Nghiên cứu đặc điểm mô bệnh học và tỷ lệ bộc lộ các thụ thể ER, PR trong ung thư biểu mô nội mạc tử cung - Pdf 42

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư biểu mô nội mạc tử cung (UTNMTC) là u biểu mô ác tính nguyên
phát từ biểu mô nội mạc tử cung (NMTC), thường biệt hóa dạng tuyến, nó có khả
năng xâm nhập lớp cơ và lan đến những nơi xa [94].
Theo ghi nhận của Cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế (IARC) năm 2002,
UTNMTC là ung thư thường gặp đứng hàng thứ bảy ở nữ trên thế giới, có 199.000
trường hợp mới mắc chiếm tỷ lệ 3,9% các bệnh ung thư mới mắc ở nữ, 50.000
trường hợp tử vong chiếm tỷ lệ 1,7%. Mặc dù tỷ lệ mới mắc UTNMTC ở các nước
đang phát triển thấp hơn ở các nước phát triển nhưng tỷ lệ số tử vong trên số mới
mắc cao hơn và tỷ lệ bệnh nhân sống thêm sau 5 năm thấp hơn so với khu vưc các
nước phát triển. Ở các nước đang phát triển tỷ lệ số tử vong trên mới mắc là 34%
và tỷ lệ sống sau 5 năm là 67%, ở các nước khu vực phát triển là 21% và tỷ lệ sống
sau 5 năm là 82% [72], [80].
Năm 2008 trên thế giới có khoảng 287.000 trường hợp mới mắc UTNMTC
(đứng thứ sáu trong các trường hợp ung thư ở nữ) và 74.005 trường hợp tử vong vì
căn bệnh này. Ở Việt Nam số trường hợp mới mắc và tử vong là 3.054 và 1.400
tương ứng tỷ lệ mới mắc và tử vong trên 100 000 dân là 7,2 và 3,3, so sánh với
năm 2002 là 2,5 và 0,9 [7], [37]. Rõ ràng, tỷ lệ UTNMTC trên thế giới và ở nước ta
ngày càng gia tăng, điều này phù hợp với tuổi thọ phụ nữ ngày càng cao, xu hướng
sử dụng hóc môn thay thế sau mãn kinh (MK) cũng như tỷ lệ tăng lên các yếu tố
nguy cơ có sự tương quan với tỷ lệ bệnh như: béo phì, tăng huyết áp, đái tháo
đường…và các phương pháp chẩn đoán bệnh cũng ngày càng tốt hơn.
Bệnh gặp chủ yếu ở phụ nữ sau MK (75%), đa số trong khoảng 50-59 tuổi, tuy
nhiên có khoảng 5% xuất hiện ở tuổi < 40. Triệu chứng lâm sàng hay gặp ra máu
bất thường âm đạo trên 80%, đây là dấu hiệu làm cho bệnh nhân lo lắng và nó cũng
giúp cho việc chẩn đoán bệnh thường ở giai đoạn sớm [7], [26].



Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Giải phẫu tử cung
Tử cung (TC) là một khối cơ trơn rỗng, nằm trong tiểu khung, sau bàng quang,
trước trực tràng, trên âm đạo, dưới các quai ruột non và đại tràng sigma. Ở phụ nữ
đã sinh đẻ TC dài khoảng 7-8cm, rộng 5cm, hai phần ba trên là thân TC, một phần
ba dưới là vùng cổ tử cung (CTC). Lòng TC dài 6-6,5cm (3,5cm ở CTC, 2,5cm ở
ống CTC và 0,5cm ở eo TC) và thành dày khoảng 1,2cm. Sau khi MK, TC teo nhỏ:
lớp cơ mỏng đi, chiều cao buồng TC ngắn hơn 5cm. TC được treo giữ trong tiểu
khung bởi các dây chằng và sự bám vào âm đạo của CTC, được cấp máu từ động
mạch TC và hệ thống tĩnh mạch đi kèm. Hệ bạch mạch từ lớp nội mạc, lớp cơ và
thanh mạc dẫn lưu bạch huyết đi về các hạch chậu trong, chậu ngoài và các hạch
cạnh động mạch chủ phía trên [2], [4], [84].
1.2. Mô học và sinh lý học nội mạc tử cung
1.2.1. Cấu tạo chung
NMTC gồm biểu mô và lớp đệm. Biểu mô phủ NMTC là biểu mô đơn, cấu tạo
bởi ba loại tế bào: tế bào trụ có lông và tế bào trụ không có lông là chủ yếu, ngoài ra
còn có tế bào trung gian. Lớp đệm là mô liên kết giàu nguyên bào sợi, ít sợi keo và
nhiều chất căn bản, chứa những tuyến được tạo ra do biểu mô phủ nội mạc lõm
xuống. Trong lớp đệm còn có những đám tế bào lympho đóng vai trò quan trọng
trong việc quết định những phản ứng miễn dịch có ảnh hưởng đến khả năng sinh đẻ.
Về chức năng NMTC chia làm hai lớp: lớp đáy ở sâu hơn, gần kề với lớp cơ chứa
thành phần đệm và phần đáy tuyến TC. Lớp chức năng chứa phần còn lại của thành
phần đệm và tuyến cũng như biểu mô bề mặt. Lớp chức năng thay đổi trong suốt
chu kỳ kinh nguyệt (CKKN) trái lại lớp đáy hầu như không thay đổi. Mạch máu
nuôi dưỡng NMTC gồm hai loại: động mạch nền và động mạch xoắn. Động mạch


4


5

nhân được đẩy lên trên, sau đó số lượng glycogen giảm xuống và chất tiết
glycoprotein được đổ vào trong lòng tuyến. Một đặc điểm quan trọng của pha này là
ống tuyến cuộn xoắn mạnh, lòng tuyến giãn rộng, NMTC có thể đạt bề dày tối đa
5mm, đó như là kết quả của sự tích lũy chất tiết và mô đệm phù. Nhân chia hiếm
trong pha chế tiết [4], [36], [73], [82].
 Giai đoạn hành kinh (the menstrual phase): trong giai đoạn này do giảm
sút đột ngột hóc môn buồng trứng, NMTC không còn được kích thích nữa, các tiểu
động mạch xoắn co lại làm thiếu máu dẫn đến hoại tử bong ra (rụng) gây chảy máu.
Tuy nhiên, sự bong ra của NMTC không xảy ra đồng loạt mà xảy ra từng vùng và
nơi nào bong xong thì tái tạo ngay. Nếu nồng độ estrogen được duy trì cao kéo dài
mà không có tác dụng của progesterone như trong vòng kinh không phóng noãn,
hoặc dùng estrogen kéo dài liên tục thì NMTC tiếp tục phát triển ngày càng dày,
không chế tiết mà cũng không bong ra, tao ra quá sản NMTC, là nguy cơ gây ra
UTNMTC [4], [73], [82].
1.2.4. Nội mạc tử cung trong thời kỳ tiền mãn kinh
Thời kỳ tiền MK kéo dài từ 2-8 năm trước MK và 1 năm sau kỳ kinh cuối.
thời kỳ này còn gọi là giai đoạn chuyển tiếp trước khi MK thực sự, thay đổi tùy
người và thường bắt đầu ở độ tuổi 40-50 tuổi với các dấu hiệu như: vòng kinh có
thể không phóng noãn, vòng kinh ngắn, rong kinh. Nguồn gốc những thay đổi
NMTC thời kỳ này là do các nang noãn kém nhạy cảm, kém đáp ứng với hóc môn
tuyến yên làm sự phóng noãn bị rối loạn, cuối cùng dẫn đến rối loạn chế tiết của
NMTC trong CKKN [23]. NMTC trong vòng kinh không phóng noãn thường dày,
không đều, đôi khi thiểu dưỡng hoặc phì đại gồ ghề nhưng không tạo thành nhú. Có
thể thấy nội mạc đang ở giai đoạn chế tiết mạnh do sự phóng noãn thất thường sau
thời gian dài không phóng noãn, tình trạng này là biểu hiện của sự kích thích do
hoàng thể hóa một nang trứng và sự chế tiết quá mức các hóc môn hướng sinh dục.
Trong giai đoạn này đôi khi xuất hiện các dị sản (DS) biểu mô, có sự hình thành các

tròn không phân tầng [30], [36].
 DS nhầy hay còn gọi là DS cổ trong CTC: gồm những tuyến trong NMTC
được lót bởi biểu mô trụ cao chế nhầy như tuyến cổ trong thành thục với nhân nhỏ
bắt màu đậm nằm sát màng đáy. Những nhóm tuyến này thường nằm ở vùng sát lớp


7

đáy NMTC và không bong ra theo CKKN. DS cổ trong CTC thường tìm thấy ở phụ
nữ sau MK có sử dụng liệu pháp hóc môn thay thế [30], [36].
 Một số DS ít gặp hơn như: DS nhú (Papillary Metaplasia), DS tế bào có lông
(Ciliated Cell Metaplasia) cần chẩn đoán phân biệt với các típ UTNMTC tương ứng
[30], [36].
1.2.7. Phản ứng Arias-Stella
Biến đổi tế bào dạng đinh mũ và tế bào sáng là phần hợp thành của phản ứng
Arias Stella. Những ổ nhân đa hình có thể nhận thấy, cần phân biệt với ung thư biểu
mô tế bào sáng [30].
1.3. Ung thư nội mạc tử cung
1.3.1. Dịch tễ
1.3.1.1. Tỷ lệ mắc và tử vong
Trên thế giới UTNMTC là một trong những ung thư phổ biến nhất ở các nước
công nghiệp phát triển và đặc biệt tỷ lệ mắc cao ở các nước Châu Âu, Mỹ, Canada,
New Zealand, Úc và thấp ở các nước Châu Phi, Nam Mỹ và Châu Á [30], [71].
Theo IARC (2008), tỷ lệ mới mắc và tử vong trên 100.000 dân của UTNMTC
trên thế giới là 8,1 và 2,0, ở các nước Châu Âu là 12,6 và 2,6, ở Bắc Mỹ là 16,5 và
2,4, ở Đông Nam Á là 5,7 và 2.0 và ở Việt Nam lần lược là 7,2 và 3,3 [37].
1.3.1.2. Tuổi mắc bệnh
UTNMTC phụ thuộc vào độ tuổi, thường gặp ở phụ nữ MK, chỉ có 25% trước
MK và 5% phụ nữ dưới 40 tuổi, tuổi trung bình 60 tuổi, tập trung cao ở lứa tuổi 5565 [14]. Tuổi càng cao thì tỷ lệ ung thư xâm nhập càng nhiều vì nó liên quan đến
tần suất mắc típ ung thư có độ mô học cao, loại này thường phát hiện ở giai đoạn

 Tiền sử gia đình: UTNMTC thường gặp ở phụ nữ sau MK, nhưng những
người trẻ tuổi bị UTNMTC thì thường hay liên quan đến tiền sử gia đình. Một số
nghiên cứu cho thấy UTNMTC ở người trẻ hay có tiền sử gia đình bị UTNMTC
hoặc ung thư đại trực tràng [30].
 Tiền sử dùng thuốc tránh thai: nghiên cứu bệnh chứng 187 ca bệnh với
1320 ca chứng, Creasman cho thấy việc sử dụng thuốc tránh thai kết hợp bằng
đường uống ít nhất là 12 tháng làm giảm nguy cơ UTNMTC 30% và sẽ tránh được
UTNMTC sau đó ít nhất 10 năm, đặc biệt có tác dụng phòng bệnh rõ nhất ở phụ nữ
vô sinh [26].


9

 Sử dụng liệu pháp hóc môn thay thế: Liệu pháp hóc môn thay thế và dùng
thuốc tránh thai là sử dụng estrogen ngoại sinh, nó được thừa nhận là có ảnh hưởng
gia tăng UTNMTC. Sự ảnh hưởng này xuất hiện ở mức thấp hơn nếu kết hợp
estrogen với progesterone [65]. nghiên cứu của Creasman cũng cho thấy phụ nữ sử
dụng liệu pháp estrogen đơn độc làm tăng nguy cơ UTNMTC lên 3-8 lần theo thời
gian và liều sử dụng. Tuy nhiên những người UTNMTC đã dùng liệu pháp hóc môn
thay thế thường có tiên lượng tốt hơn so với những người không sử dụng [26].
1.3.3. Cơ chế bệnh sinh
Cơ chế bệnh sinh của UTNMTC vẫn còn nhiều tranh luận, tuy nhiên nhìn vào
các yếu tố nguy cơ có liên quan đến bệnh, hầu hết các tác giả nghiên cứu NMTC
cho rằng UTNMTC là kết quả của một chuỗi tổn thương có liên quan đến tình trạng
cường Estrogen không đối kháng kéo dài (prolonged unopposed hyperoestrogenic
conditions) và xem các tổn thương quá sản NMTC là các tổn thương tiền ung thư
[9]. WHO (2003) phân loại UTNMTC theo cơ chế sinh bệnh học gồm típ phụ thuộc
estrogen (típ I) khoảng 80-85% và típ không phụ thuộc estrogen (típ II) khoảng 1015%. Típ I hầu hết có độ mô học thấp, xâm nhập tối thiểu, gồm típ dạng nội mạc
hoặc típ nhầy và thường liên quan đến quá sản NMTC, đặc biệt quá sản không điển
hình. Típ II phổ biến nhất có độ mô học cao, xâm nhập sâu và gồm típ thanh dịch, tế

bào: quá sản điển hình có 2 (1,6%) trong tổng số 122 bệnh nhân tiến triển ung thư
so với 11(23%) trong số 48 bệnh nhân quá sản không điển hình tiến triển ung thư
( P = 0,001). Khi xét theo phân loại: quá sản đơn giản điển hình và không điển hình,
quá sản phức tạp điển hình và không điển hình có kết quả lần lượt là 1(1%), 1 (3%),
1 (8%) và 10 (29%), sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê [54].
Hiện nay, trên thực tế người ta áp dụng cách phân loại cho các tổn thương quá
sản NMTC như sau [9].
Quá sản tuyến
o Đơn thuần
o Phức tạp

Quá sản không điển hình
o Mức độ nhẹ
o Mức độ vừa
o Mức độ nặng


11

1.3.4. Lâm sàng
1.3.4.1. Đặc điểm cơ năng:
 Ra máu âm đạo bất thường ở phụ nữ đã MK hoặc rong kinh, rong huyết ở
phụ nữ tiền MK hoặc còn kinh. Triệu chứng này hay gặp khoảng (80%) [8]. Theo
Đào Thị Hợp (1986), triệu chứng ra máu âm đạo bất thường gặp 95,9% [11], theo
Diêm Thị Thanh Thủy triệu chứng này chiếm 96,82% [15].
 Chảy dịch hôi âm đạo có thể gặp khoảng 30% các bệnh nhân. Chảy dịch
thường do nhiễm khuẩn, máu lẫn chất hoại tử tạo mùi hôi. Tác giả Đào Thị Hợp gặp
triệu chứng này là 30,61% [11], Diêm Thị Thanh Thủy gặp 21,42% [15].
 Đau vùng hạ vị thường xuất hiện muộn khi khối u đã lan tràn hoặc xâm lấn
vào các bộ phận khác trong hố chậu, triệu chứng này có thể gặp khoảng 20,4% [11].

1.3.5.5. Tế bào học nội mạc tử cung
Nhờ sự phát triển của các phương pháp thăm dò bên trong buồng TC như hút
nội mạc (Carry 1943), rửa nội mạc ( Gravllee 1964), chải nội mạc… phương pháp
chẩn đoán tế bào học NMTC ngày càng có độ tin cậy cao hơn. Theo Nguyen và CS,
độ đặc hiệu của tế bào chải NMTC từ 81-100%, độ chính xác 93% . Theo Tajima và
CS: Tỷ lệ dương tính giả 8,7%, giá trị dương tính 85,7% và độ chính xác 70% [47].
Tuy nhiên xét nghiệm này có âm tính giả cao (6-25%), ngoài ra chẩn đoán phân biệt
giữa UTNMTC biệt hóa cao với quá sản không điển hình rất khó khăn trên phiên đồ
tế bào [5].


13

1.3.5.6. Sinh thiết nội mạc tử cung
Sinh thiết NMTC là yêu cầu bắt buộc trong chẩn đoán UTNMTC. Người ta
dùng ống hút Novak hoặc thìa nhỏ đưa vào buồng tử cung hút, nạo một mảnh
NMTC để làm xét nghiệm MBH. Có hai lợi ích chính trong chẩn đoán MBH mảnh
sinh thiết NMTC là: thứ nhất, tổn thương là lành tính hay ác tính? Thứ hai, nếu
mảnh sinh thiết là ác tính thì độ mô học là gì, típ MBH và ung thư nguyên phát ở
NMTC hay của CTC [62].
1.3.5.7. Soi buồng tử cung
Soi buồng TC cho phép nhìn thấy tổn thương, xác định mức độ lan rộng bề
mặt và định hướng cho sinh thiết đúng vị trí tổn thương để chẩn đoán MBH [14].
1.3.5.8. Chất chỉ điểm sinh học
Các chất chỉ điểm như CA-125, TAG-72, CA 15-3, LSA… có thể tăng trong
UTNMTC. Tuy nhiên, các chất chỉ điểm này thường chỉ tăng trong giai đoạn IV của
bệnh hoặc khi ung thư tái phát, hầu như không tăng trong giai đoạn sớm. Do đó, xét
nghiệm này chỉ có giá trị tiên lượng và theo dõi mức độ tiến triển của bệnh hoặc
theo dõi sau điều trị [26].
1.3.6. Chẩn đoán mô bệnh học

theo FIGO (2008) và WHO (2003) có ba độ mô học sau:
 Độ 1 (G1) ( biệt hóa cao): < 5% các tế bào u sắp xếp thành đám đặc.
 Độ 2 (G2) (biệt hóa vừa): 6 – 50% các tế bào u sắp xếp thành đám đặc.
 Độ 3 (G3) (kém biệt hóa): > 50% các tế bào u sắp xếp thành đám đặc.
(phần biệt hóa vảy hoặc dạng phôi dâu không xếp vào vùng đặc để phân độ mô học.
độ mô học tăng lên một độ khi nhân không điển hình được xác định là độ 3).
 Trong UTBM tuyến thanh dịch, tế bào sáng, tế bào vảy thì độ mô học được
xem xét dựa vào độ của nhân [58].


15

 Độ ác tính của nhân được xác định bởi: Sự thay đổi kích thước, hình dạng,
sự phân bố chất nhiễm sắc và kích thước hạt nhân [30], [35], [62].
 Độ 1: nhân có hình oval hoặc thon dài, chất nhiễm sắc phân tán đều. hạt
nhân nhỏ, ít nhân chia.
 Độ 3: nhân lớn rõ và đa hình thái, chất nhiễm sắc không đều thô và hạt
nhân rõ bắt màu toan, nhiều nhân chia.
 Độ 2: nhân có đặc điểm giữa độ 1 và độ 3.
(Nhân chia hoạt động và nhân chia bất thường gia tăng theo độ nhân)
 Độ ác tính của u theo tác giả Alkushi và CS [17], [30].
Năm 2005, tác giả Alkushi và CS đề nghị hệ thống phân loại mới chia độ ác
tính UTNMTC thành độ thấp (Low grade) và độ cao (high grade) dựa vào các tiêu
chuẩn sau: 1) hình dạng nhú hoặc đám đặc là chủ yếu. 2) chỉ số nhân chia ≥ 6 trên
10 vi trường có độ phóng đại lớn. 3) nhân không điển hình rõ rệt.
 Độ thấp: nhiều nhất là có một trong ba tiêu chuẩn trên.
 Độ cao: ít nhất có hai trong ba tiêu chuẩn trên.
1.3.6.3. Đặc điểm vi thể các típ MBH của UTNMTC theo WHO 2003
 UTBM tuyến dạng NMTC
Đây là UTBM tuyến nguyên phát NMTC chứa tuyến gợi lại tuyến NMTC

tuyến. Cả thành phần tuyến và vảy ở độ2 hoặc độ3 có nhân không điển hình, tỷ lệ
nhân trên bào tương tăng, số lượng nhân chia tăng. UTBM tuyến NMTC biến thế
biệt hóa vảy ít khi thấy lan rộng đến vòi trứng, hay xâm nhập sâu đến thanh mạc,
màng bụng[35].
 Biến thể tuyến nhung mao: biến thể này chiếm khoảng 15% - 30% các
UTBM tuyến dạng NMTC, có đặc điểm dạng cấu trúc nhú hình lá mảnh được bao
phủ bởi tế bào biểu mô trụ phân tầng với nhân hình oval không điển hình mức độ
nhẹ đến vừa, thỉnh thoảng có thể thấy nhân không điển hình độ cao. Tỷ lệ nhân chia
hoạt động thay đổi, nhân chia không điển hình hiếm. U thường không xâm nhập
sâu. UTBM dạng tuyến nhung mao xâm nhập cơ có tỷ lệ xâm nhập mạch và hạch
lympho cao hơn UTBM dạng nội mạc nói chung. Dựa vào đặc điểm hình thái của


17

nhú và tế bào để phân biệt giữa UTBM tuyến nhung mao và UTBM tuyến thanh
dịch [24], [35], [70].
 Biến thể chế tiết: đây là biến thể hiếm gặp của UTBM dạng NMTC, nó
chiếm khoảng 1%, được nhận biết bởi sự hiện diện của hốc sáng glycogen ở vùng
trên và/hoặc dưới nhân như là pha chế tiết sớm của NMTC. Tuy nhiên vùng rìa của
u thì không thấy tuyến biến đổi dạng chế tiết. Nhân tế bào không điển hình mức độ
nhẹ. Trong một số biến thể khác của UTBM tuyến dạng NMTC cũng có thể gặp đặc
điểm tế bào thể chế tiết nhưng rất ít. Biến thể này thường là độ1, phân biệt với
UTBM tế bào sáng có đặc điểm nhân độ cao và tiên lượng kém [35], [53], [58],
[81], [94].
 Biến thể tế bào lông: mặc dù tế bào lông thỉnh thoảng có thể gặp trong các
ung thư dạng nội mạc nhưng biến thể này được xác định chỉ khi tế bào lông lót phần
lớn tuyến ác tính. Trong biến thể này, tế bào u có lông với cấu trúc dạng sàng và /
hoặc đặc điểm cấu trúc chung của UTBM dạng NMTC [30], [73].
 UTBM tuyến nhầy

nhân, nhân khổng lồ, nhân quái, hay nhân chia múi, chất nhiễm sắc thô cũng như
các đám đặc và ổ hoại tử. Nhân chia hoạt động có mật độ cao và có nhiều nhân chia
bất thường. Thể cát có thể gặp 1/3 số các trường hợp [9], [35]. Theo một nghiên cứu
của Sherman và CS thể cát gặp 25%, u xâm nhập đến CTC 22% [78].
Theo nghiên cứu của Hendrickson và CS với 256 trường hợp điều trị
UTNMTC giai đoạn 1 thấy có 26 trường hợp UTBM tuyến thanh dịch chiếm 9%,
với đặc điểm tế bào có độ ác tính cao và sắp xếp dạng nhú, có 40% xâm nhập sâu
vào lớp cơ so với 12% các típ mô bệnh học khác [43].
 UTBM tuyến tế bào sáng
Tỷ lệ gặp UTBM tế bào sáng khoảng từ 1-6% trong số các trường hợp
UTNMTC. Hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy UTBM tế bào sáng gặp ở nhóm
tuổi lớn hơn UTBM tuyến dạng nội mạc. UTBM tế bào sáng có thể biểu hiện dưới
ống, nhú, ống nang hoặc thể đặc và hầu hết thường bao gồm hỗn hợp hai hoặc nhiều
thành phần trên . Thể đặc thường gồm những đám tế bào sáng trộn lẫn với tế bào ưa
axít. Ngược lại các thể nhú, ống tuyến, nang phần lớn bao gồm các tế bào hình đinh


19

mũ, rải rác có tế bào sáng và ưa toan. Thể cát thường thấy ở vùng có cấu trúc nhú.
Trục liên kết nhú thường có hyalin hóa. Bào tương tế nhuộm PAS dương tính. Đặc
điểm không điển hình về nhân gần như luôn luôn rõ ràng. Mật độ nhân chia hoạt
động cao và nhân chia bất thường nhiều. Cần chẩn đoán phân biệt với biến thể
UTBM tuyến chế tiết dạng nội mạc, UTBM thanh dịch [9], [30], [35].
UTBM tế bào sáng có tiên lượng kém như UTBM thanh dịch, hay xuất hiện ở
bệnh nhân có NMTC teo hoặc polyp [68]. Theo Kurman qua nghiên cứu 21 bệnh
nhân UTBM tuyến tế bào sáng có 15 (70%) u ở giai đoạn I, 5 trường hợp giai đoạn
II, 1 trường hợp giai đoạn IV [56].
 UTBM tuyến hỗn hợp
UTBM tuyến hỗn hợp bao gồm hỗn hợp của típ I ( UTBM tuyến dạng nội mạc

Các biến thể UTBM tuyến dạng NMTC (Endometrioid adenocarcinoma)

1.1

1.2

Ảnh (1.1): Biến thể biệt hóa vảy (squamous differentiation, H & E, ×200)
Ảnh (1.2): Biến thể chế tiết (Secretory adenocarcinoma, H & E, ×350)

1.3

1.4

Ảnh (1.3): Biến thể tuyến nhung mao (Villoglandular variant, H & E, ×100)
Ảnh (1.4): Biến thể tế bào có lông (Ciliated cell variant, H & E, ×300)


21

Các dạng UTNMTC không phải dạng NMTC

1.5

1.6

Ảnh (1.5): UTBM tuyến nhầy (Mucinous adenocarcinoma, H & E, ×300)
Ảnh (1.6): UTBM tuyến thanh dịch (Serous adenocarcinoma, H & E, ×300)

1.7



1.10
Ảnh (1.10): Nhân độ 2

1.11
Ảnh (1.11): Nhân độ 3

1.3.7.3. Xếp loại giai đoan TNM của hiệp hội quốc tế chống ung thư (UICC 1997)
 U nguyên phát (T: tumor)
 Tx: Không thể đánh giá được khối u nguyên phát.
 To: Không có bằng chứng của khối u nguyên phát.
 Tis: Ung thư biểu mô tại chỗ.
 T1: Khối u khu trú ở thân TC
 T1a: Khối u giới hạn ở NMTC (bề mặt).
 T1b: Xâm lấn dưới nửa lớp cơ TC.
 T1c: Xâm lấn quá nửa lớp cơ TC.
 T2: Khối u xâm lấn CTC nhưng chưa lan ra ngoài TC.
 T2a: Xâm nhập niêm mạc ống CTC
 T2b: Xâm nhập mô đệm ống CTC


23

 T3: Khối u lan rộng tại chỗ hoặc vùng
 T3a: Khối u lan ra thanh mạc hoặc phần phụ.
 T3b: Khối u lan xuống âm đạo.
 T4: Khối u xâm lấn niêm mạc bàng quang hoặc niêm mạc ruột.
 Hạch vùng (N)
 Nx: Hạch vùng không đánh giá được
 No: Chưa rõ di căn hạch vùng

tiên lượng quan trọng [27]. Kauppila nghiên cứu 115 trường hợp UTNMTC thấy
75% bệnh nhân có PR (+) đáp ứng với liệu pháp hóc môn và chỉ có 7% bệnh nhân
có PR (-) đáp ứng [49]. Guo và CS nghiên cứu 30 bệnh nhân UTNMTC thấy cả ER
(+) và PR (+) là 83,3% và tỷ lệ ER+, PR (+) ở UTBM tuyến dạng NMTC cao hơn so
với các loại MBH khác có ý nghĩa thống kê (p



XT

XT + HC ± NT

Không mổ được → XT →

Đáp ứng



PT + HC +NT

→ Không đáp ứng → ĐT theo từng cá thể.
GĐ IV, tái phát:



HC + NT ± XT ± PT

 Chỉ định điều trị nội tiết
 UTNMTC ở người trẻ dưới 40 tuổi, còn nhu cầu sinh đẻ và được phát
hiện sớm khi khối u chỉ khu trú ở NMTC.
 UTNMTC mà không phẫu thuật được.
 Phối hợp với PT và XT để điều trị bổ trợ thêm và cho các ung thư di căn
nhiều nơi.
 UTBM tuyến dạng NMTC độ 1 và có ER (+), PR (+).
1.3.10. Các yếu tố tiên lượng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status