BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
NGUYỄN THỊ THÙY TRINH
TÁC ĐỘNG CỦA CHI TIÊU CHÍNH PHỦ ĐẾN
LƯỢNG KHÍ THẢI CO2-NGHIÊN CỨU THỰC
NGHIỆM TẠI 5 QUỐC GIA ASEAN
Chuyên ngành: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Mã số ngành: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN KIM QUYẾN
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ Kinh tế với đề tài “Tác động của chi tiêu
chính phủ đến lượng khí thải CO2: Nghiên cứu thực nghiệm tại 5 quốc gia ASEAN”
là công trình nghiên cứu của tôi cùng với sự hỗ trợ của Giảng viên hướng dẫn
TS.Nguyễn Kim Quyến và chưa từng được công bố trước đây.
Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực. Tôi sẽ chịu trách nhiệm về
nội dung tôi đã trình bày trong luận văn này.
TP Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2016
Người thực hiện
Nguyễn Thị Thuỳ Trinh
1.1.3.
Chức năng của chi tiêu chính phủ ...........................................................6
1.2
Khí CO2 và tác động tiêu cực đến môi trường ..............................................8
1.2.1. Giới thiệu khí CO2 ......................................................................................8
1.2.2. Nguồn phát thải khí CO2 ............................................................................8
1.2.3. Tác động của khí CO2 đến môi trường .......................................................9
1.3
Lý thuyết về tác động của chi tiêu chính phủ đến môi trường ....................10
1.3.1. Cơ sở lý luận của Lopez và cộng sự (2011) .............................................11
1.3.2. Tác động gián tiếp của chi tiêu chính phủ đến môi trường ......................14
1.4.
Tổng quan một số nghiên cứu thực nghiệm liên quan ................................17
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CHI TIÊU CHÍNH PHỦ VÀ Ô NHIỄM
KHÔNG KHÍ TẠI CÁC NƯỚC ASEAN-5 HIỆN NAY .....................................22
2.1. Tình hình chi tiêu chính phủ ...........................................................................22
2.2. Tăng trưởng kinh tế của quốc gia ASEAN-5 .................................................24
2.3. Tình hình ô nhiễm không khí..........................................................................27
2.3.1. Lượng khí thải CO2 ngày càng gia tăng ...................................................27
2.3.2. Hậu quả kinh tế.........................................................................................29
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết
tắt
Tiếng Anh
Tiếng Việt
ASEAN
Association of Southeast
Asian Nations
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
CCS
Carbon capture and storage
Công nghệ thu hồi và ngưng tụ
cacbon
CO2
Carbon dioxide
Khí cacbonic
EKC
phủ
GMM
Generalized method of
moments
Mô hình GMM
IMF
Internationnal Monetary Fund
Quỹ tiền tệ quốc tế
PMG
Pooled Mean Group
Mô hình PMG
REM
Randomed-Effect Model
Mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Các biến số của mô hình, ký hiệu và nguồn thu thập dữ liệu. ..................35
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1.
Lý do thực hiện đề tài:
Trong thời gian qua, biến đối khí hậu đã trở thành vấn đề được quan tâm
trên phạm vi toàn cầu, vì những tác động của nó đối với các hoạt động kinh tế - xã
hội của loài người. Biến đối khí hậu đã gây ra những tác động tiêu cực đến một bộ
phận dân số trên thế giới, đặc biệt tại các nước đang phát triển như khu vực Đông
Nam Á.
Đối với nền kinh tế đang trên đà phát triển, tốc độ đô thị hoá và công nghiệp
hoá diễn ra rất nhanh là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến ô nhiễm môi
trường.Điều này có nghĩa là nếu đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế mà không có
biện pháp kiểm soát ô nhiễm thích hợp thì môi trường sống của chúng ta thực sự
đang phải đối mặt với những nguy cơ.Tuy nhiên, khi phải lựa chọn giữa phát triển
kinh tế và hậu quả về ô nhiễm môi trường, đa số các quốc gia đang phát triển phải
chọn con đường phát triển kinh tế mà bất chấp các hậu quả về môi trường.
Kể từ cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu năm 2008, chính phủ
nhiều nước đã theo đuổi chính sách tài khóa mở rộng nhằm vực dậy nền kinh tế, từ
đó tác động đến nhiều biến kinh tế vĩ mô cũng như chất lượng môi trường. Và mặc
dù việc nâng cao chất lượng môi trường không phải là mục tiêu chính của chính
sách tài khóa nhưng cũng không thể phủ nhận các tác động trực tiếp cũng như gián
tiếp của chi tiêu chính phủ đến môi trường. Bằng chứng là ngày càng có nhiều các
bài nghiên cứu trên cả hai phương diện lý thuyết và thực nghiệm đã kiểm chứng
mối quan hệ này. Việc xem xét tác động của chi tiêu chính phủ đến chất lượng môi
trường sẽ giúp các nhà nghiên cứu đưa ra các kiến nghị chính sách kinh tế vĩ mô đối
ASEAN-5 là cùng chiều hay ngược chiều?
3.
Phương pháp nghiên cứu:
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng nhằm xác định
tác động của chi tiêu chính phủ đến khí thải CO2.
Ước lượng một mô hình bao gồm biến khí thải CO2, chi tiêu chính phủ và
các biến kiểm soát tương tự mô hình nghiên cứu của Halkos và Paizanos (2012).
Thông qua phương pháp ước lượng PMG để ước lượng các hệ số hồi quy dài hạn
trong trường hợp tồn tại đồng liên kết giữa các biến trong mô hình, đồng thời kiểm
soát tương quan phụ thuộc chéo. Ngoài ra, phương pháp ước lượng dữ liệu bảng
GMM cũng được đưa vào để kiểm soát nội sinh và kiểm chứng lại kết quả tác động
cần nghiên cứu. Việc lựa chọn mô hình phù hợp được thực hiện để đảm bảo tính
thống nhất về kết quả nghiên cứu. Từ đó, tác giả rút ra các kết luận và đề xuất một
3
số biện pháp giảm thiểu khí thải CO2 tại Việt Nam cũng như các quốc gia nghiên
cứu với mục tiêu tăng trưởng kinh tế một cách bền vững.
4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là sự tác động của chi tiêu chính
phủ đến lượng khí thải CO2 cho 5 quốc gia ASEAN trong giai đoạn 1984 đến năm
2013. Ngoài ra luận văn còn xem xét các sự tác động của tỷ lệ đầu tư trong tổng sản
phẩm quốc nội (GDP) và độ mở của nền kinh tếđối với lượng khí thải CO2 tại các
quốc gia này.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị chính sách
5
CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHI TIÊU CHÍNH PHỦ
ĐẾN LƯỢNG KHÍ THẢI CO2
Mở đầu chương 1, luận văn sẽ trình bày lý thuyết về chi tiêu chính phủ và tác
động của khí thải CO2 đến môi trường.Sau đó, luận văn trình bày cơ sở lý thuyết,
cũng như các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của chi tiêu chính phủ lên lượng
khí thải CO2. Nội dung chương này làm cơ sở để thực hiện mô hình nghiên cứu ở
Chương 3.
1.1
. Lý thuyết về chi tiêu chính phủ
1.1.1. Khái niệm
Trên phương diện quốc tế, Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) đã ban hành Cẩm nang
Thống kê tài chính Chính phủ (GFS) trong đó khái niệm chi ngân sách được khái
quát như sau:
Chi ngân sách là các khoản chi ra từ ngân sách không làm phát sinh nghĩa vụ
phải bồi hoàn trực tiếp đối với các đối tượng thụ hưởng ngân sách, đó chính là toàn
bộ khoản thực chi ngân sách trong một năm tài khóa.Chi ngân sách chính phủ bao
gồm chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, chi chuyển nhượng, chi trả lãi vay
nhưng không bao gồm chi trả nợ gốc và các khoản chi khác.
1.1.2. Phân loại
Chi tiêu của chính phủ được các nhà kinh tế học phân ra làm 3 loại chính:1
- Các khoản mua hàng hóa và dịch vụ để tiêu dùng hiện tại được gọi là Tiêu
1.1.3. Chức năng của chi tiêu chính phủ
Mục tiêu truyền thống của chi tiêu chính phủ là sử dụng nó như một công cụ
của chính sách nhà nước để bảo vệ một khu vực bằng cách cung cấp pháp luật, trật
tự và công lý (Sobhan và cộng sự, 1993).Tuy nhiên, quan điểm hiện đại về chi tiêu
của chính phủ cung cấp một mục tiêu rộng lớn hơn nhiều.
Ngày nay, chi tiêu chính phủ bao gồm các vấn đề như phát triển cơ sở hạ
tầng, cải thiện về khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe và thúc đẩy phát
triển cơ cấu kinh tế.Để mở rộng các mục tiêu không cần thiết tùy thuộc vào đường
lối chính trịcủa Nhà nước.
Mức chi tiêu của chính phủ có thể được giải thích hướng theo một khuôn khổ
với ba mô hình giải thích mức độ chi tiêu của chính phủ. Các mô hình này phân loại
7
chi tiêu chính phủ phù hợp với chức năng kinh tế vĩ mô của họ liên quan đến hình
thái của chính phủ về triết lý chính trị.
- Thứ nhất, nhà nước tối thiểu, còn được gọi là trạng thái canh gác ban đêm,
được xem xét đến. Trong mô hình này, chính phủ giới hạn trách nhiệm của mình để
bảo vệ các công dân khỏi ép buộc, lừa đảo và trộm cắp, cung cấp bồi thường cho
cácnạn nhân và bảo vệ đất nước khỏi nguy hiểm từ nước ngoài. Vì vậy, vai trò của
nhànước sẽ bị giới hạn trong việc cung cấp đơn thuần về cảnh sát, hệ thống tòa án,
nhàtù và quân đội.
- Thứ hai, nhà nước phúc lợi, là nhà nước chịu trách nhiệm về các phúc lợi
của công dân mình. Chính phủ có trách nhiệm cung cấp vật chất và đáp ứng các nhu
cầu xã hội. Triết lý là có một nền tảng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu chính là tạo ra
một xã hội công bằng và giảm bất bình đẳng thu nhập. Do đó, trách nhiệm của nhà
nước sẽ được mở rộng và bên cạnh đó phải chịu trách nhiệm cung cấp an ninh nhà
nước cũng như chịu trách nhiệm về các vấn đề như giáo dục, nhà ở, y tế, bảo hiểm,
nghỉ ốm, thu nhập bổ sung, trả lương công bằng …
Carbon dioxide là sản phẩm cuối cùng trong quá trình hô hấp của cở thể sinh
vật, bao gồm tất cả các loài thực vật, động vật, nhiều loại nấm và một số vi khuẩn.
Trong các động vật bậc cao, carbon dioxide di chuyển trong máu từ các mô của cơ
thể tới phổi và ở đây nó bị thải ra ngoài.
1.2.2. Nguồn phát thải khí CO2
-Chu trình cacbon
Các nhà khoa học tính toán rằng, khoảng 4,5 tỷ năm trước đây, khi trái đất
bắt đầu hình thành, CO2 có thể chiếm đến 80% trong khí quyển. Nhưng cách đây 2
tỷ năm, lượng CO2 chỉ còn khoảng 20-30%. Trong khí quyển còn nhiều CO2
nên sự sống vẫn tồn tại. Cây cối quang hợp rất mạnh làm cho nồng độ CO2 giảm
xuống và lượng oxy trong khí quyển tăng lên.
Ngoài ra, khi cây cối và động vật chết, xácchết bị phân huỷ làm choCO2
thoát ra. Lượng CO2 ra khỏi khí quyển hàng năm được cân bằng với lượng CO2
sinh ra. Nhờ cơ chế này mà môi trường được ổn định.
-Đốt phá rừng
Khi cây cối chết, chúng thải ra CO2, đó là quá trình bình thường của chu
trình cacbon. Nhưng khi cây cối bị đốn chặt để làm chất đốt thì CO2 thải ra không
khí nhiều hơn. Theo thống kê của Liên hợp quốc, việc phá rừng mạnh trong 2 thập
kỷ 80 và 90 (thế kỷ XX) đã làm cho lượng CO2 trong không khí tăng lên, đồng thời
lượng oxy trong không khí giảm đi rõ rệt.
9
-Nhiên liệu hoá thạch
Nguồn cacbon trong nhiên liệu hoá thạch được lưu trữ từ hàng triệu năm
trước vì cơ thể sống không bị phân hủy hoàn toàn, cacbon không bị phát thải vào
khí quyển dưới dạng CO2, trái lại được lưu trữ trong lòng đất.Trong khi khai thác và
đốt nhiên liệu hoá thạch, nguồn cacbon này mới được giải phóng.Như vậy, việc đốt
nhiên liệu hoá thạch đã nhanh chóng làm cho cacbon bị giam giữ hàng triệu năm
truyền nhiễm.
Nhiệt độ tăng lên làm tăng các quá trình chuyển hóa sinh học cũng như hóa
học trong cơ thể sống, làm thay đổi nhịp sinh học gây nên sự mất cân bằng.
Lâm nghiệp: nhiệt độ cao hơn tạo điều kiện cho nạn cháy rừng dễ xảy ra hơn.
Năng lượng: nhiệt độ ấm hơn tăng nhu cầu làm lạnh, từ đó làm tăng nhu cầu
khai thác nhiên liệu hóa thạch, khí carbon dioxide sẽ lại càng được sinh ra nhiều
hơn.
Khí hậu: nhiệt độ ấm của khí quyển cung cấp nhiều năng lượng hơn cho các
cơn bão khiến chúng mạnh hơn và khó dự đoán hơn. Các hiện tượng thời tiết cực
đoan như hạn hán, lũ lụt cũng xảy ra thường xuyên hơn.
Những khối băng ở Bắc cực và Nam cực đang tan nhanh trong những năm
gần đây mà do đó mực nước biển sẽ tăng quá cao, có thể dẫn đến nạn hồng thủy.2
1.3
Lý thuyết về tác động của chi tiêu chính phủ đến môi trường
Các lý thuyết thường không chỉ ra một cách rõ ràng tác động của chi tiêu
chính phủ đến lượng khí thải CO2, tuy nhiên, các bằng chứng thực nghiệm gần đây
chỉ ra rằng việc tăng hay giảm tổng chi tiêu chính phủ hay từng loại chi tiêu cụ thể
đều có tác động đến ô nhiễm không khí, mà cụ thể là lượng khí thải CO2. Đặc biệt,
tác động này có thể được tăng cường đáng kể bằng cách tập trung vào một khoản
chi tiêu cụ thể, một đồng chi tiêu thêm cho hàng hóa công sẽ có tác động làm giảm
khí thải CO2 nhiều hơn so với một đồng tổng chi tiêu. Ngoài ra, chi tiêu bảo vệ môi
trường được chứng minh là hiệu quả nhất trong các loại chi tiêu xem xét, kết quả
ước tính giảm khí thải hơn 17 lần so với cùng một khoản chi cho tổng chi tiêu chính
phủ.
2
/>
y d D ( hld ) a Z ( x k )1 g
3
(2.1)
Đại diện ô nhiễm như là một đầu vào sản xuất khá phổ biến trong lý thuyết. Xem Baumol và Oates(1988)
và Copeland và Taylor (1994)
12
Trong đó D là năng suất toàn ngành, α>0, β>0, α+ β0 là độ co dãn
đầu ra của g, ld là lao động thô và h được giả định là lớn hơn 1. Như vậy hld là một
đơn vị lao động hiệu quả.
Các nhà sản xuất trong ngành bẩn giảm thiểu chi phí sản xuất bằng cách tối
thiểu hóalao động và đầu vào bẩnZ.
C (w, ; y d , k x , g ) min whld Z : D ( hld ) Z ( x k )1 g yd
( hld ),Z
(2.2)
Trong đó w là tiền lương trên mỗi đơn vị lao động hiệu quả và τ là thuế suất
thuế đơn vị trên ô nhiễm.
Hàm chi phí tiềm ẩn trong (2.2) là
1
1
4
( / ) (1 / ) . Sử dụng bổ đề Shepherd , nhu cầu đầu
vào bẩn là:
1
1
1
Phương trình (2.5) phân tích các tác động của sự thay đổi trong thành phần
chi tiêu chính phủ đối với ô nhiễm thành 5 phần:
4
Bổ đề Shephard (còn gọi là Bổ đề McKenzie) là mệnh đề liên quan đến hành động tối thiểu hóa chi tiêu của
người tiêu dùng (hay hộ gia đình).Đây là phương pháp để tìm lựa chọn tối ưu lượng hàng hóa cho phép tối
thiểu hóa chi phí (mức chi tiêu) mà vẫn đạt được một mức thỏa dụng nhất định, khi giá cả cố định.
13
-Thứ nhất, tác động trực tiếp là tiêu cực. Điều này ngụ ý rằng cùng một mức
ô nhiễm có thể được tạo ra với ít nguyên liệu đầu vào bẩn hơn khi g tăng, các yếu tố
khác không đổi.
-Thứ hai là hiệu ứng quy mô sản lượng bẩn. Một g cao hơn làm tăng năng
suất lao động và có thể ảnh hưởng đến mức độ ô nhiễm, các yếu tố khác không đổi.
Mức ô nhiễm không nhất thiết phải tăng, vì g tăng sẽ làm tăng năng suất lao động
trong tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế chứ không chỉ riêng khu vực sản xuất công
nghiệp. Nếu hiệu ứng này làm tăng (giảm) sản lượng bẩn, nó sẽ làm ô nhiễm ngày
càng tăng (giảm).
-Thứ ba là tác động thay thế ô nhiễm và lao động. g cao hơn làm tăng tỷ lệ
tiền lương của nền kinh tế, tăng ô nhiễm bởi vì lao động và ô nhiễm thay thế cho
nhau.
-Thứ tư là tác động của ngân sách chính phủ. Sự gia tăng g giảm x hàm ý
tổng số vốn được sử dụng trong sản xuất thấp hơn. Với một mức sản lượng không
đổi, việc giảm tổng số vốn phải được bù đắp bằng mức tăng các biến yếu tố đầu vào
khác, bao gồm cả ô nhiễm.
-Thứ năm là tác động của quy định về môi trường. Sự gia tăng g dẫn đến thu
nhập cao hơn, gây ra một thuế ô nhiễm cao hơn và làm giảm ô nhiễm, các yếu tố
lệ các nguồn vốn vật chất trong “ngành bẩn” (1-α-β) và tỷ lệ hàng hóa tư chính phủ
cung cấp trong tổng số vốn (πx) đều nhỏ, có nhiều khả năng ô nhiễm sẽ giảm khi
tăng tổng chi tiêu chính phủ. Đây là suy đoán xác đáng bởi vì tác động tăng ô nhiễm
từng phần của x thì nhỏ trong trường hợp này. Ngoài ra, G ít có khả năng làm tăng ô
nhiễm khi có sự khác biệt lớn giữa độ co giãn hàng hoá công trong “ngành sạch” và
“ngành bẩn”. Nếu Ω lớn và µ nhỏ, có nhiều khả năng rằng tác động giảm ô nhiễm
do g tăng có thể bù đắp tác động tăng ô nhiễm do x tăng.
1.3.2. Tác động gián tiếp của chi tiêu chính phủ đến môi trường
Thông qua tác động của chi tiêu chính phủ đến tăng trưởng kinh tế (chi tiêutăng trưởng) và tiếp theo đó tăng trưởng kinh tế lại tác động lên môi trường theo lý
thuyết đường cong Kuznets về môi trường (tăng trưởng-môi trường).
Tác động của chi tiêu chính phủ đến tăng trưởng kinh tế
15
Mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế là một vấn đề được
nghiên cứu khá rộng rãi trên phương diện lý thuyết và kiểm định thực nghiệm. Các
lý thuyết thường không chỉ ra một cách rõ ràng tác động của chi tiêu công đối với
tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, hầu hết các nhà kinh tế đều thống nhất với nhau
rằng: Trong một số trường hợp, việc cắt giảm hay gia tăng quy mô chi tiêu công đều
có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. (Đặng Văn Cường và Bùi Thanh Hoài, 2014)
Việc phân tích mối quan hệ giữa quy mô chính phủ đối với mức độ phát triển
của nền kinh tế đã nhận được sự chú ý lớn trong lĩnh vực học thuật.Cụ thể, việc
phân tích về mối quan hệ dài hạn giữa chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế đã
dẫn đến những kết luận khác nhau. Nói chung, những lý thuyết khác nhau về mối
quan hệ này có thể được tạm chia thành hai trường phái kinh tế; học thuyết Keynes
và trường phái tư tưởng của Wagner. Sự tương phản cơ bản của những lý thuyết này
là hướng theo quan hệ nhân quả. Wagner (1883) cho rằng tăng trưởng kinh tế, do
quá trình công nghiệp hóa sẽ đi kèm với sự gia tăng tỷ lệ chi tiêu công trong tổng
sản lượng quốc gia. Ngược lại, quan điểm của Keynes giả định rằng chi tiêu của
nên nghiêm khắc và hiệu quả hơn, các công nghệ sạch, công nghệ tiên tiến được
nghiên cứu và áp dụng rộng răi tạo điều kiện cải thiện chất lượng môi trường
(Nguyễn Đinh Tuấn và Phạm Nguyễn Bảo Hạnh, 2014).
17
Ngoài ra, các nghiên cứu thực nghiệm gần đây còn cho thấy bằng chứng tồn
tại đường cong EKC bậc 3 với hình dạng chữ N. Điển hình như nghiên cứu của
Martinez-Zarzoso và cộng sự (2004), dùng ước lượng PMG để kiểm tra sự tồn tại
của đường cong EKC cho biến khí thải CO2 với nhóm các nước OECD và chỉ ra sự
tồn tại của một EKC bật 3 dạng chữ N cho đa số các nước trong mẫu. Balin và
Akan (2015) cũng đưa ra kết luận tương tự khi sử dụng mô hình tác động cố định
FEM cho dữ liệu bảng của 27 quốc gia phát triển trong giai đoạn 1997-2009.
Hình 1.2: Đường cong Kuznets về môi trường (EKC) bậc 3
Nguồn: Balin và Akan (2015)
1.4.
Tổng quan một số nghiên cứu thực nghiệm liên quan
Đến nay đã có khá nhiều nghiên cứu xem xét tác động của chi tiêu chính phủ
đến chất lượng môi trường với các biến số đo lường như lượng khí thải CO2, lưu
huỳnh dioxit (SO2), bụi PM2.5,5tiêu thụ năng lượng, việc sử dụng các hoá chất độc
hại và sự xuống cấp của hệ sinh thái,….
Frederik và Lundström (2001) báo cáo rằng tự do kinh tế cao có tác động
khiến mức phát thải CO2 nhỏ hơn khi quy mô chính phủ là nhỏ, nhưng mức phát
5