Công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo từ thực tiễn tỉnh Trà Vinh - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TỪ MINH ĐIỀN

CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN
ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO TỪ THỰC TIỄN TỈNH TRÀ VINH

Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60. 90. 01. 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN NGỌC TOẢN

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên
cứu, thực hiện của chính bản thân. Các kết quả, số liệu nêu trong luận văn là trung
thực và được trích dẫn tài liệu đã công bố và cập nhật chính xác. Những kết luận
khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác và
chưa được dùng cho bất cứ luận văn thạc sĩ nào.

Trà Vinh, ngày 12 tháng 5 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN



MTQG

Mục tiêu quốc gia

5

MTTQ

Mặt trân tổ quốc

6

HNĐC

Hộ nghèo đa chiều

7

NVXH

Nhân viên xã hội

8

CTV

9

CTXHCN

Vấn đề giảm nghèo là vấn đề toàn cầu, không chỉ có ở Việt Nam và các nước
đang phát triển, các nước nghèo mà là vấn đề của cả các nước phát triển. Công tác
xã hội có vai trò quan trọng trong hỗ trợ giảm nghèo ở các cách tiếp cận khác nhau,
công tác xã hội (CTXH) giúp người nghèo, cộng đồng xã hội thay đổi nhận thức,
xây dựng kế hoạch huy động nguồn lực cho giảm nghèo. Đặc biệt công tác xã hội
cá nhân thông qua việc sử dụng nhân viên công tác xã hội trực tiếp xây dựng kế
hoạch tổ chức can thiệp hỗ trợ, giúp người nghèo, hộ nghèo thoát nghèo bền vững.
Ở Việt Nam, giảm nghèo là một chủ trương, một quyết sách lớn của Đảng và
Nhà nước, mục tiêu giảm nghèo, hướng đến phát triển bền vững đã trở thành mục
tiêu chung của các Quốc gia. Sau 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những
thành tựu phát triển kinh tế, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân đã từng bước
được cải thiện. Việt Nam đã đạt được một bước tiến ấn tượng trong công tác giảm
nghèo những năm vừa qua. Tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm từ 58% (năm 1993)
xuống còn 14,2% (năm 2010) và 9,88% (năm 2015). Cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các
huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được tăng
cường, đời sống người dân không ngừng được cải thiện cả về sinh kế và tiếp cận
các dịch vụ xã hội. Với thành quả này, Liên Hiệp Quốc đánh giá Việt Nam là một
trong điểm sang giảm nghèo và thực hiện thành công mục tiêu thiên niên kỷ.
Công tác xã hội nói chung và CTXH cá nhân nói riêng đã đóng góp vai trò
không nhỏ trong việc trợ giúp người nghèo phát triển sản xuất, kinh doanh tăng thu
nhập và giảm nghèo bền vững. Trà Vinh, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 20,13% năm 2011
xuống còn 11,16% năm 2016, giai đoạn 2011 – 2015, toàn tỉnh có 51.543 hộ thoát
nghèo, 14.064 hộ nghèo mới phát sinh, tỷ lệ hộ nghèo bình quân hàng năm giảm
3,19% (đầu năm 2011 có 58.158 hộ nghèo, chiếm 23,63%; cuối năm 2015 giảm còn
20.417 hộ nghèo, chiếm 7,61% so với tổng số hộ dân cư của tỉnh theo tiêu chí cũ).
Cuối năm 2016, toàn tỉnh còn 30.359 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 11,16%; trong đó
17.946 hộ nghèo dân tộc khmer, chiếm tỷ lệ 20,46% so với tổng số hộ dân tộc
1



2


Nguyễn Văn Nguyện (2006), với đề tài “Giải pháp chiến lược xóa đói, giảm
nghèo phát triển kinh tế bền vững trong vùng dân tộc Khmer ở tỉnh Trà Vinh, giai
đoạn 2006 – 2015”.Tác giả đã tổng hợp một số vấn đề lý luận về giảm nghèo; thực
trạng kinh tế của tỉnh Trà Vinh và tình trạng nghèo của đồng bào dân tộc Khmer, từ
đó đã đề xuất giải pháp khắc phục tình trạng nghèo, phát triển kinh tế bền vững
vùng dân tộc Khmer ở tỉnh Trà Vinh [16].
Trần Xuân Sơn (2016), với đề tài “"Giảm nghèo bền vững trong đồng bào

dân tộc Khmer ở Trà Vinh". Tác giả đã nghiên cứu về một số lý luận về giảm
nghèo bền vững trong đồng bào dân tộc Khmer ở Trà Vinh, thực trạng và giải
pháp về giảm nghèo bền vững đối với dân tộc Khmer, góp phần thực hiện tốt
hơn công tác giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh [20].
Lê Thị Mỹ Ngọc (2016), với đề tài “Nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ
nghèo tại Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Trà Vinh”, đề tài nghiên cứu về thực
trạng và hiệu quả cho vay hộ nghèo tại Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Trà Vinh
và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại
Ngân hàng chính sách xã hội [15].
Đỗ Tiến Tân (2016), với đề tài “Chính sách công tác xã hội trong giảm
nghèo bền vững từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi”. Đề tài là vận dụng lý luận chính
sách công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững ở Việt Nam để đánh giá thực tiễn
thực hiện chính sách CTXH trong giảm nghèo bền vững ở tỉnh Quảng Ngãi, tìm ra
những bất cập của chính sách CTXH trong giảm nghèo bền vững hiện nay. Đồng
thời đã đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách CTXH trong giảm nghèo bền vững
hướng đến việc chuyên nghiệp hóa CTXH đối với người nghèo [21].
Trần Quốc Điện (2015), với đề tài “Tỉnh ủy Vĩnh Long lãnh đạo công tác
giảm nghèo trong giai đoạn hiện nay”. Trong nghiên cứu, tác giả đã làm rõ lý luận
và thực tiễn về sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Long đối với công tác giảm nghèo,

Ngoài ra còn nhiều công trình khoa học, đề tài nghiên cứu của nhiều tác giả
khác, mỗi tác giả nghiên cứu ở những góc độ khác nhau của vấn đề đói nghèo và
giảm nghèo trong phạm vi cả nước và ở mỗi địa phương, như: Tổ chức Oxfam,
“Mô hình giảm nghèo tại một số cộng đồng dân tộc thiểu số điển hình ở Việt Nam”
Hà Nội – 2013 [25]; Viện Khoa học xã hội Việt Nam – VASS, “Giảm nghèo tại
4


Việt Nam: Thành tựu và Thách thức”, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội – 2011 [31];
Ngân hàng thế giới tại Việt Nam, “Báo cáo đánh giá nghèo Việt Nam 2012”, Hà
Nội – 2012 [17]. Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu về công tác xã hội cá
nhân đối với người nghèo trên địa bàn tỉnh Trà Vinh.
Tổng quan nghiên cứu cho thấy bằng các cách tiếp cận khác nhau, các tác giả đã
nêu một cách khái quát thực trạng nghèo và công tác giảm nghèo ở Việt Nam nước nói
chung và Trà Vinh nói riêng. Đây là nguồn tư liệu quan trọng để tiếp tục nghiên cứu về
công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo từ thực tiễn tỉnh Trà Vinh.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu, tổng hợp và vận dụng các cơ sở lý luận, để soi rọi giữa lý luận
và thực tiễn về CTXH cá nhân đối với người nghèo, tìm ra thực trạng và đưa ra giải
pháp nâng cao hiệu quả của công tác này. Đồng thời, đưa công tác xã hội cá nhân đi
vào đời sống của người nghèo
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo.
- Đánh giá thực trạng hoạt động công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo
trên địa bàn tỉnh Trà Vinh.
- Đánh giá các yếu tố thuộc về bản thân người nghèo; yếu tố nhận thức,
phong tục tập quán; yếu tố thuộc về người làm công tác xã hội cá nhân và công tác
giảm nghèo đối với người nghèo.
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện hoạt động công tác xã hội cá nhân đối với

giảm nghèo.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Các tài liệu, báo cáo kết quả
chính sách, Chương trình giảm nghèo; Đề án 32 về phát triển nghề công tác xã hội
giai đoạn 2010-2020, các văn kiện, Nghị quyết, Nghị định, Quyết định, Thông tư;
giáo trình, tài liệu, các công trình nghiên cứu liên quan đến công tác xã hội cá nhân
đối với người nghèo.
- Thảo luận sâu; phỏng vấn sâu với 04 nhóm người nghèo và người làm công
tác giảm nghèo tại huyện Trà Cú và huyện Cầu Kè (mỗi huyện 02 nhóm, mỗi nhóm
10 người nghèo và 6 cán bộ làm công tác giảm nghèo cấp xã) về hoạt động công tác
xã hội cá nhân đối với người nghèo.
- Điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: Chọn ngẫu nhiên 200 người nghèo của 04
huyện (Trà Cú và Cầu Kè, Cầu Ngang và Châu Thành, mỗi huyện 50 người nghèo)
và 120 cán bộ làm công tác giảm nghèo cấp tỉnh, huyện, xã. Phỏng vấn theo bảng
hỏi, bằng cách in sẵn với 2 dạng câu hỏi chính (câu hỏi đóng và câu hỏi mở). Người
6


được hỏi trả lời ý kiến của mình bằng cách đánh dấu vào các ô tương ứng hoặc trả
lời câu hỏi do học viên đề ra trong bảng hỏi.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài bổ sung kiến thức lý thuyết về công tác xã hội nói chung và công tác
xã hội cá nhân nói riêng đối với người nghèo. Đề tài minh chứng cho việc vận dụng
các lý thuyết về công tác xã hội cá nhân là cần thiết trong quá trình nghiên cứu thực
tiễn khi tiếp cận, làm việc với người nghèo, từ đó góp phần tạo mối quan hệ, tạo sự
hưởng ứng của người nghèo đối với nhân viên công tác xã hội.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của đề tài, trước hết là góp phần nâng cao nhận thức đối
với các đồng chí lãnh đạo chính quyền, các ngành, đoàn thể các cấp hiểu rõ hơn về
công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo. Xem xét giữa lý luận và thực tiễn từ kết

hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc,
không được đi học, không được đi khám, không có đất đai để trồng trọt hoặc không
có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng
có nghĩa là không an toàn, không có quyền và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia
đình và cộng đồng. Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội
hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ
sinh an toàn” [11].
Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng nghèo là một khái niệm đa chiều vượt
khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất. Nghèo không chỉ gồm các chỉ số dựa trên thu
nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như dinh dưỡng, sức khoẻ,
giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có quyền phát ngôn và không có quyền
lực [6, tr.96].
Ở Việt Nam, nghèo được hiểu thống nhất là tình trạng một bộ phận dân cư
chưa bảo đảm các điều kiện thoả mãn những nhu cầu tối thiểu hay nói cách khác là
có mức sống thấp hơn mức sống của cộng đồng [6, tr.96].
* Khái niệm nghèo đa chiều
Nghèo đa chiều là nghèo không chỉ là thiếu ăn, thiếu uống hoặc thiếu các
điều kiện sống, sinh hoạt khác, mà còn thiếu các điều kiện tiếp cận dịch vụ xã hội
cơ bản [24].
* Khái niệm chuẩn nghèo
Chuẩn nghèo được hiểu là công cụ hay thướt đo để đánh giá nghèo, hộ
nghèo. Hay nói cách khác là công cụ để xác định hộ nghèo và người nghèo. Chuẩn
8


nghèo quốc gia quy định và áp dụng thống nhất trên phạm vi toàn quốc và dùng để
xác định hộ nghèo, người nghèo. Chuẩn nghèo không cố định mà thay đổi tùy thuộc
vào sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia.
Ở Việt Nam, từ năm 2015 trở về trước, hộ nghèo trên xác định là hộ gia đình
có mức thu nhập (bình quân đầu người) thấp hơn hoặc bằng chuẩn nghèo. Từ 20162020, người nghèo, hộ nghèo được xác định dựa trên cả tiêu chí về thu nhập và mức

chứng nhận hộ nghèo sổ theo dõi quản lý hộ nghèo [32].
* Khái niệm giảm nghèo
Giảm nghèo là giảm tỷ lệ hộ nghèo hay giảm số hộ nghèo trên một địa bàn,
hay giảm mức độ nghèo của một cộng đồng hoặc giảm khoảng cách nghèo của cộng
đồng dân cư. Bản chất giảm nghèo là cải thiện hay nâng cao mức độ thỏa mãn các
nhu cầu cơ bản và mục đích là hộ nghèo thoát nghèo, có nghĩa là thỏa mãn các nhu
cầu cơ bản ở mức độ cao. Nói một cách khác giảm nghèo là quá trình chuyển một
bộ phận dân cư nghèo lên mức sống cao hơn [32].
1.1.2. Đặc điểm của người nghèo
* Về đặc điểm kinh tế
Phần lớn người nghèo sống ở vùng nông thôn và chủ yếu là sản xuất nông
nghiệp, làm thuê; không có vốn hoặc thiếu vốn sản xuất, thiếu đất canh tác, thiếu
phương tiện sản xuất, ốm đau nặng, thiếu lao động, đông người ăn theo, có lao động
nhưng không có việc làm hoặc thiếu việc làm, không biết cách làm ăn, không có tay
nghề, mắc các tệ nạn xã hội, chây lười lao động, thu nhập thấp, khả năng tiếp cận
các dịch vụ xã hội chưa cao, đặc biệt là người nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số,
vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn,…[6, tr.97; 36, tr.4]
* Về đời sống tâm lý
Người nghèo thường mặt cảm, tự ti do hoàn cảnh, số phận của mình, sống
thụ động trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ từ các chính sách giảm nghèo trong đó có
chính sách cho không của nhà nước, điều kiện sống của người nghèo luôn thấp hơn
mặt bằng chung của cộng đồng nơi cư trú. Đồng thời, người nghèo gặp các nguy cơ
trong cuộc sống, phải đối mặt với khó khăn và thách thức, nhất là các dịch vụ về
chăm sóc sức khỏe, nhà ở, giáo dục, nước sạch, thông tin,…. Người nghèo ngại giao
tiếp và tham gia vào các hoạt động xã hội, không mạnh dạn tham gia đề xuất ý kiến
ở cộng đồng, cho rằng lời nói của mình không có giá trị, không được mọi người
chấp nhận và ít bộc lộ nguyện vọng của mình. Song song đó, có một bộ phận người
10



11


thức ăn hợp vệ sinh để có thể đảm bảo cho sức khỏe, có khả năng tái sản xuất sức
lao động, tránh bị bệnh tật.
- Nhu cầu về sự tôn trọng: Họ mong muốn được mọi người xung quanh,
hàng xóm tôn trọng mình như bao người khác, không được kỳ thị, được góp tiếng
nói của mình vào cộng đồng, được mọi người lắng nghe và tham gia đầy đủ vào các
hoạt động xã hội [6, tr.97; 35, tr.5].
1.2. Lý luận về công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo
1.2.1. Một số khái niệm
* Khái niệm về công tác xã hội
Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp
các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng
cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn
lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa
các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội” [13].
* Khái niệm công tác xã hội cá nhân
Công tác xã hội cá nhân (trong tiếng Anh là Case Work hay Working
with individuals). Công tác xã hội cá nhân (CTXHCN) được xem như phương pháp
của CTXH thông qua mối quan hệ tương tác 1-1 giữa nhân viên xã hội (NVXH) với
cá nhân thân chủ nhằm trợ giúp họ giải quyết các vấn đề nảy sinh từ sự thay đổi
(kinh tế- xã hội) của môi trường, giúp họ điều chỉnh bản thân và cách thức tương tác
với môi trường. (Charle Zastrow, 2003), Fardey O.W.et la (2000) cũng coi CTXH
cá nhân là phương pháp trợ giúp mà ở đó NVXH sử dụng hệ thống giá trị, kiến thức
hành vi con người và các kỹ năng chuyên môn về công tác xã hội để giúp đỡ cá
nhân và gia đình giải quyết các vấn đề tâm lý xã hội, xử lý các mối quan hệ giữa
con người với môi trường xung quanh thôngqua mối quan hệ tương tác 1-1 [7].
Công tác xã hội cá nhân là một phương pháp can thiệp của ngành công tác xã
hội, thông qua mối quan hệ 1-1 giữa nhân viên xã hội và cá nhân, nhằm giúp cá

nhằm trợ giúp tâm lý, tư vấn, kết nối nguồn lực để giúp đỡ gia đình chị vượt qua
khó khăn trước mắt và lâu dài, ổn định cuộc sống, vươn lên thoát nghèo, giá trị xã
hội đối với chị, gia đình chị được nâng lên.
* Phương pháp
Người trợ giúp là nhân viên CTXH, họ sử dụng các công cụ và phương
13


pháp cũng như chuyên môn công tác xã hội trong đánh giá nhu cầu, lập kế hoạch
huy động nguồn lực vào tổ chức can thiệp trợ giúp người nghèo.
CTXH cá nhân là một phương pháp can thiệp của CTXH quan tâm đến
những vấn đề về nhân cách mà một thân chủ trải nghiệm. Mục đích của CTXH cá
nhân là phục hồi, củng cố và phát triển chức năng xã hội của cá nhân và gia đình.
Nhân viên CTXH thực hiện điều này bằng cách giúp tiếp cận các tài nguyên cần
thiết. Phương pháp này tập trung vào vấn đề của cá nhân với mối liên hệ về tâm lý
xã hội, bối cảnh xã hội. Các nhà tiên phong trong CTXH cá nhân đã triển khai cách
tiếp cận tâm lý xã hội. Mối quan tâm chính là thực tiễn tâm lý xã hội nội tâm của
con người và bối cảnh xã hội.
Phương pháp tiếp cận để giải quyết vấn đề đối với thân chủ là một cách trị
liệu. Cách tiếp cận tập trung vào việc giúp thân chủ đạt một mục tiêu cụ thể trong
thời gian nhất định. Thực hiện mục tiêu ấy chính là trị liệu. Kế đó là “can thiệp khi
khủng khoảng” do nhiều nhân viên CTXH thực hiện, đây là tích cực tác động vào
chức năng hoạt động tâm lý xã hội của một cá nhân trong giai đoạn khủng khoảng.
Sự lựa chọn phương pháp nào tùy thuộc sự thẩm định về tâm sinh lý của cá nhân
trong tình huống xã hội. Nhân viên CTXH phải có kiến thức cơ bản về tương tác
giữa các ảnh hưởng sinh lý, tâm lý, văn hóa xã hội trên hoạt động của cá nhân.
Nhân viên CTXH cũng phải biết mối quan hệ giữa con người và môi trường. Các
học thuyết về tâm lý giúp Nhân viên CTXH hiểu hành vi quá khứ và tương lai của
thân chủ và dự báo được những gì sẽ xảy ra. Vì chính thân chủ là người phải hành
động để giải quyết vấn đề của mình trong khả năng của thân chủ. Nhân viên CTXH

dân, người nghèo,...nắm bắt được các chủ trương của Đảng, chính sách giảm nghèo
của Nhà nước, các chương trình, dự án, đề án, các mô hình, gương điển hình trong
công tác giảm nghèo thông qua nhiều hình thức truyền thông trực tiếp, gián tiếp
phong phú, đa dạng (xây dựng phim, phóng sự,tin, bài, panô, appich, poster, tờ rơi,
tờ gấp, tài liệu, sách cẩm nang, hội nghị, hội thảo, tập huấn, tuyên truyền nhóm, nói
chuyện chuyên đề, hội thi,liên quan,…liên qua đến công tác giảm nghèo, gương
điển hình thoát nghèo)… Nhân viên CTXH vận dụng các kiến thức, kỹ năng trong
hoạt đông truyền thông để tuyên truyền, vận động người dân nhất là người nghèo
nâng cao nhận thức từ đó thay đổi thái độ, hành vi để có những hành động phù hợp
với bản thân mình nhằm vươn lên thoát nghèo bền vững.
- Hoạt động kết nối nguồn lực cho người nghèo
15


Đây là một trong các vai trò của nhân viên CTXH và là hoạt động không thể
thiếu của nhân viên CTXH khi làm việc với người nghèo, nhân viên CTXH phải
nắm bắt được các nguồn lực sẵn có của người nghèo và huy động các nguồn lực
khác trong cộng đồng (nguồn lực bên trong, nguồn lực bên ngoài) để từ đó kết nối
các nguồn lực giúp đỡ người nghèo. Thông qua các nguồn lực đó để họ có thể giải
quyết được các vấn đề mà họ gặp khó khăn. Bên cạnh đó, nhân viên CTXH phối
hợp với các ban ngành, đoàn thể, tổ chức, cá nhân để vận động, tìm nguồn lực để hỗ
trợ cho người nghèo một cách có hiệu quả để họ vươn lên giải quyết vấn đề nghèo
đói của chính mình.
- Thực hiện công tác tư vấn, tham vấn về giảm nghèo cho người nghèo
Hoạt động tư vấn, tham vấn cho người nghèo là hết sức cần thiết vì bản thân
người nghèo gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống. Do đó, nhân viên CTXH đóng
vai trò là người tham vấn, tư vấn cho người nghèo tìm các giải pháp phù hợp nhất
trong việc lập kế hoạch sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt, tìm kiếm việc làm,…để họ
quyết định công việc phù hợp cho bản thân mình, mang lại thu nhập, góp phần ổn
định đời sống cho người nghèo.

cộng đồng nghèo để thực hiện tốt việc hỗ trợ và trợ giúp cho họ.
- Vai trò vận động và kết nối nguồn lực: CTXH cá nhân trợ giúp đối tượng
(người nghèo) tìm kiếm nguồn lực (nội lực, ngoại lực) cho giải quyết vấn đề. Nguồn
lực có thể bao gồm về con người, về cơ sở vật chất, về tài chính, kỹ thuật, thông tin,
sự ủng hộ về chính sách, chính trị và quan điểm...
- Vai trò trợ giúp chăm sóc: Xây dựng và thực hiện kế hoạch cộng đồng
(cộng đồng nghèo hay cộng đồng thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt
khó khăn hoặc khó khăn), trên cơ sở nhu cầu của cộng đồng đã được cộng đồng xác
định, CTXH cá nhân giúp cộng đồng xây dựng kế hoạch hành động phù hợp với
điều kiện hoàn cảnh, tiềm năng của cộng đồng để giải quyết vấn đề của cộng đồng.
- Vai trò thúc đẩy, tạo sự thay đổi: CTXH cá nhân nắm vững tình trạng nghèo
của cộng đồng, tạo điều kiện và khuyến khích cho mọi người dân, nhóm tích cực tham
gia ý kiến, tăng cường khả năng, trách nhiệm, quyền hạn và quan hệ của họ trong
công cuộc giảm nghèo.
- Vai trò quản lý và giám sát: CTXH cá nhân thực hiện những công việc cần
thiết cho việc quản lý các hoạt động, các chương trình, lên kế hoạch và triển khai kế
hoạch, các chương trình dịch vụ cho người nghèo. Đồng thời, tham gia giám sát,
17


đánh giá kết quả việc thực hiện chính sách, chương trình, kế hoạch giảm nghèo,
phát hiện những vấn đề nảy sinh trong quá trình tổ chức thực hiện để kiến nghị các
bên có liên quan có những điều chỉnh phù hợp.
Thông qua các phương pháp, hoạt động chuyên nghiệp, CTXH cá nhân sẽ
trực tiếp giải quyết các vấn đề của người nghèo, hỗ trợ giải quyết các vấn đề về dạy
nghề, việc làm, thu nhập, các vấn đề xã hội nảy sinh khác cho người nghèo, hộ
nghèo và cộng đồng nghèo [7].
1.2.4. Các nguyên tắc trong công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo
- Chấp nhận thân chủ
Chấp nhận đòi hỏi việc tiếp nhận thân chủ, không tính toán, không thành

hiện những nét đặc thù của trường hợp đó, không áp dụng cách giải quyết giống
nhau cho các trường hợp. Giải pháp cho mỗi trường hợp cần được cân nhắc trên cơ
sở nhu cầu, đặc điểm, khả năng và nguồn lực mà họ có. Thực hiện nguyên tắc này
trong hoạt động của mình sẽ cho phép nhân viên CTXH đảm bảo lợi ích thiết thực
của thân chủ, đáp ứng đúng nhu cầu của thân chủ và rèn luyện khả năng ứng phó
linh hoạt trong giải quyết vấn đề, khắc phục sự bảo thủ, quan liêu, cứng nhắc trong
quá trình trợ giúp.
- Đảm bảo tính riêng tư, kín đáo của người nghèo
Kín đáo hay giữ bí mật thông tin là một trong những nguyên tắc cơ bản
không chỉ ngành CTXH sử dụng mà nhiều ngành khác cũng áp dụng. Nó thể hiện
sự tôn trọng những vấn đề riêng tư của thân chủ và không được chia sẻ những thông
tin của thân chủ với người khác khi chưa có sự đồng ý của thân chủ. Nếu nhân viên
CTXH quán triệt tốt nguyên tắc này sẽ tạo điều kiện để thân chủ chân thành cởi mở,
bộc lộ những cảm xúc, tâm trạng và những khó khăn của họ. Đảm bảo tính riêng tư
của trường hợp còn thể hiện ở việc bảo mật lưu trữ hồ sơ. Khi tham vấn hay phỏng
vấn cần đảm bảo không gian yên tĩnh và riêng tư cho cuộc trò chuyện, nhân viên
CTXH tránh trao đổi hay hỏi chuyện về những vấn đề mang tính tế nhị của thân chủ
ở những chỗ đông người.
Việc đảm bảo bí mật thông tin của thân chủ sẽ giúp cho thân chủ tin tưởng
vào nhân viên CTXH, từ đó họ sẵn sàng chia sẻ và hợp tác. Bên cạnh đó việc đảm
bảo bí mật của thân chủ còn là yêu cầu mang tính nhân văn trong quan hệ con người
và quan hệ nghề nghiệp.
- Tự ý thức về bản thân
19


Trong khi thực thi nhiệm vụ, với tư cách là người đại diện của cơ quan xã hội
nhân viên CTXH cần ý thức rằng vai trò của mình là hỗ trợ thân chủ giải quyết vấn
đề. Phục vụ thân chủ là trách nhiệm của nhân viên CTXH, vì vậy cần tránh lạm
dụng quyền lực, vị trí công việc để mưu lợi cá nhân.

của con người chịu sự tác động của cả hệ thống gia đình, hệ thống xã hội [14, tr.61].
Công tác xã hội cá nhân đối với người nghèo được vận dụng thuyết này
nhằm phức hợp gồm nhiều yếu tố liên quan với nhau (đời sống vật chất lẫn tinh
thần của người nghèo) và mỗi biến động trong một yếu tố nào đó đều tác động lên
những yếu tố khác và cũng tác động lên toàn bộ hệ thống. Do đó, khi làm việc với
người nghèo, nhân viên CTXH đòi hỏi phải tích hợp nhiều yếu tố với nhau, để hỗ
trợ, giúp đỡ người nghèo thay đổi được hành vi và vượt lên thoát nghèo.
- Thuyết gắn bó
Thuyết gắn bó của J. Bowlby được phát triển từ những năm 1940 ở Anh để
giải thích mối quan hệ giữa cá nhân và nhân viên công tác xã hội. Lý thuyết này cho
rằng, cá nhân sẽ bị ảnh hưởng về mặt tinh thần nếu không hình hình những quan hệ
gắn bó trong môi trường cộng đồng, xã hội hoặc những quan hệ gắn bó bị phá hủy.
Bowlby cho rằng các mối quan hệ gắn bó không cố định và có thể thay đổi.
Bowlby coi sự gắn bó là quan tâm chính của mọi người trong suốt cuộc đời,
sự gắn bó như một nhu cầu sinh học của mọi con người. Xác định việc tìm kiếm gắn
bó như là động lực chính của cá nhân với cá nhân sẽ tìm một người để gắn bó, các
tổn thương đáng kể sẽ xảy ra cho những cá nhân không có khả năng tìm được một
người giúp đỡ, tích cực để gắn bó [14, tr.122].
Áp dụng thuyết này vào trong bản thân người nghèo là cần thiết, thuyết này
cho thấy người nghèo sẽ bị ảnh hưởng về mặt tinh thần nếu không gắn bó với môi
trường, cộng đồng, xã hội, trong đó có nhân viên công tác xã hội.
- Thuyết về quyền con người
Tiếp cận dựa trên quyền con người là một khung lý thuyết có chứa đựng các
nguyên tắc, tiêu chuẩn và mục tiêu của hệ thống quyền con người trong quá trình
lập kế hoạch và tiến trình thực hiện các hoạt động CTXH cá nhân.
Cách tiếp cận dựa trên quyền lấy nền tảng cơ bản chính là hệ thống quyền
con người đã được pháp luật quốc tế bảo vệ. Với cách tiếp cận theo quyền, nhân
viên xã hội cần dựa trên hệ thống quyền con người để xây dựng các phương pháp
và hoạt động của những mô hình phát triển xã hội. Quyền con người là được tiếp
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status