Quan niệm về văn hóa từ chức - tiểu luận cao học - Pdf 42

Tiểu luận chính trị học nâng cao
A. MỞ ĐẦU
Văn hóa xuất hiện trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Trước đây, khi kinh
tế còn chưa phát triển mạnh mẽ, người ta thường nói tới “ Học ăn, học nói,
học gói, học mở” như là các lĩnh vực văn hóa chính của đời sống xã hội, Hiện
nay, khi nền kinh tế đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ, người ta
phải giao tiếp với nhau nhiều hơn, phải mở rộng và thiết lập các mối quan hệ
ngày càng trở nên quan trọng. Gần đây người ta thường nhắc tới văn hóa giao
thông, văn hóa đọc, văn hóa café… và một khái niệm đang ngày càng trở nên
gần gũi mà ai cũng nên biết, hiểu và có thái độ đúng đắn đó là văn hóa từ
chức. Trong một xã hội văn minh, trình độ dân trí cao và Nhà nước pháp
quyền đã được thiết lập trong cuộc sống thì việc từ chức trở thành một nét đẹp
củavăn hóa ứng xử của những con người biết tự trọng, biết đặt lợi ích của
nhân dân, của đât nước lên trên những ham muốn không chính đáng, thậm chí
là là thấp hèn của cá nhân. Văn hóa từ chức đã tồn tại ở nhiều nước trên thế
giới, đặc biệt là những nước có nền công nghiệp phát triển. Và, cũng có nhiều
quan điểm cho rằng, văn hóa từ chức ở Việt Nam đã xuất hiện rất lâu nhưng
cho đến nay nó vẫn chưa thực sự trở thành văn hóa trong xã hội, chính điều
này đã tác động sâu sắc đến hiệu quả thực hiện công việc của bộ máy chính trị
quốc gia, suy giảm lòng tin trong nhân dân. Vậy, thực sự thì hiện nay chúng ta
quan niệm như thế nào về văn hóa từ chức, văn hóa từ chức ở Việt Nam đã và
đang diễn ra như thế nào? Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề nên tôi
đã chọn đề tài: “ Quan niệm về văn hóa từ chức” để làm rõ những vấn đề
trên. Trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi những hạn chế, thiếu xót,
tôi rất mong nhận được những ý kiến, đóng góp của thầy cô và các bạn để bài
tiểu luận của tôi được hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn!


Tiểu luận chính trị học nâng cao
B. NỘI DUNG
I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA TỪ CHỨC

bệ hạ cách chức thần, thần có buồn đâu mà khi phục chức thần mừng cơ
chứ?”. Đó là một con người coi chức tước nhẹ như lông hồng, mất không
buồn, được không mừng thật đáng kính phục.
Trong lịch sử Việt Nam, vua Trần Thái Tông (1218-1277) là vị vua đầu
tiên của nhà Trần lên ngôi ngày 10/12 năm Ất Dậu (1226), niên hiệu là Kiến
Trung. Đến năm 1236, sau 10 năm ở ngôi Hoàng Đế, do ưu tư trước thế sự,
nghĩ về sự nghiệp đế vương đời trước hưng phế bất thường nên nhà vua quyết
định từ bỏ ngai vàng, quyền lực lên Yên Tử tham kiến thiền sư Trúc
Lâm theo con đường tu hành. Nhà vua muốn “nghe lời dân, biết được chí dân
mới thấu hiểu được nỗi khó khăn của trăm họ”.
Trần Thái Tông đã rời bỏ ngôi vua trong lúc “Lòng dân đang trông đợi
Bệ hạ như con đỏ trông đợi cha mẹ… sỹ thức trong nước ai nấy đều vui vẻ
phục tùng, đến đứa trẻ lên bảy cũng biết Bệ Hạ là cha mẹ dân”. Đó là lời Thái
sư Trần Thủ Độ cùng các quan lên Yên Tử mời đón Nhà Vua trở lại ngai vàng
để lo việc quốc gia, xã tắc. Nghe lời Quốc sư nói: Phàm làm đấng quân vương
phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình. Nay thiên hạ muốn đón
Bệ hạ trở về, Bệ hạ không trở về sao được? Nghe vậy, Nhà vua cùng mọi
người trở về kinh, miễn cưỡng mà lên ngôi báu.
Năm 1257, vua Trần Thái Tông đích thân chỉ huy nhiều trận, có mặt ở cả
nơi nguy hiểm khiến quân sĩ đều nức lòng chiến đấu và đánh tan quân Mông
xâm lược, đội quân mạnh nhất thế giới bấy giờ (đầu năm 1258) đem lại thái
bình cho đất nước, nhường ngôi cho con là Trần Thánh Tông và lên làm Thái
Thượng Hoàng, sau đó lại về am Thái Vi ở vùng núi Vỹ Lâm, cố đô Hoa Lư
để an dân, lập ấp và tu hành (lúc 40 tuổi) – theo bản soạn dịch của Hòa
Thượng Thích Thanh Tứ - Thiền Viện Trúc lâm Yên Tử 2006.
Trần Thái Tông đích thực là người có tài, có đức, hết lòng vì nước vì
dân, không tham quyền, cố vị, tự giác rời ngai vàng, quyền lực trở về đời


Tiểu luận chính trị học nâng cao

Tiểu luận chính trị học nâng cao
cũng không tác động gì được tới sự vận hành của những quá trình ấy. Hệ quả
là, nói theo ngôn ngữ lý thuyết văn hóa chính trị, tính tham dự của người dân
và lòng tin của họ vào hệ thống chính trị, nhân tố chủ yếu trong văn hóa chính
trị, dựa trên sự thỏa mãn ngày càng nhiều các giá trị vật chất (như sự an toàn
kinh tế và thân thể) và hậu vật chất (như sự bình đẳng xã hội) ngày càng suy
giảm.
“Cần sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị”, “Cần sự góp sức của toàn
xã hội”… Thường nghe các quan chức của ta phát biểu như vậy khi xảy ra
những vụ việc, sai phạm nghiêm trọng khiến công luận bức xúc. Và rồi bắt
đầu kịch bản đổ lỗi: ngành dọc đổ cho địa phương, cấp trên đổ cho cấp dưới,
bộ đổ cho sở, sở đổ cho phòng. Trái bóng trách nhiệm cứ thế lăn, ngày càng
mù mờ, thậm chí cuối cùng trách nhiệm không còn biết là của ai, mà là của
“toàn xã hội”.
Tất nhiên, trong nhiều trường hợp, xã hội có thể có tác động lên hành xử
của con người trong bộ máy công quyền. Nhưng xã hội là một khái niệm quá
rộng để có thể nói là phải chịu trách nhiệm về hành xử của một con người
trong bộ máy. Bởi khi được tuyển dụng vào làm việc trong bộ máy, được đặt
để vào một vị trí nào đó, họ đã được giao nhiệm vụ, với quyền hạn và trách
nhiệm tương đối rõ ràng, với những điều phải làm và những điều phải tránh,
không được làm.
Như vậy, việc thiếu dũng cảm nhận lãnh trách nhiệm cá nhân, thiếu văn
hóa từ chức của quan chức trước những sai phạm nghiêm trọng cuối cùng chỉ
làm tổn hại cho văn hóa chính trị của cả hệ thống. Để có được lòng tin của
người dân, một hệ thống với văn hóa chính trị lành mạnh phải dám đối diện
và nhận lãnh trách nhiệm đối với những yếu kém, sai phạm của chính mình.
1.4. Văn hóa từ chức ở một số quốc gia trên thế giới
1.4.1 Văn hóa từ chức ở Nhật Bản




Tiểu luận chính trị học nâng cao
Ở Nhật, một vị lãnh đạo cao cấp dù đã làm việc hết sức nhưng trong mắt
người dân không thấy hiệu quả thì vẫn phải tự từ chức, để nhường chỗ cho
người khác lên thay. Một ông bộ trưởng chỉ vì một câu nói hớ hênh chưa ảnh
hưởng đến ai nhưng không hợp lý cũng phải từ chức vì cảm thấy xấu hổ.
Quan chức luôn phải xin lỗi người dân một cách công khai vì những việc
người dân phản ánh mà mình chưa làm tốt... Dù quan chức to lớn nhưng có
những rắc rối liên quan, dính dáng đến tên tuổi mình một cách trực tiếp hay
gián tiếp cũng tự cảm thấy xấu hổ mà từ chức và công khai xin lỗi. Xã hội
luôn không thiếu người tài, không có người này thì ắt sẽ có người khác, đừng
biện minh rằng chỉ có tôi mới làm được, nếu ai làm được hơn tôi thì tôi sẽ
xuống sau khi hết nhiệm kỳ hay về hưu.
1.4.2 Văn hóa từ chức ở Mỹ.
Ở các nước phát triển, việc từ chức là khá dễ dàng, vì văn hóa từ chức đã
trở thành một phần của đời sống công. Văn hóa này lại được nuôi dưỡng
trong một môi trường xã hội thuận lợi. Không làm quan, thì người ta có thể
làm rất nhiều việc khác. Cựu Tổng thống Mỹ B.Clinton- khi còn đương chứclương bình quân chỉ khoảng 200.000USD/năm. Nhưng khi thôi chức, ông có
thể kiếm tới 300.000USD/giờ bằng cách làm diễn giả.
Như vậy, một giờ làm việc bằng lương tổng thống trong cả một năm
rưỡi. Một vị bộ trưởng của Nhật từ chức cũng không có vấn đề gì quá lớn, vì
vị này có thể ra làm chủ tịch cho một tập đoàn nào đó hoặc tham gia giảng
dạy. Thực ra, kinh tế thị trường tạo ra muôn vàn những cơ hội cho những
người có năng lực thật sự.
Tháng 6/2012, Bộ trưởng Thương mại Mỹ John Bryson đã đệ đơn xin từ
chức lên Tổng thống Mỹ Barack Obama.Ông đưa ra quyết định này sau khi


Tiểu luận chính trị học nâng cao
xảy ra vụ tai nạn ôtô liên hoàn ở California hồi đầu tháng mặc dù vụ tai nạn

quỹ bỏ trốn. Từ sự việc này, nhiều người so sánh với những thông tin tương tự
ở nước ngoài, và có những nhìn nhận, đánh giá khác nhau.
Thông tin xung quanh vụ việc thất thoát ở Cục Điện ảnh không phải là
mới. Đây cũng không phải là vụ thụt két lớn nhất từ trước đến nay. Nhưng
nhiều người quan tâm đến vụ việc nay vì điện ảnh vốn luôn là tâm điểm văn
hóa - xã hội. Điện ảnh là nghệ thuật thứ 7, ra đời sau và hội tụ tinh hoa trong
cách thức biểu hiện văn hóa của các loại hình nghệ thuật có trước đó. Những
người làm nghệ thuật luôn phải đắm mình vào cuộc sống để tìm tòi, tôn vinh
cái đẹp, đấu tranh chống lại cái xấu và cái ác, trong đó có nạn tiêu cực, tham
nhũng.
Trước sức ép từ dư luận về việc để thất thoát 42 tỷ đồng, Cục trưởng,
Cục phó Cục Điện ảnh đã gửi đơn từ chức. Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch
đã thành lập đoàn thanh tra và tuần sau sẽ có báo cáo, kết luận. Trách nhiệm
của các cá nhân liên quan rồi sẽ được pháp luật phân minh. Tuy nhiên từ đây,
dư luận lại so sánh, luận bàn nhiều, với nhiều ý kiến đa chiều về văn hóa từ
chức.
Nói về văn hóa từ chức tức là nói về văn hóa chính trị. Khi thấy mình có
thiếu sót, khuyết điểm, hay nói cách khác là không còn xứng đáng đảm nhận
được nhiệm vụ thì nên từ chức. Hành động đó được đánh giá cao vì nó thể
hiện tự trọng cá nhân, sự tự ý thức về trách nhiệm cá nhân của những người
xin từ chức. Để có một xã hội thực sự tốt đẹp thì danh dự, lòng tự trọng cần


Tiểu luận chính trị học nâng cao
phải luôn được đặt ở vị trí cao nhất trong thang giá trị làm người. Bởi vậy,
những hành động ấy rất đáng được tôn trọng. Trong lịch sử của chế độ ta,
Đảng ta trong quá trình hình thành và phát triển, đi liền với công tác cán bộ.
Trong công tác cán bộ có 3 loại người. Có cán bộ làm rất tốt, có cán bộ làm
không tốt nhưng mà họ đã cố gắng hết mình, còn có cán bộ làm rất kém, hư
hỏng, tham nhũng, gây thất thoát lớn, nhân dân oán trách. Đảng ta nhận thức

xin thôi đảm nhận nhiệm vụ cũng có nhiều lý do khác nhau. Có người không
còn lựa chọn nào khác. Có người coi đó là cách để giữ thể diện. Cũng không
ít người cho rằng đã hết thời nên không thể bấu víu… Tóm lại là dù với lý do
nào, văn hóa từ chức cũng biểu hiện sự tất yếu của cuộc sống.
Sẽ không cùng hiểu giống nhau về điều này nếu chỉ luận bàn dựa trên sự
so sánh. Nào là trong thế giới văn minh, việc từ chức là quá bình thường. Nào
là từ chức chẳng qua cũng để trốn trách nhiệm, để thoát tội, để hạ cánh cho an
toàn… Đó là những cách luận bàn chủ quan, phiến diện. Bởi từ trước đến
nay, “cán bộ” giữ chức vụ do Quốc Hội (QH), HĐND bầu hoặc phê chuẩn là
coi như yên vị. Cho dù người đó làm việc tốt hay không, hiệu quả hay không,
thậm chí gây hậu quả xấu thì vẫn kéo dài chức vụ cho đến hết nhiệm kỳ, thậm
chí trúng tiếp nhiệm kỳ sau. Có những người giữ chức vụ quan trọng, nhưng
tài ít đức mỏng, không hoàn thành trách nhiệm, nhưng không có cơ chế để bãi
miễn. Nói rõ hơn là không có luật lệ, không có quy định nào tước cái chức vị
của ông cán bộ đã được bầu đó. Bởi các ông ấy được “nhân dân” bầu chứ
không phải cho “thủ trưởng” cơ quan hoặc cấp trên chỉ định. Hai chữ “nhân
dân” gắn trên ngực áo ông lúc này có một quyền lực như bất khả xâm phạm.
Còn nếu không từ chức thì bài thuốc “kiểm điểm nghiêm túc” là phương
thuốc “chữa cháy” rất hiệu quả. Nghe mãi trên truyền hính, đọc mãi trên báo
chí, người dân Việt đến phát ốm vì những điệp khúc cũ mèm này. Cứ có họp
hành, có phê bình “kiểm thảo” là có bài ca con cá “kiểm điểm nghiêm túc”.
Nó thường được mở đầu bằng những hàng rào chắn rất kỹ, trước hết kể lể


Tiểu luận chính trị học nâng cao
thành tích “công tác đã đạt được những kết quả tốt đẹp rất khả quan nhưng
bên cạnh đó vẫn còn những yếu kém tồn tại. Hội nghị đã nghiêm túc kiểm
điểm, nhận… thiếu sót và kiên quyết khắc phục”. Dù cho tội lỗi có tầy đình
cũng “huề cả làng”. Điển hình như vụ vi phạm ở Chùa Trăm Gian. Đến nay,
vụ phá hoại di tích lịch sử chùa Trăm gian đã kết thúc, kỷ luật nghiêm những

“nghỉ”, không nhiều người có đủ tự trọng và can đảm để xin từ chức khi tự
thấy mình không còn xứng đáng nữa.
Những cách nghĩ đó đi ngược lại tư duy phát triển và văn hóa chính trị
hiện đại.
Từ chức là thái độ trung thực với chính mình, là biểu hiện của sự dũng
cảm, của lòng tự trọng. Mong rằng, từ chức sớm trở thành cách ứng xử bình
thường trong hoạt động công vụ ở nước ta
Trong một xã hội văn minh, khi người được giao trách nhiệm đã cố tình
hay không đủ khả năng làm tròn thì với lòng tự trọng của mình người đó
thường tự nguyện xin từ chức. Văn hóa từ chức là một thứ văn hóa phổ biến ở
các nước có nền dân chủ thật sự.
Còn ở nước ta, văn hóa từ chức vẫn còn khá mông lung, mơ hồ và vẫn
chưa thực sự trở thành, một hiện tượng phổ biến. Việc từ chức quả thật là quá
hiếm ở VN cho dù thời gian qua đã xảy ra nhiều vụ làm thất thoát tài sản quốc
gia “động trời” làm chấn động dư luận. Bên cạnh các nguyên nhân như văn
hóa từ chức, lòng tự trọng của cán bộ…, còn do nguyên nhân không kém
phần quan trọng là cơ chế “tập thể chỉ huy” chồng chéo nên nhiều khi trách
nhiệm cũng lại đổ cho “tập thể”, không rõ ràng, cứ như không có cá nhân nào
chịu trách nhiệm nên không đổ tội cho đích danh quan nào được. Theo dõi các
phiên chất vấn tại Quốc hội VN về các vụ thất thoát kinh hoàng xảy ra tại
Vinashin hay Vinalines, có thể thấy rất rõ điều này. Từ chức và “bị bãi miễn”


Tiểu luận chính trị học nâng cao
là hai vấn đề khác nhau. Một đằng là sự tự nguyện bởi lòng tự trọng hay nói
cho đúng là phải có “văn hóa xấu hổ” mới có “văn hóa từ chức”. Một đằng là
bị buộc phải rời bỏ chức vụ, hay nói cho đúng bị xa thải, bị bãi miễn. Nếu đã
bị bỏ phiếu bất tín nhiệm rồi mới từ chức thì chẳng khác nào nhận được một
ân huệ “giảm khinh” sau khi phạm tội. Cũng chẳng vinh dự gì. Tưởng như nó
ở giữa tính liêm sỉ và không liêm sỉ, nhưng thật ra ai cũng hiểu nó là một. Vậy

tận bùn đen tất thảy..Trong nhiều trường hợp, danh tiếng, sinh mạng chính trị
của những người mất chức, đôi khi kể cả của một số người thân của họ, bị ảnh
hưởng khá nghiêm trọng. Theo một cách nói khá thông dụng hiện nay, trong
nhiều trường hợp có vẻ như việc từ chức thường tìm mọi cách “ giữ ghế” và
kèm theo đó là bổng lộc béo bở của mình bằng mọi giá. Đối với nhiều người
trong số họ, việc từ nhiệm, từ chức khi cần thiết là một điều thật xa lạ. Nhiều
người dù có khuyết điểm, sai phạm hay thiếu năng lực nhưng lại được thuyên
chuyển sang công tác khác với khác với cấp bậc tương đương, thậm chí còn
được đá lên. Vì vậy, đi đôi với văn hóa từ chức, đã đến lúc chúng ta cũng cần
xây dựng văn hóa ứng xử với việc từ chức và những người từ chức. Chúng ta
hiểu rằng thực ra từ chức khi cần thiết cũng là một việc bình thường, hay
đúng ra chỉ có nhậm chức mà không có từ chức mới là bất bình thường, trái
quy luật! Nói như vậy hoàn toàn không có nghĩa chúng ta chần chừ đấu tranh
chống những việc làm xấu xa, những hành vi tham nhũng trắng trợn, những
lối sống sa đọa coi thường đạo lý, coi thường pháp luật như đã được đưa ra
ánh sáng công luận và được kiên quyết xử lý như vụ bê bôi PMU 18 hiện nay.
Việc từ chức quả thật là quá hiếm ở VN cho dù thời gian qua đã xảy ra
nhiều vụ làm thất thoát tài sản quốc gia “động trời” làm chấn động dư luận.
Bên cạnh các nguyên nhân như văn hóa từ chức, lòng tự trọng của cán bộ…,
còn do nguyên nhân không kém phần quan trọng là cơ chế “tập thể chỉ huy”
chồng chéo nên nhiều khi trách nhiệm cũng lại đổ cho “tập thể”, không rõ
ràng, cứ như không có cá nhân nào chịu trách nhiệm nên không đổ tội cho
đích danh quan nào được.


Tiểu luận chính trị học nâng cao
Từ chức và “bị bãi miễn” là hai vấn đề khác nhau. Một đằng là sự tự
nguyện bởi lòng tự trọng hay nói cho đúng là phải có “văn hóa xấu hổ”
mới có “văn hóa từ chức”. Một đằng là bị buộc phải rời bỏ chức vụ, hay nói
cho đúng bị xa thải, bị bãi miễn. Nếu đã bị bỏ phiếu bất tín nhiệm rồi mới từ

Bác Hồ : “Đảng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của
mình đã thi hành thế nào. Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó
sẽ hóa ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với
Đảng" (HCM toàn tập, 1995, t5, tr.250)
Bỏ phiếu tín nhiệm “các quan” và “văn hóa” từ chức đang là đề tài nóng
đang được nhiều người dân Việt Nam quan tâm. Chuyện râm ran từ ông “trí
thức thành thị” nhanh chóng lan đến những “khách cà phê” ở những quán
trung bình và những công tư chức lúc rảnh việc. Đây là một đề tài không mới
đối với thế giới “các quan” trên thế giới, nhưng ở VN lại là một nét mới trong
sinh hoạt chính trị, có ảnh hưởng lớn trong đời sống bình thường của người
dân mỗi khi nhìn lên tư cách, đạo đức, tài năng của những vị đang trực tiếp
chi phối cuộc sống của mình về mọi mặt.


Tiểu luận chính trị học nâng cao
Mục đích xây dựng đề án bỏ phiếu tín nhiệm là nhằm cụ thể hóa quy
định của Hiến pháp, luật tổ chức QH, luật giám sát QH về việc QH bỏ phiếu
tín nhiệm với các chức danh do QH bầu hoặc phê chuẩn. Ngoài ra, Nghị quyết
TƯ 4 cũng đề ra yêu cầu hàng năm lấy phiếu tín nhiệm đối với những người
giữ các chức danh mà QH bầu hoặc phê chuẩn.
Nội dung đề án vì vậy phải xử lý được cả 2 yêu cầu này. Nếu thu hẹp đối
tượng lấy phiếu tín nhiệm thì sẽ không “ôm” được hết các nhiệm vụ. Tuy
nhiên, nếu mở rộng tất cả các đối tượng theo tinh thần nghị quyết TƯ 4 thì dễ
dẫn đến nguy cơ việc lấy phiếu tín nhiệm trở thành hình thức.
Để xử lý vấn đề này, dự thảo Nghị quyết đã đưa ra hướng phân loại gồm
2 nhóm. Thứ nhất là nhóm những cán bộ có địa vị pháp lý, chức trách rõ ràng.
Những quyết sát của họ có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội
(gồm 49 người). Nhóm này do Quốc hội lấy phiếu... Nhóm thứ 2 là cấp phó
hoặc ủy viên các ủy ban, do các ủy ban lấy phiếu.
Cách làm như vậy đáp ứng được cả 2 yêu cầu mà vẫn đảm bảo tập trung

có những ảo tưởng cho rằng tình hình không đến mức như thế.
Kết quả lấy phiếu tín nhiệm chính là một chỉ số khách quan để người đó
phải đặt vấn đề giải pháp tốt nhất cho mình, trong danh dự, văn hóa - đấy là
tuyên bố từ chức. Việc này khơi mào cho văn hóa từ chức thực sự trong nhóm
người có chức có quyền.
3.2. Thực hiện tốt, gương mẫu “ văn hóa từ chức” từ cấp trên
Từ chức có nhiều mặt tích cực như: Củng cố uy tín nhân dân vào Đảng
và Nhà nước; làm trong sạch bộ máy; nâng cao năng lực quản lý của bộ,


Tiểu luận chính trị học nâng cao
ngành, cơ quan, đơn vị. Cũng như câu chuyện trật tự an toàn giao thông, mặc
dù có quy phạm điều chỉnh rất nhiều nhưng một khi ý thức người dân chưa
chuyển biến cũng khó lòng hạn chế được hành vi vi phạm pháp luật giao
thông.
Từ chức cũng vậy, cần phải thể hiện tính gương mẫu, làm gương của cấp
trên đối với cấp dưới thì mới có thể thực hiện được và đương nhiên khi đó
việc từ chức là chuyện bình thường. Một vần đề đặt ra là xuất phát từ chuyện
từ chức thì việc bố trí quản lý cán bộ từ chức như thế nào? Có thể chuyển
công tác sang cơ quan khác; hoặc khi từ chức xuống làm nhân viên cũng
trong một cơ quan đó hay về nghỉ hưu, mặc dù chưa đến tuổi. Vấn đề này thì
cũng cần phải bàn thận trọng và cần thiết phải có văn bản pháp luật điều chỉnh
về trường hợp bố trí, sắp xếp công tác cán bộ sau khi từ chức.
Thiết nghĩ, việc từ chức cần được xem là chuyện đương nhiên trong lộ
trình cải cách hành chính trong thời gian tới, đặc biệt là cải cách nền công vụ
ở nước ta. Nhưng để mạnh dạn từ chức trước hết cần phải có người làm
gương; ý thức trách nhiệm đối với nhà nước và nhân dân của bản thân những
người đứng đầu bộ, ngành và địa phương là yếu tố quyết định.
Riêng việc bố trí, sắp xếp, cán bộ sau khi từ chức thì vấn đề cần nghiên
cứu và cần thiết phải có văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh vừa có tình,

Hà Nội 2013
2. Vũ Hồng Anh: Tổ chức và hoạt động của chính phủ một số nước trên
thế giới, Nxb CTGG, Hà Nội, 1997.
3. Hoàng Chí Bảo, Hệ thống chính trị và ổn định chính trị trong những
năm đổi mới – thành quả và kinh nghiệm, TC Lý luận chính trị (2005) số 42.
4. Một số Website
- https://www.google.com.vn
- http://www.gov.vn


Tiểu luận chính trị học nâng cao
MỤC LỤC




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status