MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta nhất quán khẳng định:
Xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn trong toàn bộ sự
nghiệp cách mạng của Đảng. Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng ta khẳng định:
Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then
chốt. Đảng đã thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, giữ vững bản chất cách
mạng và khoa học; xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức
và đạo đức, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của
Đảng ngang tầm nhiệm vụ. Xây dựng đội ngũ đảng viên là một nội dung cơ
bản của công tác xây dựng Đảng; số lượng và chất lượng đội ngũ đảng viên
trực tiếp quyết định đến năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:“Đảng mạnh là do chi bộ tốt. Chi bộ tốt là
do các đảng viên đều tốt”[46, tr.94] hoặc: “Đảng là gồm các đảng viên mà tổ
chức nên. Mọi công việc của Đảng đều do đảng viên làm. Mọi chính sách của
Đảng đều do đảng viên mà thấu đến quần chúng. Mọi khẩu hiệu, mọi kế
hoạch của Đảng đều do đảng viên cố gắng thực hiện”[42, tr.235-236].
Đảng bộ xã là nơi trực tiếp quán triệt, triển khai, tổ chức thực hiện mọi
chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các
chỉ thị, nghị quyết của cấp ủy, chính quyền địa phương cấp trên. Thực tiễn đã
chứng minh, nếu không xây dựng được đội ngũ đảng viên có số lượng đủ,
chất lượng cao, cơ cấu hợp lý, phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của đội
ngũ cán bộ, đảng viên thì mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và
Nhà nước cho dù có đúng đắn, khoa học cũng sẽ không thể được thực hiện
thắng lợi trong thực tiễn.
Đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ xã của huyện Thanh Miện là lực
lượng trực tiếp quán triệt, cụ thể hóa, lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện
thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
ở cơ sở; lực lượng nòng cốt trực tiếp lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ
phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố quốc phòng trên địa bàn xã; đồng
thời, là lực lượng nòng cốt trong các phong trào cách mạng và nguồn bổ sung
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; góp phần xây dựng Đảng bộ
huyện Thanh Miện vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; có
năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu cao. Vì vậy, đề tài:“Xây dựng đội ngũ đảng
4
viên của đảng bộ xã ở huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương hiện nay”, là vấn
đề cơ bản, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
* Nhóm các công trình nghiên cứu tiêu biểu bàn về nâng cao năng
lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng:
Nguyễn Phú Trọng, Tô Huy Rứa và Trần Khắc Việt đồng chủ biên:
“Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ mới”,
Nxb CTQG, H.2004. Đỗ Ngọc Ninh:“Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu của các đảng bộ phường ở thủ đô Hà Nội hiện nay”, Nxb CTQG,
H.2004. Lê Văn Dương:“Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của
Đảng trong thời kỳ mới”, Nxb CTQG, H.2004. Lê Văn Dũng (2007), “Nâng
cao NLLĐ, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng trong quân đội”, Thông tin
chuyên đề, Nxb CTQG, Hà Nội 2007. Nguyễn Văn Giang (2007), “Nâng cao
NLLĐ, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng - thực trạng và giải pháp”, Thông
tin chuyên đề, Nxb CTQG, Hà Nội 2007. Lâm Sĩ Nghĩa, số (2011), “Nâng cao
năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng”, Tạp chí Xây dựng
Đảng, 7- 2011. Bùi Quang Cường, số (2015), “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức
chiến đấu của cấp uỷ, tổ chức Đảng các cấp trong Đảng bộ Quân đội hiện nay”,
Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị HVCT, 2-2015.
Từ nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, các công trình trên đã nghiên cứu
đã làm rõ những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến
đấu của đảng, của tổ chức cơ sở Đảng, qua đó rút ra bài học kinh nghiệm và
Tạp chí Xây dựng Đảng, 4-2014. Đoàn Khắc Mạnh:“Một số biện pháp nâng
cao chất lượng quản lý đảng viên là học viên ở các chi bộ, đảng bộ cơ sở
thuộc Đảng bộ Trường Sĩ quan Chính trị”, Tạp chí KHCTQS số 1/2011.
Nguyễn Phú Trọng: “Quyết tâm cao biện pháp quyết liệt nhằm tạo chuyển
biến mới về xây dựng Đảng”, Nxb CTQG, H.2012. Phạm Thanh Tùng:“Nâng
cao chất lượng sinh hoạt chi bộ- thực trạng và giải pháp”, Tạp chí Xây dựng
Đảng, số 3/2015.
Các công trình trên đã lựa chọn đối tượng nghiên cứu khác nhau về mục
tiêu, nhiệm vụ, nội dung, phạm vi nghiên cứu và đã có đóng góp nhất định về
lý luận và thực tiễn; các công trình, đề tài đã đề cập khá sâu sắc, toàn diện liên
quan đến đảng viên và công tác xây dựng đội ngũ đảng viên. Tuy nhiên, đến
nay chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống
6
dưới góc độ chuyên ngành Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước về:“Xây
dựng đội ngũ đảng viên của đảng bộ xã ở huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương
hiện nay”. Vì vậy, đề tài luận văn mà tác giả lựa chọn, nghiên cứu không
trùng lặp với các công trình khoa học, các luận án, luận văn đã nghiệm thu,
công bố.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
*Mục đích nghiên cứu
Luận giải làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận, thực tiễn và đề xuất
giải pháp tăng cường xây dựng đội ngũ đảng viên của đảng bộ xã ở huyện
Thanh Miện, tỉnh Hải Dương hiện nay.
*Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận giải làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận, thực tiễn xây dựng
đội ngũ đảng viên của đảng bộ xã ở huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.
Đánh giá đúng thực trạng và tổng kết một số kinh nghiệm xây dựng đội
ngũ đảng viên của đảng bộ xã ở huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.
học chuyên ngành và liên quan; trong đó chú trọng các phương pháp: phân
tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, lôgic-lịch sử, nghiên cứu lý luận, tổng kết
thực tiễn, điều tra xã hội học và phương pháp chuyên gia.
6. Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý
luận về xây dựng đội ngũ đảng viên của đảng bộ xã ở huyện Thanh Miện;
cung cấp thêm cơ sở khoa học giúp cấp ủy, chính quyền huyện Thanh Miện
vận dụng trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đội ngũ đảng viên của đảng bộ xã
vững mạnh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ hiện nay.
Đề tài còn có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy tại
các trường chính trị tỉnh, trung tâm bồi dưỡng chính trị các quận, huyện, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh hiện nay.
7. Kết cấu của đề tài
Kết cấu đề tài gồm: Phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục
tài liệu tham khảo và phần phụ lục.
8
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ ĐẢNG VIÊN CỦA ĐẢNG BỘ XÃ
Ở HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG
1.1. Đội ngũ đảng viên và những vấn đề cơ bản về xây dựng đội ngũ
đảng viên của đảng bộ xã ở huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương
1.1.1. Đảng bộ xã và đội ngũ đảng viên của đảng bộ xã ở huyện
Thanh Miện, tỉnh Hải Dương
* Khái quát đảng bộ xã ở huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương
Huyện Thanh Miện thuộc vùng đồng bằng sông Hồng nằm ở phía Nam
tỉnh Hải Dương có 19 xã, thị trấn. Diện tích tự nhiên của huyện là 122,337
học cơ sở và trạm xá. Hiện nay, BCH đảng bộ xã thường có số lượng từ 13 đến 15
ủy viên; BTV đảng ủy thường có 05 ủy viên. Ủy ban kiểm tra đảng ủy xã có 05
thành viên gồm chủ nhiệm, phó chủ nhiệm và các ủy viên. Tất cả các chi bộ trực
thuộc đảng ủy xã thường có chi ủy từ 03 đến 05 ủy viên.
Chức năng của Đảng bộ xã
Quán triệt Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XI) quy định về chức
năng, nhiệm vụ của TCCSĐ và Quy định số 94-QĐ/TW và Quy định số 95 QĐ/TW ngày 03/3/2004 của Ban Bí thư Trung ương, đảng bộ xã thuộc huyện
Thanh Miện có chức năng: là hạt nhân chính trị, lãnh đạo thực hiện đường lối,
chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; lãnh đạo phát triển
kinh tế - xã hội, xây dựng hệ thống chính trị ở xã vững mạnh, giàu đẹp, văn
minh; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, động
viên nhân dân làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước.
Nhiệm vụ của đảng bộ xã thuộc huyện Thanh Miện bao gồm:
Một là, lãnh đạo nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc
phòng. Lãnh đạo chính quyền thực hiện các chủ trương, nhiệm vụ phát triển
kinh tế - xã hội theo nghị quyết đại hội của đảng bộ xã, thị trấn và của cấp
trên; chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới; phát
triển sự nghiệp văn hoá, giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường, thực hiện tốt các
chính sách xã hội, xoá đói, giảm nghèo, không ngừng nâng cao đời sống vật
chất và tinh thần của nhân dân, động viên nhân dân làm tròn nghĩa vụ đối với
Nhà nước. Kịp thời giải quyết những vướng mắc phát sinh trong cộng đồng
dân cư ở cơ sở theo đúng luật pháp, không để tích tụ mâu thuẫn trở thành
những điểm nóng, không để xảy ra tình trạng khiếu kiện tập thể, vượt cấp
10
hoặc lợi dụng dân chủ để làm mất ổn định chính trị ở xã, thị trấn. Lãnh đạo
thực hiện nhiệm vụ quân sự quốc phòng địa phương và chính sách hậu
phương quân đội, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội; đề cao
tinh thần cảnh giác cách mạng, bảo vệ nội bộ, bảo vệ tài sản của Nhà nước,
của HĐND, UBND, MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội theo luật định và
điều lệ của mỗi tổ chức. Cấp uỷ đề xuất ý kiến trong việc lựa chọn, giới thiệu
cán bộ tham gia vào các cơ quan lãnh đạo của Đảng, chính quyền, đoàn thể
nhân dân ở cấp trên và cán bộ chủ chốt ở cơ sở do cấp trên quản lý.
Bốn là, lãnh đạo MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội. Lãnh đạo xây
dựng MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội vững mạnh, thực hiện đúng chức
năng, nhiệm vụ theo luật định và điều lệ của mỗi đoàn thể. Thực hiện tốt các chính
sách về dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước, xây dựng khối đoàn kết toàn
dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thi đua thực hiện có hiệu quả các
nhiệm vụ được giao. Lãnh đạo MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội tham gia
xây dựng, bảo vệ đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước và những chủ trương, chính sách của đảng ủy, UBND xã về xây dựng và
quản lý nông nghiệp, nông dân và nông thôn.
Năm là, xây dựng đảng bộ TSVM. Đề ra chủ trương, biện pháp xây
dựng đảng bộ, chi bộ TSVM, gắn với xây dựng, củng cố hệ thống chính trị ở
cơ sở; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đội ngũ
đảng viên, đấu tranh chống tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các biểu
hiện tiêu cực khác; nâng cao chất lượng lãnh đạo của các chi bộ, tổ đảng ở
thôn (xóm). Thực hiện đúng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, nhất và
nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ tự phê bình và phê bình; thực hiện có
nền nếp và nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, nhất là sinh hoạt chi bộ, bảo
đảm tính lãnh đạo, tính giáo dục và tính chiến đấu. Giáo dục, rèn luyện đội
ngũ đảng viên nêu cao vai trò tiền phong, gương mẫu, phấn đấu trở thành
người lao động giỏi, công dân mẫu mực; nghiêm chỉnh chấp hành và vận
động, thuyết phục nhân dân chấp hành nghị quyết của tổ chức đảng, quyết
định của chính quyền và chương trình hành động của các đoàn thể nhân
dân. Làm tốt công tác tạo nguồn và phát triển đảng viên, bảo đảm về tiêu chuẩn
và quy trình, chú trọng đối tượng là đoàn viên thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
và những người lao động giỏi, có uy tín trong quần chúng. Xây dựng cấp uỷ và
bí thư đảng uỷ bảo đảm tiêu chuẩn về phẩm chất, năng lực, thực sự là trung tâm
hiện dân chủ ở cơ sở, thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân kiểm
tra”, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước; Quy chế dân chủ cơ sở
và Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Hiện nay, tốc độ phát
triển công nghiệp, dịch vụ có xu hướng tăng nhanh, đang trong quá trình đô thị
hóa nhanh chóng. Để khai thác hiệu quả tiềm năng và lợi thế của huyện Thanh
13
Miện. Huyện ủy đã thông qua chương trình kế hoạch, đề án phát triển nông
nghiệp, công nghiệp và dịch vụ giai đoạn 2016-2020, với chủ trương phát triển
nhanh nông nghiệp, công nghiệp theo hướng hiện đại, thích ứng và hội nhập
quốc tế, ưu tiên các dự án lớn, công nghệ tiên tiến, sản phẩm có sức cạnh tranh
cao, thân thiện với môi trường, tạo nguồn thu lớn cho ngân sách. Để phát triển
các khu công nghiệp, khu thương mại, dân cư tập trung, Huyện còn gặp không ít
khó khăn về giải phóng mặt bằng, đền bù, giải quyết công ăn, việc làm cho
người dân bị thu hồi đất canh tác, bảo đảm cho đời sống của nhân dân sau khi
Nhà nước thu hồi ruộng đất. Thực tế những năm qua, một số xã thuộc huyện
Thanh Miện chưa giải quyết tốt vấn đề này nên đã xảy ra những “điểm nóng”, có
khiếu kiện kéo dài, gây bức xúc trong nhân dân, cản trở sự phát triển kinh tế,
chính trị - xã hội ở địa phương.
Hai là, đối tượng lãnh đạo của các đảng bộ xã thuộc huyện Thanh Miện
chủ yếu là nông dân làm nông nghiệp, sản xuất nhỏ. Người dân ở các xã thuộc
huyện Thanh Miện chủ yếu là nông dân hiền lành, chất phác, cần cù, chịu khó
lao động sản xuất và một số tham gia sản xuất tiểu thủ công; hộ kinh doanh
dịch vụ, buôn bán nhỏ. Nhân dân ở các xã chủ yếu sống bằng canh tác nông
nghiệp, chăn nuôi gia súc, gia cầm,... lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất
kinh doanh không cao nên đời sống còn không ít khó khăn, vất vả. Những
người trẻ tuổi có trình độ và tay nghề cao thường tìm cách “ly hương” hoặc
xuất khẩu lao động để mong có cuộc sống sung túc, khá giả. Hoạt động sản
xuất nông nghiệp là chủ yếu nên mang tính mùa vụ, thời gian lao động ngắn,
lễ…Đây là đặc điểm chi phối rất lớn đến xây dựng đội ngũ đảng viên ở các đảng
bộ xã.
Ba là, trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên ở các đảng bộ
xã huyện Thanh Miện có sự chênh lệch. Đội ngũ cán bộ, đảng viên ở các đảng
bộ xã của huyện Thanh Miện giữ các cương vị công tác và chuyên môn
nghiệp vụ khác nhau. Về cương vị công tác, có một bộ phận cán bộ, đảng viên
ở các đảng bộ xã huyện Thanh Miện đang công tác trong hệ thống chính trị
xã; có người giữ cương vị là cán bộ chủ chốt của cấp ủy đảng, chính quyền,
MTTQ và các đoàn thể chính trị- xã hội; có người là công chức, viên chức
làm việc trong các tổ chức của hệ thống chính trị, của các trường học... Một
bộ phận đảng viên ở các thôn, xóm khu dân cư nguyên là cán bộ của các cơ
quan, ban ngành của huyện, tỉnh, Trung ương và lực lượng vũ trang đã nghỉ
15
hưu, mất sức về sống với gia đình ở địa phương. Trình độ giác ngộ chính trị,
trình độ học vấn, sự khác biệt nhất định về bản lĩnh chính trị, về kinh nghiệm
và vốn sống, tuổi đời cũng là một đặc điểm chi phối đến công tác quản lý,
giáo dục, rèn luyện đội ngũ đảng viên. Số cán bộ, đảng viên đã qua các cương
vị lãnh đạo, quản lý, được tu dưỡng, rèn luyện trong thực tiễn hoạt động chính
trị - xã hội, nên ở họ có khả năng tự ý thức được về bản thân. Tuy nhiên, ở đội
ngũ này dễ nảy sinh tư tưởng công thần, địa vị, đôi khi gia trưởng, độc đoán,
chủ quan, coi thường lớp cán bộ trẻ. Số cán bộ, đảng viên trẻ, họ chưa trải qua
thử thách nhiều trong thực tiễn chính trị - xã hội; những đức tính của người cán
bộ như: tính kỷ luật, tính tự kiềm chế, khả năng làm chủ bản thân, ý thức tự phê
bình và phê bình, kỹ năng đánh giá hành vi, mặt mạnh, mặt yếu của bản thân còn
nhiều mặt hạn chế; trong cách tư duy thiếu biện chứng, mềm dẻo; trong giao
tiếp, quan hệ với con người, thiếu tế nhị hoặc theo cảm tính, che giấu khuyết
điểm cho nhau. Đặc điểm này, đòi hỏi cấp ủy các cấp phải nghiên cứu nắm
vững đặc điểm của từng đối tượng để xác định đúng nội dung, hình thức, biện
năng nhiệm vụ, điều kiện công tác, sinh hoạt có thể chia đảng viên ở các xã,
thị trấn theo các nhóm sau: Những đảng viên đang công tác trong hệ thống
chính trị xã, thị trấn và ở các thôn, khu dân cư; những đảng viên là cán bộ
công chức đã về hưu hoặc được hưởng các chế độ, chính sách đãi ngộ của
Đảng, Nhà nước như thương bệnh binh, gia đình có công với cách mạng,...
* Vai trò của đội ngũ đảng viên của Đảng bộ xã ở huyện Thanh Miện,
tỉnh Hải Dương
Thứ nhất, đội ngũ đảng viên là lực lượng trực tiếp tuyên truyền, phổ
biến, quán triệt và tổ chức, động viên quần chúng thực hiện thắng lợi đường
lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; các chủ
trương, nghị quyết của cấp ủy, chính quyền địa phương. Mọi quan điểm,
đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước muốn đi
vào đời sống xã hội đều phải được quán triệt, cụ thể hóa và triển khai thực
hiện thắng lợi ở địa phương; đội ngũ đảng viên cơ sở trực tiếp quán triệt, cụ
thể hóa và triển khai thực hiện quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách
pháp luật của Nhà nước trong thực tiễn; đồng thời là nơi kiểm nghiệm tính
đúng sai và kịp thời đề xuất, bổ sung, sửa đổi hoàn chỉnh quan điểm, đường
lối của Đảng, chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước. Chủ tịch Hồ
Chí Minh khẳng định: “Mọi công việc của Đảng đều do đảng viên làm. Mọi
nghị quyết của Đảng đều do đảng viên chấp hành…Mọi khẩu hiệu, mọi kế
17
hoạch của Đảng đều do đảng viên cố gắng thực hiện” [42, tr.235-236]. Cán
bộ, đảng viên ở đảng bộ xã là lực lượng nòng cốt trực tiếp lãnh đạo, quản lý
địa phương, cơ sở; là những người thường xuyên, trực tiếp tuyên truyền, vận
động Nhân dân, bảo đảm cho Nhân dân luôn có nhận thức đúng đắn về các
quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước; đồng thời tập hợp lực lượng và phát huy sức mạnh của Nhân dân trong
quán triệt, triển khai thực hiện thắng lợi mọi chủ trương, đường lối của Đảng,
khoa học sẽ là điều kiện, tiền đề bảo đảm cho phát triển kinh tế, văn hóa - xã
hội, quốc phòng an ninh trên địa bàn huyện. Đội ngũ đảng viên của Đảng bộ
xã ở huyện Thanh Miện có vai trò hết sức quan trọng trong củng cố, tăng
cường mối liên hệ mật thiết gắn bó giữa Đảng với quần chúng ở địa phương.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Mọi chính sách của Đảng đều do đảng
viên mà thấu đến quần chúng” [42, tr.235] và: “Mỗi đảng viên là một người
thay mặt cho Đảng trước quần chúng, để giải thích chính sách của Đảng và
của Chính phủ cho quần chúng hiểu rõ và vui lòng thi hành”.[41, tr.189]
Thứ ba, đội ngũ đảng viên của Đảng bộ xã ở huyện Thanh Miện là
nhân tố quan trọng tạo thành năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các
đảng bộ, chi bộ cơ; đồng thời là lực lượng nòng cốt của các tổ chức trong hệ
thống chính trị cơ sở. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức
đảng cơ sở không chỉ phụ thuộc vào tính đúng đắn, sáng tạo của các chủ
trương, nghị quyết lãnh đạo mà trước hết là chất lượng của đội ngũ cán bộ,
đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đảng mạnh là do chi bộ mạnh.
Chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt” [44, tr.270] và “Muốn cho quần
chúng hăng hái thi hành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương
mẫu để quần chúng bắt chước, làm theo” [41, tr.189]. Thực tế cho thấy, năng
lực lãnh đạo và sức chiến đấu của đảng bộ xã và các chi bộ được quy định
trước hết bởi chất lượng đội ngũ đảng viên. Đội ngũ đảng viên của Đảng bộ
xã ở huyện Thanh Miện là hạt nhân đoàn kết, lực lượng nòng cốt tập hợp và
vận động Nhân dân, phát huy vai trò, sức mạnh của toàn dân trong đổi mới,
kiện toàn, hoàn thiện hệ thống chính trị cơ sở. Họ trực tiếp đảm trách các
cương vị chủ trì, chủ chốt của các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở.
Thực tiễn chứng minh, chất lượng của các cấp ủy, chi bộ, tổ chức chính
quyền, đoàn thể nhân dân và các cơ quan, đơn vị sự nghiệp trên địa bàn huyện
Thanh Miện phụ thuộc rất lớn vào phẩm chất, năng lực của đội ngũ đảng viên
19
20
diện và bảo vệ cho quyền, lợi ích của Nhân dân. Đặc điểm này, đòi hỏi mỗi
cán bộ, đảng viên phải thường xuyên nắm chắc quan điểm, đường lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đồng thời phải có đủ năng lực để
cụ thể hóa, vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào thực tiễn, đảm bảo sát với từng
lĩnh vực, từng mối quan hệ cụ thể ở địa phương. Bởi vậy, nội dung, biện pháp
xây dựng đội ngũ đảng viên ở đảng bộ xã phải luôn bám sát yêu cầu chức
trách, nhiệm vụ và các mối quan hệ công tác của từng đảng viên, qua đó mà
củng cố, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa cấp ủy, tổ chức đảng cơ sở
với nhân dân.
Ba là, đời sống kinh tế, mức sống của gia đình và thu nhập cá nhân của
đa số cán bộ, đảng viên của đảng bộ xã còn nhiều khó khăn, thiếu thốn. Khảo
sát thực tế ở đảng bộ huyện Thanh Miện cho thấy, những năm gần đây do
thành tựu của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước và thành tựu phát triển
kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương đem lại nên đời sống kinh tế, mức
sống và thu nhập của gia đình cán bộ, đảng viên của các đảng bộ xã đã được
cải thiện và từng bước được nâng lên. Tuy nhiên, trước yêu cầu của xã hội và
nhu cầu của người dân thì đời sống kinh tế, mức sống và thu nhập của gia
đình của một bộ phận cán bộ, đảng viên ở đảng bộ xã còn nhiều khó khăn
thiếu thốn. Đặc điểm này, tác động đến cán bộ, đảng viên trên nhiều khía
cạnh khác nhau, nhất là tác động đến đến ý chí, niềm tin, động cơ phấn đấu, tu
dưỡng rèn luyện bản thân của đội ngũ đảng viên; đến tinh thần, thái độ, trách
nhiệm phục vụ Nhân dân; ý thức tự giác chấp hành kỷ luật, pháp luật và sự
nhiệt tình trong công tác tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện quan
điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Thực tế cho
thấy, do hoàn cảnh kinh tế khó khăn một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu
hiện lơ là trong công tác, “chân ngoài dài hơn chân trong”, cá biệt có trường
của đảng bộ xã vừa là đối tượng tác động của các tổ chức, các lực lượng, vừa
là chủ thể của quá trình tự quản lý, học tập, tu dưỡng, rèn luyện nâng cao
phẩm chất, năng lực của chính họ…
Lực lượng tham gia xây dựng đội ngũ đảng viên của đảng bộ xã ở
huyện Thanh Miện là các tổ chức trong hệ thống chính trị, toàn bộ đội ngũ
22
cán bộ, đảng viên; quần chúng trong cơ quan, đơn vị; đảng viên đang công tác
và Nhân dân địa phương nơi đảng viên cùng gia đình cư trú.
* Nội dung xây dựng đội ngũ đảng viên của đảng bộ xã ở huyện
Thanh Miện
Xây dựng đội ngũ đảng viên có đủ số lượng, cơ cấu hợp lý, chất lượng
cao đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ lãnh đạo của đảng bộ xã. Nâng cao phẩm chất
chính trị, đạo đức, kiến thức, năng lực của đảng viên. Giáo dục, rèn luyện
nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, bản lĩnh chính trị, giác ngộ sâu sắc mục
tiêu, lý tưởng của Đảng; gương mẫu chấp hành nghiêm Cương lĩnh chính trị,
Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, pháp luật Nhà
nước; chủ trương của cấp ủy, chính quyền đia phương; có đạo đức cách mạng,
lối sống trong sạch, lành mạnh; có ý thức tổ chức kỷ luật; gắn bó mật thiết với
Nhân dân; được Nhân dân yêu quý, tôn trọng, tin tưởng...
* Hình thức, biện pháp xây dựng đội ngũ đảng viên của đảng bộ xã ở
huyện Thanh Miện gồm:
Một là, công tác quản lý đảng viên bao gồm quản lý cả đội ngũ và quản
lý từng đảng viên. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp mà trực tiếp là các chi ủy, chi
bộ thôn, khu dân cư thường xuyên nắm chắc quan điểm, thái độ, hành vi, bản
lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, ý thức, thái độ, trách nhiệm đối với nhiệm
vụ, lịch sử chính trị, các quan hệ xã hội, kết quả công tác, phẩm chất đạo đức,
ý thức tổ chức kỷ luật và lối sống, sinh hoạt của đảng viên và gia đình. Nắm
chắc kiến thức, năng lực, trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ; kiến thức,
Hai là, công tác giáo dục, rèn luyện đảng viên. Nội dung giáo dục, rèn
luyện đảng viên phải toàn diện về phẩm chất chính trị, đạo đức và kiến thức,
năng lực, phương pháp tác phong công tác. Trong bối cảnh hiện nay, cấp ủy
các cấp cần chú trọng trang bị cho đội ngũ đảng viên nắm vững những vấn đề
cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ phát triển kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh của địa phương. Âm
mưu, thủ đoạn, hoạt động chống, phá của các thế lực thù địch đối với cách
mạng Việt Nam. Bồi dưỡng nâng cao bản lĩnh chính trị, lòng yêu nước, trung
thành vô hạn với Đảng, Tổ quốc, hết lòng phụng sự Tổ quốc và Nhân dân; có
ý chí quyết tâm cao, tinh thần chịu đựng gian khổ, chủ động khắc phục khó
khăn, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Nâng cao
trình độ văn hóa khoa học kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức, hiểu
24
biết về nông nghiệp, phát triển nông thôn. Cấp ủy cơ sở và các chi bộ kết hợp
chặt chẽ công tác tư tưởng và tổ chức trong giáo dục, rèn luyện đảng viên. Cải
tiến nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, vận dụng sáng tạo các hình thức
sinh hoạt Đảng, nâng cao tính chiến đấu tự phê bình và phê bình của đội ngũ
đảng viên. Chủ động và tích cực đấu tranh phê phán, bác bỏ mọi quan điểm
sai trái, bảo vệ đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Từng đảng viên phải có kế hoạch tự học tập, rèn luyện không ngừng nâng cao
phẩm chất chính trị, đạo đức, kiến thức, năng lực công tác. Cấp uỷ, cán bộ chủ
trì các cấp thường xuyên kiểm tra, giám sát và đánh giá đúng thực chất ưu
điểm, hạn chế, khuyết điểm của đảng viên. Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục, rèn
luyện của cấp ủy, tổ chức đảng và tổ chức quần chúng trong công tác giáo dục,
rèn luyện đảng viên. Kết hợp giáo dục, rèn luyện đảng viên với giáo dục, rèn
luyện cán bộ. Động viên đảng viên nêu cao ý thức tự giáo dục, rèn luyện, giữ
gìn tư cách đảng viên, giúp đỡ đảng viên khắc phục, sửa chữa khuyết điểm;
nhỏ... Nắm vững và thực hiện đúng điều kiện, tiêu chuẩn, thủ tục, nguyên tắc
công tác phát triển đảng viên. Đại hội XII của Đảng chỉ rõ:“Xây dựng đội ngũ
đảng viên thật sự tiên phong, gương mẫu, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học
dân, có trách nhiệm cao trong công việc, có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo
đức cách mạng, ý thức tổ chức kỷ luật và năng lực hoàn thành nhiệm vụ,
vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức, phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng
của Đảng.” [36, tr.205]. Hiện nay, khi lựa chọn người kết nạp vào Đảng cần
chú ý những vấn đề cơ bản là: Động cơ xin vào Đảng, lai lịch chính trị của
bản thân, lịch sử chính trị của gia đình, các quan hệ xã hội và phẩm chất chính
trị, đạo đức, kiến thức, năng lực, trình độ học vấn, quan điểm quần chúng, uy
tín và khả năng lãnh đạo quần chúng của người vào Đảng. Người xin vào
Đảng phải có lai lịch chính trị rõ ràng, trong sạch, đúng quy định của BCH
Trung ương, phải báo cáo trung thực với tổ chức đảng về lai lịch chính trị và
quan hệ xã hội của bản thân và gia đình. Người xin vào Đảng phải có bản lĩnh
chính trị vững vàng; có niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng của Đảng, có phẩm
chất đạo đức cách mạng trong sáng, có lối sống trong sạch, lành mạnh, có tinh
thần đoàn kết, chấp hành nghiêm pháp luật của Nhà nước, đồng thời phải có
26
kiến thức, năng lực toàn diện, có khả năng tham gia vào công tác lãnh đạo của
đảng bộ, chi bộ và tổ chức, vận động quần chúng, liên hệ mật thiết, gắn bó với
quần chúng, thực sự gương mẫu để quần chúng học tập, có uy tín và khả năng
tổ chức lãnh đạo quần chúng. Để công tác phát triển Đảng chủ động, tích cực,
có chất lượng cao, cấp uỷ đảng cơ sở cần phải điều tra lựa chọn kỹ người
được kết nạp vào Đảng; bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện; giao nhiệm vụ thử
thách; tổ chức kết nạp đúng thủ tục, nguyên tắc; tiếp tục bồi dưỡng, giáo dục,
rèn luyện đảng viên dự bị để xét công nhận đảng viên chính thức.
Bốn là, công tác sàng lọc đảng viên. Công tác sàng lọc đảng viên làm
trong sạch Đảng là vấn đề thuộc về quy luật tồn tại và phát triển của Đảng. Đồng