TIỂU LUẬN CUỘC đấu TRANH TRÊN LĨNH vực tư TƯỞNG lý LUẬN TRONG tác PHẨM bàn về cái gọi là THỊ TRƯỜNG của lê NIN - Pdf 42

1

CUỘC ĐẤU TRANH TƯ TƯỞNG LÝ LUẬN TRONG TÁC PHẨM
“ BÀN VỀ CÁI GỌI LÀ VẤN ĐỀ THỊ TRƯỜNG” CỦA LÊ-NIN
Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm.
V.I.Lênin- nhà lý luận thiên tài, nhà lãnh đạo kiệt xuất của giai cấp vô
sản và nhân dân lao động toàn thế giới, Người tiếp tục bảo vệ và phát triển
chủ nghĩa Mác trong thời đại mới. Tên tuổi của Lê-nin gắn liền với sự mở
đầu của một giai đoạn mới trong phong trào công nhân Nga. Trong các
tác phẩm của mình viết trong những năm 1893 - 1894, Lê-nin đã phân
tích một cách sâu sắc, theo quan điểm mác-xít chế độ kinh tế - xã hội của
đất nước vào cuối thế kỷ XIX, xác định những nhiệm vụ cơ bản của cuộc
đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và đảng dân chủ - xã hội
Nga. Lê-nin đề ra cho những người dân chủ - xã hội Nga nhiệm vụ phải
thành lập một đảng mác-xít. Có thái độ sáng tạo đối với lý luận cách
mạng của chủ nghĩa Mác. Lê-nin là người mác-xít đầu tiên đã nghiên
cứu vấn đề về những đặc điểm của cuộc cách mạng dân chủ tư sản sắp
tới ở Nga về những động lực của cuộc cách mạng đó và về sự chuyển biến
của nó thành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Tác phẩm "Bàn về cái gọi là vấn đề thị trường", mà V.I. Lê-nin đã viết vào
mùa thu năm 1893, là một trong những tác phẩm đầu tay trong thời kỳ đầu hoạt động
cách mạng của Lê-nin. Tác phẩm ra đời trong giai đoạn những năm cuối thế kỷ XIX,
thời kỳ công nghiệp ở các thành phố lớn, ở các nướcc tư bản chủ nghĩa (nhất là ở tây
Âu) phát triển mạnh, và bắt đầu xâm nhập vào nước Nga. Lúc này, chủ nghĩa tư bản
thực sự phát triển. Nước Nga được xếp vào một trong năm nước công nghiệp lớn của
châu Âu, do đó, đội ngũ giai cấp công nhân dã phát triển mạnh và phong trào cách
mạng của Nga có sự lớn mạnh. Chủ nghĩa Mác bắt đầu du nhập vào nước Nga.


2
Cũng chính thời kỳ này, cuộc đấu tranh giữa đảng Xã hội dân chủ (mà

tất nhiên đòi hỏi phải có thị trường ngoài nước để thực hiện giá trị thặng dư,
rằng việc sản xuất ra tư liệu sản xuất không gắn liền với việc sản xuất ra vật
phẩm tiêu dùng. Lê-nin chỉ rõ rằng những quan điểm như thế thực chất không
có gì khác với các quan điểm của phái dân tuý về vấn đề thị trường, và Người
nhấn mạnh tư tưởng sau đây: cái mà những người mác-xít cần phải quan tâm
đến, không phải là thị trường cho giai cấp tư sản, mà là sự phát triển của cuộc
đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản.Trong tác
phẩm này, Lê-nin đã phát triển luận điểm của Mác nói về mối tương quan
giữa hai khu vực của nền sản xuất xã hội, Người xác định sự phát triển ưu tiên
của khu vực I, coi đó là quy luật kinh tế của tái sản xuất mở rộng. Trên cơ sở
công thức tái sản xuất của Mác, Lê-nin đã trình bày những thay đổi trong tái
sản xuất mở rộng, do sự tiến bộ kỹ thuật đưa lại.
Nội dung của tác phẩm
Tác phẩm “Bàn về cái gọi là vấn đề thị trường” là một trong bốn tác
phẩm được in trong V.I.Lênin toàn tập. Tập I.Nxb Tiến bộ, M. 1974, từ trang
85 đến trang 146, nhưng tựu trung lại gồm những vấn đề cơ bản sau đây:
1.

V.I Lê-nin khái quát lập luận của phái dân tuý nhằm chống lại người
Mác xít Nga.

2.

Lê-nin trình bày khái quát học thuyết tái sản xuất tư bản xã hội của
Mác, các điều kiện của tái sản xuất.

3.

Phê phán một số mâu thuẫn trong lập luận mà phái dân tuý mắc phải.
chỉ ra quy luật của nó trên phát triển sản xuất tư liệu sản xuất.

khả năng phát triển chủ nghĩa tư bản ở Nga. Phái dân tuý cho rằng chủ nghĩa tư
bản liệu có thể phát triển được ở Nga không? và liệu có thể phát triển hoàn toàn
được không khi quần chúng nhân dân bị nghèo khổ và ngày càng nghèo khổ?.
Họ lập luận trên hai vấn đề:
Thứ nhất, Chủ nghĩa tư bản muốn phát triển được phải có thị trường
rộng lớn ở trong nước. Do không có thị trường trong nước nên chủ nghĩa tư
bản ở Nga không phát triển được.
Thứ hai, Nguyên nhân làm thị trường trong nước bị thu hẹp ở nước Nga
lúc đó do quần chúng nhân dân bị bần cùng hoá.
Từ đó, Lê-nin đã chỉ ra: Đó là những vấn đề mà người ta thường hay nêu
trên sách báo để chống lại những người mác-xít Nga; không có thị trường, đó
là một trong những lý lẽ chủ yếu viện ra để bác bỏ khả năng áp dụng lý luận
của Mác vào nước Nga. Bản thuyết trình "Vấn đề thị trường", được viết ra tựu
trung là để bác bỏ lý lẽ đó.


5
Sau khi trình bày tóm tắt học thuyết tái sản xuất tư bản chủ nghĩa của
chủ nghĩa Mác, làm cơ sở để phê phán quan điểm sai trái của thuyết trình
viên, Lê-nin rút ra kết luận về quy luật ưu tiên phát triển sản xuất và tái sản
xuất. Lê-nin cho rằng: nếu nghiên cứu sản xuất và tái sản xuất tư bản cá biệt,
chỉ cần phân tích các bộ phận cấu thành tư bản và của sản phẩm. Căn cứ vào
giá trị các bộ phận là (C + V + m). Nhưng khi nghiên cứu về tái sản xuất tư
bản chủ nghĩa, cần phân tích sản phẩm và cơ cấu vật chất của nó, vì cái bộ phận
sản phẩm gồm các yếu tố của tư bản thì không thể đem dùng vào việc cá nhân
được. Do đó cần phân chia nền sản xuất xã hội thành hai khu vực (khu vực I và
khu vực II). Từ đó Lê-nin trình bày tóm tắt sơ đồ tái sản xuất của Mác về tái sản
xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng. Trên cơ sở đó Người rút ra các nhận xét:
thuyết trình viên không trình bày thật chính xác và thật dứt khoát những kết luận
của mình, khi ông ta cho rằng trong khu vực sản xuất tư liệu sản xuất (khu vực

nghĩa tư bản và sơ đồ minh hoạ quan điểm đó hoàn toàn phù hợp với các quan
điểm thịnh hành của phái dân tuy về vấn đề ấy. Lê-nin cho rằng khó mà biểu
hiện một cách nổi bật hơn và rõ ràng hơn sơ đồ trên kia, tất cả sự phi lý và
trống rỗng của những quan điểm thịnh hành đó.
Nhận xét về sơ đồ mà phái dân tuý trình bày, Lê-nin đã nói: sơ đồ đó
luôn luôn nhìn chủ nghĩa tư bản nước Nga là một cái gì tách rời “chế độ nhân
dân”, đứng ngoài “chế độ nhân dân”…Nhìn vào sơ đố ấy, người ta hoàn toàn
không thể thấy được đâu là mối liên hệ giữa chủ nghĩa tư bản và nhân dân. Từ
đó, Người đặt ra những câu hỏi và đi đến kết luận: Quan điểm của phái dân
tuý chưa bao giờ giải đáp được những câu hỏi: Tại sao hàng hoá được chuyển
từ bên A đi, lại được tiêu thụ ở bên W? Vì nguyên gì mà kinh tế tự nhiên ở bên
W lại biến thành kinh tế hàng hoá? Họ không bao giờ giải thích xem chủ nghĩa
tư bản ra đời từ đâu và ra đời như thế nào. Không thể chỉ ra được: sản xuất hàng
hoá, khi bành trướng sang bên W, thì tạo nên ở đó những công nhân tự do. Lê-


7
nin chỉ ra: sơ đồ đó không giải thích được gì về hiện tượng xảy ra trong chế độ
tư bản ở Nga, do đó nó là vô dụng. Từ đó, Người đi đến kết luận về phái dân tuý:
“đó chẳng qua chỉ là cách hiểu “hết sức dễ dàng” về quá trình phát triển, “hết sức
dễ dàng” đến nỗi gọi đó là sự hoàn toàn không hiểu thì đúng hơn.”
Trên cơ sở đó, Lê-nin vạch ra những mâu thuẫn, những bất hợp lý,
những sai lầm trong lập luận của phái dân tuý mà thuyết trình viên trình bày.
Lê-nin đưa ra những quan điểm về kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường, và
kinh tế tư bản chủ nghĩa. Người chỉ ra: “Sản xuất hàng hoá chính là cách tổ
chức của kinh tế xã hội, trong đó sản phẩm đều do những người sản xuất cá
thể, riêng lẻ, sản xuất ra, mỗi người chuyên làm ra một thứ sản phẩm nhất
định, thành thử muốn thoả mãn các nhu cầu của xã hội thì cần phải có mua
bán sản phẩm (vì vậy, sản phẩm trở thành hàng hoá)”
Lê-nin cho rằng, sản xuất hàng hoá chỉ là cách tổ chức kinh tế xã hội,

nhau: người nào cũng cố bán đắt hơn, mà mua thật rẻ. Kết quả tất yếu của
việc đó là người mạnh thì mạnh thêm, người yếu thì suy sụp đi; một số ít thì
giàu có lên và quần chúng thì bị phá sản, khiến cho những người sản xuất độc
lập biến thành công nhân làm thuê, và số đông những doanh nghiệp nhỏ biến
thành số ít những xí nghiệp lớn.
Lê-nin diễn giải quá trình hình thành chủ nghĩa tư bản thông qua sơ đồ
6 thời kỳ, thể hiện các giai đoạn chuyển hoá của nền kinh tế tự nhiên thành
nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, trên thực tế xảy ra: mỗi một người đều sản xuất
riêng biệt, cá lẻ, biệt lập với các nhà sản xuất khác, mỗi người đều sản xuất
cho thị trường. Mối quan hệ như vậy giữa những ngừơi sản xuất riêng rẽ, sản
xuất cho thị trường chung, thì gọi là cạnh tranh. Người sản xuất khéo léo hơn,
tháo vát hơn và mạnh hơn, sẽ ngày càng mạnh lên nhờ những tháo vát đó, còn
người yếu ớt và vụng về thì bị những biến động đó đè bẹp. Một số ít trở nên


9
giàu có, còn quần chúng thì bị bần cùng hoá, đó là hậu quả không tránh khỏi
của quy luật cạnh tranh. Kết cục là những người sản xuất bị phá sản mất hết
độc lập về kinh tế của mình và trở thành công nhân làm thuê trong doanh
nghiệp đã mở rộng của đối thủ tốt số của họ. Những người sản xuất còn lại
làm thuê cho hai người này, và từ nay họ không còn lĩnh được toàn bộ sản
phẩm lao động của họ nữa, vì giá rtị thặng dư đã bị người chủ chiếm hữu mất.
Những người sản xuất đó đúng ra đã là công nhân làm thuê rồi, chứ không
còn là người chủ độc lập nữa, không còn mang ra thị trường một sản phẩm lao
động nào của họ nữa, vì sự phá sản đã tước hết của họ những tư liệu sản xuất
cần thiết để làm ra sản phẩm đó. Họ bắt buộc phải tìm những khoản kiếm thêm,
tức là mang sức lao động của mình ra thị trường bán, và lấy tiền bán được thứ
hàng hoá đó mua sản phẩm cần thiết cho mình. Trên cơ sở luận giải đó, Lê-nin
đã đưa ra những kết luận về thị trường:
Kết luận thứ nhất, bao gồm ba vấn đề:

trượng đó đi đôi với nhau; cả hai quá trình đó đều thúc đẩy thị trường mở rộng:
Người nông dân bị bần cùng hoá, trước kia sống bằng doanh nghiệp của mình,
thì ngày nay sống bằng đồng lương của mình, nghĩa là bằng việc bán sức lao
động của mình. Hiện nay, họ phải mua những vật phẩm cần thiết, mặt khác,
những tư liệu sản xuất người nông dân bị tước mất, đều tập trung trong tay một
số ít người và biến thành tư bản, và sản phẩm làm ra từ nay được đưa ra thị
trường.
Kết luận thứ ba, Lê-nin khẳng định ưu tiên phát triển khu vực sản xuất
ra tư liệu sản xuất. Người đưa ra một ví dụ và cho rằng: việc lao động bằng
máy móc thay thế lao động thủ công – nói chung là sự tiến bộ kỹ thuật trong
thời công nghiệp cơ khí, đòi hỏi phải phát triển mạnh ngành khai thác than và


11
sắt là những tư liệu sản xuất thật sự để chế tạo ra tư liệu sản xuất. Kĩ thuật
càng phát triển cao thì nó càng lấn át lao động thủ công của con người và đem
thay những máy móc ngày càng phức tạp để thay thế lao động thủ công: trong
toàn bộ nền sản xuất của đất nước, máy móc và những tư liệu cần thiết để chế
tạo ra máy móc ngày càng chiếm địa vị lớn hơn.
Về sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, khi phái dân tuý cho rằng: do
không có thị trường nên chủ nghĩa tư bản ở Nga không thể phát triển khắp nơi
được. Lê-nin đã phản bác bằng hình tượng người ốm. Người nói: Không biết
giải thích chủ nghĩa tư bản mà lại thích những điều không tưởng hơn là nghiên
cứu và làm sáng tỏ thực taị thì sẽ dẫn đến phủ nhận vai trò và sức mạnh chủ
nghĩa tư bản. Lê-nin chỉ ra cái mâu thuẫn nảy sinh trong quan niệm của phái
dân tuý khi họ nói: nếu không có thị trường thì chủ nghĩa tư bản không phát
triển được…và Lê-nin khẳng định một khi kinh tế xã hội đã dựa trên sự phân
công và trên hình thức hàng hoá của sản phẩm, thì tiến bộ kĩ thuật không thể
không dẫn tới chỗ làm cho chủ nghĩâ tư bản được tăng cường và mở rộng
thêm.

trường xuất hiện như một yêu cầu khách quan của nền kinh tế hàng hóa, việc
phát triển nền kinh tế thị trường đồng hành với nó là phát triển đồng bộ, tức là
phát triển đồng thời, từng bước các loại thị trường kèm theo như thị trường
vốn, hàng hóa dịch vụ … Kinh tế thị trường đem lại cho nền kinh tế một
luồng sinh khí mới, một con đường phát triển nhanh hơn, thuận lợi hơn. Nền
kinh tế thị trường giúp cho nền kinh tế vận hành và phát triển theo sự điều tiết
của thị trường, theo các quy luật của thị trường, như quy luật giá trị, quy luật
cung cầu, quy luật cạnh tranh … Bản thân nền kinh tế thị trường đã làm giảm
gánh nặng cho chính phủ. Chính phủ không cần quản lý mọi việc như trong nền
kinh tế kế hoạch hóa tập trung nữa, Nhà nước chỉ cần định hướng và quản lý cho
đúng đắn và hợp lý. Nói đến thị trường là nơi mà ở đó mọi người trao đổi, giao


13
lưu nhằm thoả mãn nhu cầu của mình và người khác, không phải bó hẹp, không
phải phụ thuộc, với nhiều mối quan hệ mua bán, bán mua phức tạp, phong phú.
Thực tiễn việc chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền
kinh tế thị trường ở nước ta trong thời gian qua cho thấy dù muốn hay không, một
khi đã chấp nhận nền kinh tế thị trường, hay nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị
trường, hay nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì điều cốt lõi
nhất vẫn là phải có thị trường. Một khi đã chấp nhận sự hiện hữu của thị trường
thì cần phải có đầy đủ các loại thị trường. Cuộc chuyển đổi sang nền kinh tế thị
trường của các nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô trước đây, dù
là áp dụng liệu pháp sốc như Balan, Nga, hay tiệm tiến như Hungari, Bungari thì
cũng vẫn là việc xây dựng một nền kinh tế thị trường có đầy đủ các loại thị trường
với đầy đủ các bộ phận cấu thành của nó. Công cuộc chuyển sang kinh tế thị
trường của Trung Quốc là tiệm tiến hơn, nhưng không né tránh việc xây dựng các
loại thị trường. Ở nước ta cũng vậy, chúng ta cần xây dựng đầy đủ các loại thị
trường để nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vận hành có hiệu
quả.

Vấn đề đặt ra là, chúng ta phát triển kinh tế thị trường, song phải có sự
định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường là sản phẩm
của nền văn minh nhân loại; là một nấc thang quan trọng trong sự phát triển đi
lên của xã hội loài người. Song chúng ta xây dựng nền kinh tế thị trường ở
một nước đang trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, do vậy, nền kinh tế
thị trường ở Việt Nam phải là kinh tế thi trường xã hội chủ nghĩa. Việc định
hướng xã hội chủ nghĩa cho nền kinh tế thị trường ở Việt Nam phải được tiến
hành, thường xuyên đồng bộ trên tất cả các mặt, trên tất cả các thị trường mà
ta đang xây dựng.
Đối với Nhà nước, trước hết cần thống nhất khung pháp lý cho mọi loại
hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Quá trình đổi mới đi liền với


15
việc ban hành các luật về các loại hình doanh nghiệp: luật doanh nghiệp, luật
đầu tư nước ngoài tại Việt Nam … song song với việc trên cần khẩn trương
ban hành luật mới tạo môi trường kinh doanh thông thoáng và có tính cạnh
tranh cao, xoá bỏ sự phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, tăng cầu trong nền kinh tế là hướng đặc
biệt quan trọng để phát triển kinh tế – xã hội nói chung và thị trường hàng hóa
– dịch vụ nói riêng. Hiện nay, mức thu nhập của người Việt Nam rất thấp, văn
hoá tiết kiệm vẫn còn đang thịnh hành trong xã hội nên việc tăng cầu nhanh là
chuyện không dễ dàng, cần phải tiến hành từng bước. Nhà nước cần có biện
pháp để kích cầu thông qua việc tăng chi ngân sách.
Chúng ta cần quan tâm đến việc thâm nhập thị trường thế giới, mạnh dạn
mở cửa thị trường trong nước, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa của
các doanh nghiệp. Việc xây dựng thông tin dự báo thị trường, đào tạo năng lực
cho cán bộ thương mai và ngoại giao ở nước ngoài, tổ chức nghiên cứu thị
trường nước ngoài để có căn cứ sản xuất trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu.
Việc kiểm tra chất lượng sản phẩm cũng là một yêu cầu quan trọng của

tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh. Mở rộng hoạt động nghiên cứu ở
các trường đại học, viện nghiên cứu và các kết quả lao động sáng tạo sẽ được
ký kết hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp, chuyển giao công
nghệ. Xác lập quyền sở hữu công nghiệp bằng hệ thống pháp luật hữu hiệu.
Quyền sở hữu công nghiệp là quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân đối với
sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp ...
Thị trường khoa học và công nghệ sẽ hình thành, phát triển khi pháp
luật thừa nhận quyền sở hữu công nghiệp và coi sản phẩm khoa học công
nghệ là hàng hóa và được trao đổi trên thị trường.


17
Xây dựng và đưa các loại thị trường vào hoạt động, không ngừng phát
huy nội lực, tranh thủ ngoại lực cho tăng trưởng và phát triển kinh tế nhằm
cố gắng giải quyết tình trạng đói nghèo, ngày càng nâng cao mức sống
chung cho toàn dân, nâng cao thu nhập quốc dân, vượt khỏi tình trạng là một
nước có nền kinh tế chậm phát triển. Mặt khác tập trung vào rút ngắn
khoảng cách của sự phân hoá giầu nghèo trong xã hội, chính sách xoá đói
giảm nghèo, hỗ trợ cho những nhóm có ưu thế thấp hơn như là các cộng
đồng nông thôn, miền núi... tất cả đều là những nỗ lực nhằm giải quyết công
bằng xã hội đi đôi với những chiến lược tăng trưởng kinh tế vì mục tiêu
chung cho sự phát triển vững bền. song cần phải hạn chế và khắc phục
những mặt trái do thị trường và cơ chế thị trường sinh ra. Phát triển và
khuyến khích tư nhân làm giầu theo pháp luật. Ngăn chặn những tiêu cực
như: cạnh tranh không lành mạnh, chạy theo lợi nhuận, vì đồng tiền mà trà
đạp lên nhân phẩm, đạo đức, lên giá trị văn hoá truyền thống, thuần phong
mỹ tục dân tộc. Có chính sách để hạn chế và giảm bớt sự phân hoá giàu
nghèo, thực hiện công bằng xã hội… Phấn đấu vì mục tiêu: “Dân giầu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status