tiếp ngôn ngữ
đời thường và giao tiếp trong văn chương. Xuất phát từ lí thuyết về hoạt động giao
tiếp ngôn ngữ, tác giả đã khẳng định bản chất giao tiếp của văn chương, phân xuất
những đặc điểm của giao tiếp văn chương về phương diện nhân vật giao tiếp, về
ngữ cảnh giao tiếp, về đặc tính siêu ngôn ngữ... Từ đó tác giả Bùi Minh Toán trình
bày một số nguyên tắc chung và một số thao tác cần thiết trong việc cảm thụ và
phân tích nghệ thuật văn chương.
6
và nhận được nhiều sự quan tâm của những nhà nghiên cứu phương pháp dạy học
7
Văn và những GV đang hằng ngày trực tiếp đứng lớp. Họ luôn trăn trở, tìm tòi
nghiên cứu để tìm ra những hướng tiếp cận mới mẻ, thiết thực sao cho giờ học đạt
hiệu quả cao nhất. Ngoài tài liệu hướng dẫn giảng dạy, tài liệu học tập, sách tham
khảo phong phú thì các công trình nghiên cứu của các tác giả có uy tín như Phan
Trọng Luận, Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Thị Thanh Hương, Nguyễn Viết Chữ,
Nguyễn Ái Học… cũng cung cấp rất nhiều những thông tin, những cách thức tổ
chức thiết thực cho công việc dạy và học truyện ngắn Chí Phèo của GV và HS.
Bên cạnh đó, còn có nhiều công trình nghiên cứu của sinh viên, học viên về
phương pháp, biện pháp dạy học truyện ngắn Chí Phèo ở trường THPT hiện nay:
- Luận văn thạc sĩ (1985) “Đặc sắc nghệ thuật tác phẩm Chí Phèo và biện
pháp giáo dục thẩm mĩ cho học sinh lớp 12” của Đỗ Thị Bích Liên.
- Luận văn thạc sĩ (2004) “Xác định nội dung tri thức học sinh cần nắm vững
để hướng dẫn đọc hiểu trong quá trình dạy học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao ở
lớp 11 – Trung học phổ thông” của Nguyễn Thị Hồng Thắm.
- Luận văn thạc sĩ (2005) “Hướng dạy học truyện ngắn Chí Phèo của Nam
Cao ở nhà trường THPT theo đặc trưng loại thể” của Dương Văn Binh.
- Luận án tiến sĩ (2009) “Dạy học tác phẩm văn chương cho học sinh trung
học phổ thông theo hướng giao tiếp” của Phạm Văn Nam.
- Luận văn thạc sĩ (2010) “Kết hợp các hướng tiếp cận trong dạy học tác
phẩm Chí Phèo của Nam Cao” của Đàm Thu Nga.
- Luận văn thạc sĩ (2011) “Dạy học truyện ngắn Chí Phèo từ thi pháp truyện
ngắn của Nam Cao” của Lê Thị Kim Lăng.
- Luận văn thạc sĩ (2014) “Dạy học truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao theo
hướng cấu trúc hệ thống” của Bùi Thu Hà.
Ngoài ra còn nhiều các công trình khác nghiên cứu về truyện ngắn Chí Phèo
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để triển khai đề tài, tác giả luận văn xác định ba nhiệm vụ sau:
4.2.1. Nghiên cứu những tiền đề lí luận và thực tiễn làm cơ sở cho việc phát
triển NLGTTM cho HS trong dạy học truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao. Xây
dựng những định hướng cần thiết nhằm thực hiện tối ưu mục tiêu phát triển
NLGTTM cho HS.
9
4.2.2. Đề xuất một số biện pháp dạy học nhằm đạt mục tiêu phát triển
NLGTTM cho HS trong dạy học truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao.
4.2.3. Xây dựng mô hình thiết kế bài học dạy học truyện ngắn Chí Phèo của
Nam Cao nhằm phát triển năng lực giao tiếp thẩm mĩ cho HS.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1. Phương pháp phân tích, tổng hợp
Đây là phương pháp được sử dụng để nghiên cứu phương diện lí luận của đề
tài. Phương pháp này được thực hiện theo các bước: phân tích, tổng hợp, hệ thống
hoá các vấn đề trong những công trình nghiên cứu của các tác giả ở Việt Nam và
trên thế giới về giao tiếp, năng lực giao tiếp, NLGTTM trong dạy học TPVC.
5.2. Phương pháp điều tra, khảo sát
Đây là phương pháp được sử dụng để điều tra, khảo sát thực tiễn thông qua
các phiếu câu hỏi để nắm bắt được một số nội dung: thực trạng dạy học truyện ngắn
Chí Phèo của Nam Cao ở trường THPT, tri thức và kĩ năng GT ngôn ngữ, GT văn
học, GT thẩm mĩ của HS, năng lực của GV trong việc vận dụng những nội dung này
vào hoạt động dạy học truyện ngắn Chí Phèo.
5.3. Phương pháp thống kê, xử lí số liệu
Phương pháp này được chúng tôi xử lí số liệu sau khi thu thập phiếu điều tra
học tập, phiếu điều tra NLGTTM của HS, phiếu điều tra dạy học của GV. Phương
pháp thống kê giáo dục học được sử dụng để xử lí số liệu trong giai đoạn thực
Chí Phèo qua các biện pháp cụ thể, có tính khả thi.
7. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận và Thư mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn được triển khai qua 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn.
Chương 2: Biện pháp phát triển năng lực giao tiếp thẩm mĩ trong dạy học
truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
11
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Giao tiếp và giao tiếp thẩm mĩ
1.1.1.1. Lí thuyết giao tiếp
Trong bản chất xã hội của mình, con người luôn cần giao tiếp, đối thoại để
hiểu biết, để tâm hồn được gặp tâm hồn, để sống, để hòa hợp nhân quần. Không ai
có thể sống mà không có GT “bản thân sự tồn tại của con người (cả bên ngoài và
bên trong) là một cuộc giao tiếp sâu sắc nhất, tồn tại có nghĩa là giao tiếp, cái chết
tuyệt đối (không tồn tại) là không nghe thấy gì, không được thừa nhận, không được
nhắc tới” (Bakhtin). Do đó, “giao tiếp” mãi mãi là một vấn đề hấp dẫn, lôi cuốn sự
tham gia nghiên cứu của đông đảo các nhà khoa học trên thế giới thuộc các lĩnh vực
khác nhau như tâm lí học, giáo dục học, xã hội học, triết học, ngôn ngữ học. Cùng
với thời gian, những công trình nghiên cứu về những vấn đề cơ bản của GT như:
quan niệm GT, mô hình GT đến các nhân tố GT, quá trình GT... được nhận thức
ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn. Nhưng dù nhìn nhận ở những lĩnh vực nào với
những phương diện nghiên cứu rộng hẹp khác nhau thì các tác giả đều thống nhất ở
một điểm: GT là một quá trình trao đổi thông tin (hiểu theo nghĩa rộng) dưới sự chi
niệm về GT: GT là sự trao đổi thông tin (hiểu theo nghĩa rộng) giữa con người với
con người trong cộng đồng xã hội.
GT là hoạt động thường xuyên của con người. Con người không thể sống mà
không có GT. Chỉ trong GT và bằng GT, con người mới càng ngày càng trưởng
thành hơn. Để thực hiện GT, con người có thể sử dụng nhiều phương tiện khác nhau
nhưng ngôn ngữ vẫn là phương tiện GT cơ bản nhất và chiếm nhiều ưu thế nhất của
con người và xã hội loài người. Điều đó được khẳng định khi xét về mặt thời gian
lịch sử, về không gian hay phạm vi sử dụng, nhất là hiệu quả của nó về mặt nhận
thức, tư duy và giao tiếp. Do đó, khả năng ứng dụng của GT ngôn ngữ vào lĩnh vực
dạy học đã và đang là vấn đề hấp dẫn được các nhà nghiên cứu quan tâm. Ở đây GT
ngôn ngữ được hiểu “là hoạt động trao đổi thông tin của con người trong xã hội,
13
được tiến hành chủ yếu bằng phương tiện ngôn ngữ (dạng nói hoặc dạng viết),
nhằm thực hiện mục đích về nhận thức tư tưởng, tình cảm, bàn bạc hành động...”.
GT bằng ngôn ngữ bao gồm các nhân tố: Nhân vật GT (người phát tin, người
nhận tin), nội dung GT, mục đích GT, ngữ cảnh GT, phương tiện GT, kênh GT...
Đây là những nhân tố bắt buộc để tạo nên một hoạt động GT ngôn ngữ. Chúng có
mối quan hệ hữu cơ với nhau và luôn chi phối, chế định các yếu tố ngôn ngữ trong
hoạt động GT, đồng thời cũng để lại dấu ấn trong sản phẩm GT (diễn ngôn). Ta có
thể hình dung khái quát về hoạt động GT, nhân tố GT qua sơ đồ sau:
Kênh GT
Người phát
thông tin
Nội
vật, hiện tượng vừa có thể biểu hiện cả các sắc thái tình cảm (yêu, ghét, hờn, giận...)
của chủ thể đối với sự vật, hiện tượng mà nó biểu hiện. Là một hệ thống tín hiệu có
tính xã hội cao, ngôn ngữ không chỉ là phương tiện tư duy và GT của những con
người trong cùng một thời đại mà còn ở các thời đại, lứa tuổi và các nền văn hóa
khác nhau. Đường kênh là môi trường để truyền đạt và tri giác văn bản. Văn bản
(hay diễn ngôn, thông điệp) là sản phẩm được tạo ra trong GT, vừa là phương tiện
GT, qua đó người phát thể hiện nội dung GT, còn người nhận lĩnh hội nội dung GT.
Thông điệp trong GT có thể ở dạng nói (thường gọi là diễn ngôn) hoặc dạng viết
(thường gọi là văn bản). Ngữ cảnh GT là bối cảnh diễn ra hoạt động GT, bao gồm:
ngữ cảnh tình huống (ngữ cảnh hẹp) và ngữ cảnh văn hóa (ngữ cảnh rộng). Nó luôn
luôn chi phối nội dung, hình thức và cách thức GT. Trong hoạt động GT, luôn có
mối tương quan giữa người nói và người nghe với đối tượng được đề cập tới, giữa
văn bản với đường kênh, giữa văn bản với ngôn ngữ...
Hoạt động GT bằng ngôn ngữ hoàn chỉnh gồm hai quá trình, mỗi nhân vật
GT thực hiện một quá trình: người phát thực hiện quá trình phát tin (hay quá trình
kí mã, tạo lập văn bản, phát thông điệp). Còn người nhận thực hiện quá trình tiếp
nhận (đọc, nghe và lĩnh hội hay giải mã thông điệp, văn bản hoặc diễn ngôn). Như
thế một hoạt động GT ngôn ngữ để đạt được mục đích và hiệu quả cần bao gồm hai
quá trình tương tác: phát (tạo lập) và nhận (tiếp nhận). Hai quá trình này cần được
tiến hành theo cùng một mã ngôn ngữ, cùng một đường kênh GT. Có thể thể hiện
hoạt động GT bằng ngôn ngữ với các nhân tố và các quá trình GT trong sơ đồ sau:
Ngữ cảnh
Ngôn ngữ
NGƯỜI PHÁT
VĂN BẢN
phát tin
(mã hóa, tạo lập)
tiện chuyển tải thông điệp giữa người phát (nhà văn) và người nhận (độc giả).
Người nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm để chuyển tải những nhận thức tư tưởng, tình
cảm của bản thân và người đọc nhờ tác phẩm đồng điệu, tri âm cùng tác giả. Giữa
nhà văn và bạn đọc khi ấy là những cuộc GT, đối thoại thầm lặng thông qua tác
phẩm gọi là GTVH. Xét về bản chất, GTVH là một hoạt động GT bằng ngôn ngữ
diễn ra trong lĩnh vực văn chương. Bản chất này được lí giải thông qua quá trình
sáng tạo và tiếp nhận TPVC.
Sáng tác văn học là một nhu cầu GT, là hành động GT với đời sống, với mọi
người và với chính bản thân chủ thể sáng tạo.
Trong vô vàn mối quan hệ của con người với hiện thực, tác động của thế giới
bên ngoài thường để lại những dấu ấn về xúc cảm, suy nghĩ và nhận thức trong đời
sống tâm hồn của con người. Những dấu ấn ấy đôi khi đặc biệt sâu sắc, mạnh mẽ và
16
lâu bền. Nó tạo nên những khát khao và mơ ước, nghĩ suy và dằn vặt, hạnh phúc và
khổ đau. Những trải nghiệm tâm tư ấy khi dồn nén, chất chứa đến một mức độ nào
đấy cần được bộc lộ. Khi buồn thì khóc, khi vui thì cười, đó là một trạng thái mang
bản chất tự nhiên của con người.
Như những người bình thường khác, nghệ sĩ cũng có nhu cầu giải thoát
nội tâm để bộc lộ những ấn tượng, những xúc cảm về thế giới. Do bản chất nhạy
cảm, dễ rung động, kho tích lũy về ấn tượng của người nghệ sĩ thường rất phong
phú, sâu nặng và thường gắn với những xúc cảm mãnh liệt. Những ấn tượng xúc cảm này nhiều khi sâu nặng đến mức trở thành “những vết khắc trong tim”
(Pauxtốpxki), thành “nỗi niềm ùn ùn giữa ngực, rạo rực tâm hồn” (Huy Cận). Nó
đòi hỏi phải được bộc lộ, được “giải phóng tỏa cảm xúc” (Phơrớt), “giải phóng
nội tâm” (Arnauđốp). Và sáng tạo nghệ thuật lúc này trở nên một nhu cầu mãnh
liệt, là một phương tiện mạnh mẽ để người nghệ sĩ giải thoát và bộc lộ những
xúc cảm bị dồn nén của mình với cuộc đời. Nói như Nguyễn Công Hoan: “ nếu
đánh trận là đánh vào đồn thì viết truyện là đánh vào tình cảm người đọc.. .”.
trong sự tương tác với nhau. Có sáng tác văn học thì có tiếp nhận văn học, cũng như
có sản xuất thì có tiêu dùng. Trong đó, người đọc có một vai trò đặc biệt quan trọng,
chỉ cần nhắc đến nỗi mong ước cháy bỏng của Nguyễn Hành “Tiếng kêu não nùng
của con cuốc, cuối cùng chỉ lơ lửng treo trên cành mà thôi. Ta kêu bằng văn
chương chữ nghĩa, đến tập thơ này là tột cùng của sự đau khổ rồi... Ai là người
nghe thấy được, để tiếp nối tiếng kêu của tập thơ này mà kêu thêm lên” [37, 324] là
ta thấy rõ được điều đó. Người đọc không chỉ tham gia hoạt động lĩnh hội tác phẩm
sau khi nhà văn hoàn thành mà thật ra đã bắt đầu xuất hiện ngay từ khi nhà văn thai
nghén, và trong suốt quá trình hình thành tác phẩm. Sự sống của tác phẩm chỉ được
nuôi dưỡng, mở rộng và nâng cao khi có người đọc và sự tiếp nhận của người đọc:
“tác phẩm văn học như một con quay kì lạ, chỉ có thể xuất hiện trong sự vận động.
Muốn làm cho nó xuất hiện cần phải có một hoạt động cụ thể được gọi là sự đọc,
và tác phẩm văn học chỉ kéo dài chừng nào sự đọc còn có thể tiếp tục. Ngoài sự đọc
ra, nó chỉ còn là vệt đen trên từ giấy trắng” [63, 77].
18
Trong hoạt động GTVH, tiếp nhận văn học là một quá trình quen thuộc
nhưng cũng đầy bí ẩn. A. France coi đó là cuộc đối thoại tay đôi giữa tác giả và độc
giả. V. Huygo thì coi đó là một trận đấu mà kết quả khó mà biết trước được. Tác giả
Trần Đình Sử có lí khi cho rằng “Tiếp nhận văn học là một cuộc giao tiếp, đối thoại
tự do giữa người đọc và tác giả qua tác phẩm. Nó đòi hỏi người đọc tham gia bằng
tất cả trái tim, khối óc, hứng thú và nhân cách, tri thức và sức sáng tạo” [20, 325].
Như vậy, tiếp nhận TPVC là độc giả đi thực hiện một hoạt động giao lưu, đối thoại,
một hành vi khám phá, nhận thức về con người và cuộc sống qua lăng kính của nhà
văn. Trong quá trình tiếp nhận, thế giới nội tâm của độc giả sẽ gặp gỡ thế giới nội
tâm của nhà văn, từ đó người đọc tìm thấy ở tác phẩm một sự hòa đồng thẩm mĩ,
tạo một sự đồng nhất thẩm mĩ. Khi đó TPVC trở thành nơi bộc bạch của trí tuệ và
tâm hồn, tình cảm con người. Phần thì của tác giả, phần thì của nhân vật, lúc thì của
không còn nguyên vẹn. Nhưng đồng thời đằng sau những nhân hình, nhân tình méo
mó ấy là bản chất lương thiện bị khuất lấp chỉ cần gặp ngọn gió yêu thương sẽ bùng
lên dữ dội. Đó cũng là điều nhà văn Nam Cao luôn trăn trở, suy nghĩ, thể nghiệm,
khám phá và đề xuất đối thoại, GT với người đọc ngày hôm nay. TPVC khi đó trở
thành người bạn, người đồng hành trên đường đời chuyện trò, tâm sự đối thoại với
người đọc. Sự đối thoại đó là sự đối thoại bên trong tâm hồn người đọc, là sự tự đối
thoại giữa phần tốt và phần xấu, lương tri và tội lỗi, giữa lý trí sáng suốt, cao đẹp và
ham muốn tối tăm đê hèn trong mỗi cá nhân. TPVC luôn khơi gợi và kích thích
những cuộc GT, đối thoại, đấu tranh ấy. Xét về bản chất, TPVC là một sự GT, đối
thoại đa chiều và diễn ra liên tục.
Mặt khác, người đọc khi đến với TPVC cũng là đến với sự thể nghiệm, sự
nếm trải thẩm mĩ. Chính sự nếm trải ấy đem lại những rung động, những phản ứng
riêng ở mỗi thế hệ, mỗi cá nhân người đọc. Người đọc sẽ huy động toàn bộ những
vốn sống, vốn ngôn ngữ, vốn văn hóa... của mình để nhận thức lại một lần nữa
những vấn đề nhân sinh thẩm mĩ được đặt ra trong tác phẩm. Giữa bạn đọc với nhà
văn, với TPVC khi ấy luôn luôn diễn ra một cuộc đối thoại giữa quá khứ và hiện tại,
giữa hiểu theo cách này hay theo cách khác, giữa đúng và sai... Sự kiến giải của
người đọc không nhất thiết trùng khớp với ý tưởng sáng tác của tác giả, thậm chí
còn bổ sung, sáng tạo thêm những sắc thái mới, những ý nghĩa mới, làm cho giá trị
thẩm mĩ của tác phẩm giàu có hơn, phong phú hơn, lung linh tỏa sáng hơn. Sự
20
“vênh lệch” ấy bắt nguồn từ nguyên lí sáng tạo “ý tại ngôn ngoại”, ở cách nói “nửa
chừng” của nhà văn, dành phần cho người tiếp nhận nhưng cũng có phần nằm ngoài
ý tưởng sáng tác của tác giả. Lí luận văn học gọi đó là khả năng đồng sáng tạo của
người đọc. Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu trong bài thơ Hành trình của bầy ong viết:
Với đôi cánh đẫm nắng trời
Bầy ong bay đến trọn đời tìm hoa