Nghien Cứu Ảnh Hưởng Của Một Số Biện Pháp Kỹ Thuật Canh Tác Đến Năng Xuất Và Chất Lượng Giống Lúa J02 Trong Vụ Xuân Năm 2013 Tại Huyện Hoàng Su Phì - Pdf 42

Header Page 1 of 126.

1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÈNG SEO SENG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA MỘT SỐ
BIỆN PHÁP KỸ THUẬT CANH TÁC ĐẾN NĂNG SUẤT
VÀ CHẤT LƢỢNG CỦA GIỐNG LÚA J02 TRONG
VỤ XUÂN NĂM 2013 TẠI HUYỆN HOÀNG SU PHÌ
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60 62 01 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Đặng Quý Nhân

THÁI NGUYÊN - 2013

Số hóa bởi trung tâm học liệu
Footer Page 1 of 126.

/>

Header Page 2 of 126.

i

LỜI CAM ĐOAN

trong Khoa Nông học cùng các thầy cô giáo trong Ban Giám hiệu Trường
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi hoàn thành nghiên cứu đề
tài và hoàn thành luận văn của mình.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã động
viên khích lệ, giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 11 tháng 9 năm 2013
Tác giả luận văn

Lèng Seo Seng

Số hóa bởi trung tâm học liệu
Footer Page 3 of 126.

/>

Header Page 4 of 126.

iii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................. ii
MỤC LỤC ....................................................................................................... iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT......................................................................... vi
DANH MỤC BẢNG ...................................................................................... vii
DANH MỤC HÌNH ........................................................................................ ix
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Đặt vấn đề...................................................................................................... 1
2. Mục tiêu của đề tài ........................................................................................ 2

2.2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu ..................................................... 25
2.2.1. Nội dung nghiên cứu ............................................................................. 25
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu....................................................................... 25
2.2.2.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm........................................................... 25
2.2.2.2. Quy trình kỹ thuật .............................................................................. 26
2.2.2.3. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi ................................................ 27
2.3.3. Phương pháp xử lý số liệu..................................................................... 30
Chƣơng 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ................................................... 31
3.1. Điều kiện thời tiết khí hậu ........................................................................ 31
3.2. Ảnh hưởng của mật độ cấy đến sinh trưởng và năng suất của giống lúa
J02, vụ xuân năm 2013 tại huyện Hoàng Su Phì ............................................ 33
3.2.1. Ảnh hưởng của mật độ cấy đến thời gian sinh trưởng của giống lúa J02,
vụ xuân 2013 ................................................................................................... 33
3.2.2. Ảnh hưởng của mật độ cấy đến khả năng đẻ nhánh của giống lúa J02,
vụ xuân 2013 ................................................................................................... 34
3.2.3. Ảnh hưởng của mật độ đến chiều cao cây và khả năng chống đổ của
giống lúa J02, vụ xuân 2013 ........................................................................... 38
3.2.3.1. Động thái tăng trưởng chiều cao cây ................................................. 38
3.2.3.2. Chiều cao cây cuối cùng và khả năng chống đổ ................................ 40
3.2.4. Ảnh hưởng của mật độ đến tình hình sâu bệnh hại giống lúa J02, vụ
xuân 2013 ........................................................................................................ 41
3.2.5. Ảnh hưởng của mật độ cấy đến yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
của giống lúa J02, vụ xuân 2013 tại huyện Hoàng Su Phì.............................. 43
3.2.6. Hiệu quả kinh tế .................................................................................... 46
3.3. Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến sinh trưởng và năng suất của
giống lúa J02, vụ xuân 2013 tại huyện Hoàng Su Phì .................................... 48

Số hóa bởi trung tâm học liệu
Footer Page 5 of 126.


PHỤ LỤC ....................................................................................................... 68

Số hóa bởi trung tâm học liệu
Footer Page 6 of 126.

/>

Header Page 7 of 126.

vi

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CT

: Công thức

NSTT

: Năng suất thực thu

KL

: Khối lượng

ĐBSCL

: Đồng bằng Sông Cửu Long

NL


Bảng 3.3. Ảnh hưởng của mật độ đến động thái đẻ nhánh của giống lúa J02,
vụ xuân 2013 tại huyện Hoàng Su Phì............................................ 35
Bảng 3.4. Ảnh hưởng của mật độ cấy đến khả năng đẻ nhánh của giống J02,
vụ xuân 2013 tại huyện Hoàng Su Phì............................................ 37
Bảng 3.5. Ảnh hưởng của mật độ đến động thái tăng trưởng chiều cao cây của
giống lúa J02, vụ xuân 2013 tại huyện Hoàng Su Phì .................... 39
Bảng 3.6. Ảnh hưởng của mật độ cấy đến chiều cao cây cuối cùng và khả
năng chống đổ của giống lúa J02, vụ xuân 2013 tại huyện Hoàng Su
Phì ................................................................................................... 41
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của mật độ cấy đến tình hình sâu bệnh hại của giống
lúa J02, vụ xuân 2013 tại huyện Hoàng Su Phì .............................. 42
Bảng 3.8. Ảnh hưởng của mật độ đến các yếu tố cấu thành và năng suất năng
suất của giống lúa J02, vụ xuân 2013 tại huyện Hoàng Su Phì ...... 44
Bảng 3.9. Ảnh hưởng của mật độ cấy đến hiệu quả kinh tế của giống lúa J02,
vụ xuân 2013 tại huyện Hoàng Su Phì............................................ 47

Số hóa bởi trung tâm học liệu
Footer Page 8 of 126.

/>

Header Page 9 of 126.

viii

Bảng 3.10. Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến các giai đoạn sinh
trưởng, phát triển của giống lúa J02, vụ xuân 2013 tại huyện Hoàng
Su Phì .............................................................................................. 48
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến động thái đẻ nhánh
của giống lúa J02, vụ xuân 2013 tại huyện Hoàng Su Phì ............. 49

Hình 3.4. Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến động thái đẻ nhánh của
giống lúa J02, vụ xuân 2013 tại huyện Hoàng Su Phì .................... 50
Hình 3.5. Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến động thái tăng trưởng
chiều cao cây của giống lúa J02, vụ xuân 2013 tại Hoàng Su Phì . 53

Số hóa bởi trung tâm học liệu
Footer Page 10 of 126.

/>

Header Page 11 of 126.

1

MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Lúa là cây lương thực chiếm vị trí quan trọng trong đời sống con người,
xếp thứ hai sau lúa mì. Sản phẩm của lúa có ảnh hưởng đến 65% dân số thế
giới, trong đó 40% dân số coi lúa gạo là nguồn lương thực chính, chủ yếu là ở
các nước châu Á, châu Phi, châu Mĩ La Tinh. Hàng ngày lúa gạo cung cấp
khoảng 23% năng lượng cho con người, trong đó có 90% gluxit, 1-3% lipit,
7-10% protein (Nguyễn Thị Lẫm, 2003)[17]. Do có giá trị dinh dưỡng cao
nên gạo được coi là nguồn lương thực và dược phẩm có giá trị, làm thức ăn
chăn nuôi, nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến như rượu bia, bánh
kẹo…. Đối với một số nước như Việt Nam, Thái Lan thì lúa gạo còn là mặt
hàng xuất khẩu có giá trị cao góp phần tăng thu ngoại tệ cho quốc gia.
Tại đại hội cây trồng quốc tế lần thứ 5 ở Hàn Quốc diễn ra từ ngày 13 –
18 tháng 4 năm 2008, Giáo sư MaKie Kobulun (Đại học Tokyo, Nhật Bản) đề
cập đến chiến lược lai tạo giống cây trồng và kỹ thuật canh tác trong điều kiện
môi trường biến đổi. Việc gia tăng sản lượng cây trồng trước đây dựa trên

chiếm 8,3% diện tích đất trồng lúa). Để đảm bảo an ninh lượng thực, nâng cao
đời sống của nhân dân huyện cần có chiến lược đồng bộ, trong đó việc mở
rộng diện tích lúa vụ xuân, nâng cao hệ số sử dụng đất là rất cần thiết trong
giai đoạn hiện nay.
J02 là giống lúa thuộc nhóm Japonica do viện Di truyền Nông nghiệp
Việt Nam chọn tạo. Giống lúa J02 có chất lượng gạo ngon, chiều cao cây
trung bình, khả năng chống đổ, sâu bệnh hại, đặc biệt là khả năng chịu rét rất
tốt. Trong những năm qua, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã đưa
giống lúa J02 lên trồng thử ở huyện Hoàng Su Phì, kết quả cho thấy giống lúa
J02 có khả năng sinh trưởng, phát triển và cho năng suất khá cao trong điều
kiện vụ xuân. Tuy nhiên để mở rộng diện tích trồng giống lúa này cần nghiên
cứu để xác định quy trình kỹ thuật phù hợp.
Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu một số
biện pháp kỹ thuật canh tác giống lúa J02 trong vụ xuân năm 2013 "
2. Mục tiêu của đề tài
Xác định được mật độ và tổ hợp NPK thích hợp nhằm nâng cao năng suất
và hiệu quả kinh tế cho giống lúa J02 tại huyện Hoàng Su Phì - Hà Giang.

Số hóa bởi trung tâm học liệu
Footer Page 12 of 126.

/>

Header Page 13 of 126.

3

3. Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá ảnh hưởng của mật độ và tổ hợp NPK đến khả năng sinh
trưởng, tình hình sâu bệnh hại và khả năng chống đổ của giống lúa J02.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Năng suất lúa được quyết định bởi các yếu tố cấu thành năng suất như:
số bông/m2 (N), số hạt/bông (n), tỷ lệ hạt chắc (F) và khối lượng 1000 hạt
(W). Mối quan hệ phụ thuộc trên có thể biểu diễn bằng công thức:
Y= N * n * W * F * 10-5 (tấn/ha)
Các yếu tố cấu thành năng suất có liên quan mật thiết với nhau. Số
bông/m2 phụ thuộc vào tỷ lệ đẻ nhánh, mật độ cấy. Khi cây đẻ nhánh mạnh thì
số bông tăng. Khi số bông/m2 tăng quá cao thì bông lúa bé đi, số hạt/bông
giảm, tỷ lệ hạt chắc/bông và khối lượng hạt cũng giảm. Để đạt được năng suất
cao cần điều khiển cho lúa có số bông tối ưu, đảm bảo số hạt/bông nhiều, tỷ lệ
hạt chắc cao và khối lượng hạt lớn (Nguyễn Văn Hoan, 2006)[14].
- Yếu tố ảnh hưởng đến số bông/m2: Số bông/m2 được quyết định bởi 2
yếu tố chủ yếu là mật độ cấy và tỷ lệ nhánh đẻ (Nguyễn Văn Hoan, 2006)[14].
Muốn cho lúa đẻ nhánh tốt thì ngoài cấy mạ khỏe, đúng thời vụ, việc bón
phân thúc đẻ và thúc đòng ảnh hưởng có tính chất quyết định. Thời kỳ đẻ
nhánh cần được bón đủ đạm, lân và kali; thời kỳ làm đòng cần bón đạm và
kali (Lê Vĩnh Thảo, 2004 [26]).
- Yếu tố ảnh hưởng đến số hạt/bông: Số hạt/bông là do số lượng hoa
phân hóa và số lượng hoa thoái hóa quyết định (Nguyễn Văn Hoan,
2006)[14]. Tỷ lệ hoa phân hóa liên quan chặt đến chế độ chăm sóc, trong đó
phân đạm có vai trò quan trọng làm tăng số lượng hoa phân hóa, giảm số
lượng hoa thoái hóa, tăng kích thước vỏ trấu. Bón thúc đạm khi bắt đầu phân
hóa đòng còn làm tăng quá trình phân hóa gié. Số gié cấp I, đặc biệt là số gié

Số hóa bởi trung tâm học liệu
Footer Page 14 of 126.

/>


trong khi đó các giống cạnh tranh yếu bị thất bại nghiêm trọng trong điều kiện

Số hóa bởi trung tâm học liệu
Footer Page 15 of 126.

/>

Header Page 16 of 126.

6

trồng trọt bình thường, điều đó có nghĩa là giống khoẻ (Hokuriki 52) sẽ làm hại
nhiều cho giống yếu (Yamakogame) khi có đủ phân bón.
Theo Shi (1986)[48] cho rằng: Phân bón có tác dụng thúc đẩy hoạt
động quang hợp. Kết quả nghiên cứu các giống lúa Indica có phản ứng với
phân bón là tăng diện tích lá lớn hơn so với giống lúa Japonica nhưng lại phản
ứng yếu hơn khi hàm lượng phân bón tăng. Khi bàn về năng suất tác giả cho
biết: năng suất là kết quả của những giống có phản ứng tốt với phân bón và
biện pháp kỹ thuật. Ở vùng ôn đới, giống Japonica thường cho năng suất cao
vì nó phản ứng tốt với phân bón.
Theo kết quả nghiên cứu của Sinclair (1989)[47]: Hiệu suất bón đạm
cho lúa rất khác nhau: 1kg N cho từ 3,1 - 23 kg thóc.
Các công trình nghiên cứu của De Datta (1978)[40] Koyama
(1981)[43], Sinclair (1989)[47], Vlek (1986)[49] về đặc điểm bón phân cho
các giống lúa đều đi đến kết luận: Giống mới yêu cầu về phân bón nhất là lân
cao hơn giống cũ. Bón lân làm tăng khả năng hút đạm và kali. Là cơ sở để
tăng năng suất cây trồng. Để đánh giá khả năng cung cấp lân của đất cho cây
trồng, người ta dựa vào hàm lượng lân tổng số, phân lân bón cho lúa có hiệu
quả đứng thứ 2 sau đạm, nhưng trong một vài trường hợp, ở những đất nghèo
màu thì phân lân lại làm tăng năng suất nhiều hơn đạm. Tuy nhiên bón phân

Phân bón có tác dụng rất lớn đến năng suất lúa. Muốn đạt năng suất,
sản lượng cao cần bón phân đúng liều lượng đúng cách. Ngay những thập kỷ
70, 50% sản lượng nông nghiệp tăng lên ở các nước phát triển là nhờ sử dụng
phân bón (FAO - 1994).
Bón đạm với liều lượng cao thì hiệu suất cao nhất và bón vào lúc lúa đẻ
nhánh, sau đó giảm dần. Với liều lượng thấp thì bón vào lúc lúa đẻ nhánh và
trước trỗ 10 ngày có hiệu quả cao. Có hai đỉnh về hiệu suất đỉnh thứ nhất xuất
hiện ở giai đoạn lúa đẻ nhánh, đỉnh thứ hai xuất hiện ở 19 - 9 ngày trước trỗ,
nếu lượng đạm nhiều thì không có đỉnh thứ 2.
Tác giả đã đề nghị: Nếu lượng đạm ít sẽ bón vào 20 ngày trước trỗ.
Khi lượng đạm trung bình bón hai lần lúc lúa con gái và 20 ngày trước trỗ
bông, khi lượng đạm nhiều bón vào lúc lúa con gái.
Các nhà khoa học Trung Quốc đã kết luận: Với cùng một mức năng suất,
lúa lai hấp thu lượng đạm và lân thấp hơn so với lúa thuần, ở mức năng suất 75

Số hóa bởi trung tâm học liệu
Footer Page 17 of 126.

/>

Header Page 18 of 126.

8

tạ/ha lúa lai hấp thu đạm thấp hơn lúa thuần 4,8% hấp thu P205 thấp hơn 18,2%.
Nhưng hấp thu K20 cao hơn 30%. Với ruộng lúa cao sản thì hấp thu N cao hơn
lúa thuần 10%, hấp thu K20 cao hơn 45% còn hấp thu P205 bằng lúa thuần.
1.2.1.2. Những kết quả nghiên cứu về mật độ cấy trên thế giới
Mật độ cấy là số khóm cấy/m2. Lúa cấy được tính bằng khóm, lúa gieo
được tính bằng hạt mọc. Về nguyên tắc thì mật độ gieo hoặc cấy càng cao thì


Các tác giả sinh thái học đã nghiên cứu mối quan hệ giữa năng suất và
quần thể ruộng cây trồng và đều thống nhất rằng: các giống khác nhau phản
ứng với mật độ khác nhau, việc tăng mật độ ở một giới hạn nhất định thì năng
suất tăng nhưng vượt qua giới hạn đó năng suất không tăng mà còn giảm
xuống. Qua thực tế thí nghiệm nhiều năm đối với nhiều giống lúa khác nhau
S. Yoshida (1978) [50] cho rằng: Trong phạm vi khoảng cách 10 x 10 cm đến
50 x 50 cm khả năng đẻ nhánh có ảnh hưởng đến năng suất. Ông đã thấy rằng
năng suất của hạt giống IR - 154 - 451 (một giống đẻ nhánh ít) tăng lên với
việc giảm khoảng cách 10 x 10cm. Còn IR8 (giống đẻ nhánh khỏe) năng suất
đạt cực đại ở khoảng cách cấy là 20 x 20 cm.
Các tác giả người Trung Quốc đã sử dụng tổ hợp lai 2 dòng PA
64S/9311 để nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy đến các yếu tố cấu thành
năng suất và năng suất của tổ hợp lai. Các tác giả sử dụng hai công thức cấy
thưa (90.000 khóm/ha) và công thức cấy truyền thống của Trung Quốc
(300.000 khóm/ha). Kết quả nghiên cứu cho thấy:
+ Số nhánh đẻ ở công thức cấy thưa giảm đáng kể so với công thức
cấy dầy vào thời điểm trước 10/5, nhưng đến sau 25/5 thì sự sai khác chỉ
còn rất nhỏ.
+ Kích thước nhánh đẻ ở công thức cấy thưa lớn hơn công thức cấy dầy
6,86%, tỷ lệ kết hạt thấp hơn 2,35% và khối lượng 1000 hạt cũng thấp hơn
0,86g. Năng suất của công thức cấy thưa giảm 17 - 19%.
1.2.2. Tình hình nghiên cứu lúa ở Việt Nam
1.2.2.1. Tình hình nghiên cứu bón phân cho lúa ở Việt Nam
Theo Bùi Đình Dinh (1999) [9] cho rằng: Phân bón có từ rất lâu đời cùng
với sự ra đời của nền nông nghiệp và bắt đầu bằng việc sử dụng các loại phân
hữu cơ. Từ trước Công Nguyên con người đã quan tâm đến việc bón phân hữu
cơ cho ruộng, ở Trung Quốc đã biết bón phân xanh và phân bón đã được bắt đầu
sử dụng từ các phân của động vật và mở rộng ra các loại phân hữu cơ khác.


lân, cây trồng chỉ hút được 40 - 50 kg N/ha, nếu bón lân cây trồng sẽ hút 120 130 kg N/ha. Do vậy, để đảm bảo đất không bị suy thoái thì về nguyên tắc
phải bón trả lại cho đất một lượng dinh dưỡng tương tự lượng dinh dưỡng mà
cây trồng đã lấy đi. Tuy nhiên, việc bón phân cho cây trồng lại không chỉ hoàn
toàn dựa vào dinh dưỡng cây trồng hút từ đất và phân bón, mà phải dựa vào
lượng dinh dưỡng dự trữ trong đất và khả năng hấp thu dinh dưỡng của cây.
Lúa yêu cầu đạm ngay từ lúc nảy mầm và gần như đến cuối cùng của
thời kỳ sinh trưởng sinh thực. Tỷ lệ đạm trong cây so với trọng lượng chất

Số hóa bởi trung tâm học liệu
Footer Page 20 of 126.

/>

Header Page 21 of 126.

11

khô ở các thời kỳ như sau: Thời kỳ mạ 1,54%, đẻ nhánh 3,65%, làm đòng
3.06%, cuối làm đòng 1,95%, trổ bông 1,17% và chín 0,4%.
Đối với nhiều loại đất, ngay từ đầu cần phải bón đạm kết hợp với lân
mới cho năng suất cao. Cũng theo nghiên cứu của Lê Văn Căn (1968)[4]:
Sự tích luỹ đạm, lân, kali ở các cơ quan trên mặt đất không kết thúc ở thời
kỳ trỗ mà còn được tiến hành ở giai đoạn tiếp theo của cây. Tuy nhiên, từ
khi cây bắt đầu đẻ nhánh đến làm đòng, cây lúa phản ứng mạnh với dinh
dưỡng N, K2O ở mức độ cao.
Theo Đào Thế Tuấn (1970)[28] trong thí nghiệm 3 vụ liền ở đất phù sa
Sông Hồng đã rút ra kết luận: “Vụ lúa chiêm cũng như vụ lúa mùa, chia đạm
ra bón nhiều lần để bón thúc đẻ nhánh, nếu bón tập trung vào thời kỳ đầu đẻ
nhánh thì số nhánh tăng lên rất nhiều về sau lụi đi cũng nhiều và thiếu dinh
dưỡng. Nếu bón tập trung vào cuối thời kỳ đẻ nhánh thì số nhánh lụi đi ít

Phần lớn lân trong gạo là tích luỹ trong thân và lá trước khi trỗ rồi chuyển về
bông vì sau khi trỗ lúa thường không hút nhiều lân nữa, khi bón quá nhiều
lân, đất sẽ giữ lân lại, do đó ruộng ít bị xẩy ra hiện tượng thừa lân. Ruộng lúa
ngập nước sẽ làm tăng độ dễ tiêu của lân, tăng hiệu quả của phân bón cho cây
lúa. Cây lúa hút lân trong suốt thời kỳ sinh trưởng vì vậy có thể bón lót hết
lượng lân dành cho cả vụ.
Theo Nguyễn Vi (1974)[34] khi bón phân lân với lượng không cao và
không bón đạm sẽ xúc tiến quá trình đẻ nhánh ban đầu nhưng lại kìm hãm quá
trình đẻ nhánh về sau. Vì vậy, khi bón phân lân đơn độc, số nhánh không tăng
mà lại lụi đi nhiều, do đó cần bón kết hợp đạm, lân và kali.
Việt Nam có hàng nghìn giống lúa được gieo trồng trong cả nước, có
nhiều bộ giống tốt phù hợp với nhiều vùng sinh thái khác nhau. Một số giống
lúa chất lượng cao như giống Tám thơm, lúa Dự, nàng thơm, Nếp Cái Hoa
Vàng, Nếp Cẩm, Nếp tú lệ, các giống Nếp Nương, Tẻ Nương…đã được đưa
vào cơ cấu gieo cấy ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam. Chúng ta đã nhập và thuần
hoá nhiều giống lúa tốt từ nước ngoài mà nay đã trở thành các giống lúa đặc
sản của Việt Nam có thương hiệu như: IR64 Điện Biên, Bao Thai Định Hoá,
Khaodômaly Tiền Giang.
Phân bón có tác dụng rất lớn đến năng suất lúa. Tại nước ta từ năm
1990 trở lại đây bình quân lương thực bội thu nhờ phân bón hàng năm là
38%. Việc bón đạm ở vụ xuân có ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất lúa, hiệu
suất sử dụng đạm cao nhất khi bón với lượng đạm 102 kgN/ha (16,6 kg
thóc/kgN). Ở vụ mùa ít ảnh hưởng đến năng suất lúa, còn với nguyên tố lân ở
vụ Xuân hiệu suất sử dụng lân cao nhất khi bón với lượng 120 kgP205 (cho
2,99kg thóc/kg P205). Hiệu suất sử dụng kali cao nhất khi bón với lượng 60 kg
Số hóa bởi trung tâm học liệu
Footer Page 22 of 126.

/>


nhánh sớm và nhanh. Nếu cần đạt 9 bông hữu hiệu /khóm với mật độ 40
khóm/m2 chỉ cần cấy 3-4 dảnh, mỗi dảnh đẻ 2 nhánh là đủ, nếu cấy nhiều
hơn, số nhánh đẻ có thể tăng nhưng tỷ lệ hữu hiệu giảm.

Số hóa bởi trung tâm học liệu
Footer Page 23 of 126.

/>

Header Page 24 of 126.

14

Khi sử dụng mạ thâm canh, mạ đã đẻ 2- 5 nhánh thì số dảnh cấy phải
tính cả nhánh đẻ trên mạ. Loại mạ này già hơn 10 - 15 ngày so với mạ chưa
đẻ vì vậy số dảnh cấy cần phải bằng số bông dự định hoặc ít nhất cũng phải
đạt trên 70% số bông dự định. Sau khi cấy các nhánh đẻ trên mạ sẽ tích luỹ, ra
lá lớn lên và thành bông. Thời gian đẻ nhánh hữu hiệu chỉ tập trung vào 8 - 15
ngày sau cấy. Vì vậy cấy mạ thâm canh cần có số dảnh cấy/khóm nhiều hơn
cấy mạ non. Nguyễn Văn Hoan (1999) [14] cho rằng ở mật độ cấy dày trên 40
khóm/m2 thì để đạt 7 bông hữu hiệu trên khóm cần cấy 3 dảnh (nếu mạ non)
với loại mạ thâm canh số nhánh cần cấy trên khóm được xác định lượng theo
số bông cần đạt nhân với 0,8.
Theo Nguyễn Thị Trâm (2001) [30] thì mật độ cấy càng cao thì số bông
càng nhiều. Tuy nhiên cấy quá thưa đối với giống ngắn ngày thì khó đạt được
số bông/đơn vị diện tích theo dự định, các giống lai có thời gian sinh trưởng
trung bình có thể cấy thưa. Ví dụ: Bắc ưu 64 có thể cấy 35 khóm/m2. Các
giống có thời gian sinh trưởng ngắn như Bồi tạp sơn thanh, Bồi tạp 77 cần cấy
dày 40 - 45 khóm/m2.
Nhiều kết quả nghiên cứu xác định rằng trên đất giàu dinh dưỡng mạ

khóm/m2 ở vụ mùa và 75 khóm/m2 ở vụ xuân. Tăng bón đạm ở mật độ cao
trong khoảng 55 - 65 khóm/m2 làm tăng tỷ lệ dảnh hữu hiệu.
Nguyễn Thạch Cương (2000) [7] đã làm thí nghiệm với tổ hợp Bồi tạp
Sơn Thanh trên đất phù sa Sông Hồng và đi đến kết luận:
+ Trong vụ xuân: Với mật độ cấy 55 khóm/m2 trên đất phù sa sông
Hồng cho năng suất cao nhất là 82,2 tạ/ha, trên đất phù sa ven biển cho năng
suất 83,5 tạ/ha, ở vùng đất bạc màu rìa đồng bằng mật độ 55 - 60 khóm/m2
cho năng suất 77,9 tạ/ha.
+ Trong vụ mùa: Mật độ 50 khóm/m2, trên đất phù sa Sông Hồng cho
năng suất cao nhất là 74,5 tạ/ha, trên đất phù sa ven biển cho năng suất 74
tạ/ha, mật độ 55 khóm/m2 trên đất bạc màu cho năng suất 71,4 tạ/ha.
Nhận xét về mối quan hệ diện tích dinh dưỡng và sự đẻ nhánh, Bùi
Huy Đáp (1999) [11] cho rằng sự đẻ nhánh của cây lúa có quan hệ chặt chẽ
với diện tích dinh dưỡng. Nếu diện tích dinh dưỡng càng lớn thời gian đẻ
nhánh càng dài.
Ngược lại, diện tích dinh dưỡng càng nhỏ thì thời gian đẻ nhánh càng
ngắn. Cấy dầy ở mật độ lúa cao sẽ không đẻ nhánh và một số cây mẹ sẽ lụi dần.
Nguyễn Văn Luật (2001) [22] nhận xét phương pháp canh tác cổ truyền
trước đây so với ngày nay: Trước năm 1967, người dân trồng lúa thường cấy
thưa với mật độ 40 x 40 cm hoặc 70 x 70 cm ở một vài ruộng sâu, còn ngày
nay có xu hướng cấy dầy 20 x 20 cm; 20 x 25 cm; 10 x 15 cm.
Số hóa bởi trung tâm học liệu
Footer Page 25 of 126.

/>


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status