Ảnh hưởng của quá tự tin và điều kiện kinh tế lên quyết định cấu trúc vốn bằng chứng thực nghiệm tại việt nam - Pdf 42

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC



LÊ MINH ĐĂNG KHOA

ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TỰ TIN VÀ ĐIỀU KIỆN KINH TẾ
LÊN QUYẾT ĐỊNH CẤU TRÚC VỐN: BẰNG CHỨNG THỰC
NGHIỆM TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp. Hồ Chí Minh, Tháng 10/2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC



LÊ MINH ĐĂNG KHOA

ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TỰ TIN VÀ ĐIỀU KIỆN KINH TẾ
LÊN QUYẾT ĐỊNH CẤU TRÚC VỐN: BẰNG CHỨNG THỰC
NGHIỆM TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài Chính – Ngân Hàng
Mã số: 60340201

1.2 Mục tiêu nghiên cứu............................................................................................1
1.3 Phương pháp nghiên cứu....................................................................................2
1.4 Đóng góp của đề tài .............................................................................................2
CHƯƠNG 2. GIỚI THIỆU ......................................................................................4
CHƯƠNG 3. KHUNG LÝ THUYẾT ......................................................................6
3.1 Cơ sở lý thuyết .....................................................................................................6
3.2 Lý thuyết đánh đổi ..............................................................................................6
3.3 Lý thuyết trật tự phân hạng ...............................................................................8
3.4 Lý thuyết về sự quá tự tin.................................................................................10
CHƯƠNG 4. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ..............................13
4.1 Những nhân tố nào có ảnh hướng đến cấu trúc vốn doanh nghiệp. ............13
4.2 Nhà quản lý là đối tượng dễ mắc phải lệch lạc nhận thức mà cụ thể là sự
quá tự tin. .................................................................................................................17
4.3 Tác động của sự quá tự tin của nhà quản trị đến cấu trúc vốn doanh nghiệp
............................................................................................................................23
4.4 Tác động của điều kiện kinh tế vĩ mô lên sự điều chỉnh cấu trúc vốn của
nhà quản trị .............................................................................................................25
CHƯƠNG 5. MÔ TẢ DỮ LIỆU VÀ MÔ HÌNH ..................................................27
5.1 Dữ liệu ................................................................................................................27
5.2 Mô hình ..............................................................................................................29
5.3 Giới thiệu về GMM ...........................................................................................32
5.4 Mô tả các biến trong mô hình ..........................................................................34
5.4.1 Quá tự tin ........................................................................................................34


5.4.2 Đòn bẩy ...........................................................................................................36
5.4.3 Các biến về đặc điểm của doanh nghiệp ......................................................36
5.4.4 Điều kiện kinh tế vĩ mô ..................................................................................38
CHƯƠNG 6. CÁC KẾT QUẢ CHÍNH .................................................................40
6.1 Thống kê mô tả các biến: ..................................................................................40

Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 5.1: Giải thích các biến đại diện cho tâm lý quá tự tin

35

Bảng 5.2: Giải thích các biến đại diện cho đòn bẩy

36

Bảng 5.3: Mô tả các biến về đặc điểm của doanh nghiệp

38

Bảng 6.4: Thống kê các biến được sử dụng trong bài

41

Bảng 6.5: Thống kê các biến LEV1, EBIT, LNA đối với
các công ty thuộc nhóm 1

42

Bảng 6.6: Thống kê các biến LEV1, EBIT, LNA đối với
các công ty thuộc nhóm 2

43

Bảng 6.7: Xác định các nhân tố tác động cấu trúc vốn sử dụng

nghiệp như quy mô tài sản, khả năng sinh lợi… trên thực tế không hoàn toàn giải
thích hết những biến động trong cấu trúc vốn doanh nghiệp. Các công trình nghiên
cứu khác nhau đôi lúc lại không cho ra những kết quả đồng nhất. Do đó, việc nới
lỏng giả định về tính hợp lý của thị trường là một hướng đi mới góp phần giải thích
rõ hơn các đóng góp của những lý thuyết truyền thống.
Bài nghiên cứu tiếp cận vấn đề cấu trúc vốn doanh nghiệp trên phương diện tài
chính hành vi. Với giả định nhà quản trị không phải hoàn toàn hợp lý (rational) và
một góc nhìn mới trong đó xem xét vai trò của yếu tố tâm lý hành vi của nhà quản
trị, bài nghiên cứu kỳ vọng đóng góp thêm một nhân tố đặc biệt giải thích sự thay
đổi của tỷ lệ nợ trong công ty. Đó là hiện tượng lệch lạc nhận thức mà nhà quản trị
hay mắc phải: sự quá tự tin.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu.
Bài nghiên cứu được thực hiện nhằm trả lời cho câu hỏi: Liệu yếu tố tâm lý quá tự
tin của nhà quản trị có ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghệp hay không?
Bài nghiên cứu được thực hiện dựa trên bộ dữ liệu từ trung tâm dữ liệu Reuters bao
gồm 66 công ty niêm yết trên Sở giao dịch Chứng Khoán Thành Phố Hồ Chí Minh
(HOSE) trong giai đoạn 2006-2014


2

1.3 Phương pháp nghiên cứu
Với mục tiêu nghiên cứu trên, bài nghiên cứu này sử dụng phương pháp định lượng
hồi quy GMM-sys cho dữ liệu bảng trong giai đoạn 2006-2014.
Giả thuyết nghiên cứu chính của bài đó là sự tương quan giữa tâm lý quá tự tin của
nhà quản trị ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
Mô hình nghiên cứu chính được dùng để kiểm định giả thuyết trên như sau:
LEVit = α.LEVit-1 + Txit + ci +




4

CHƯƠNG 2. GIỚI THIỆU
Hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm về những nhân tố ảnh hưởng đến những quyết
định tài chính của các công ty. Trong tài chính doanh nghiệp truyền thống, có hai lý
thuyết lớn về cấu trúc vốn được thừa nhận rộng rãi, đó là lý thuyết đánh đổi và lý
thuyết trật tự phân hạng. Lý thuyết đánh đổi thừa nhận rằng các tỷ lệ nợ mục tiêu có
thể khác nhau giữa các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp lớn nên vay nợ nhiều hơn
các doanh nghiệp nhỏ bởi vì các doanh nghiệp lớn được đa dạng hóa tốt hơn và rủi
ro vỡ nợ thấp hơn. Khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn, các tài sản hữu
hình ít sụt giảm giá trị hơn, do đó các công ty có tài sản hữu hình an toàn và nhiều
thu nhập được khấu trừ thuế nên có tỉ lệ nợ mục tiêu cao. 1Lý thuyết trật tự phân
hạng dựa trên sự bất cân xứng thông tin giữa các giám đốc và các nhà đầu tư.
Thông tin bất cân xứng này ảnh hưởng đến các lựa chọn giữa tài trợ nội bộ và tài trợ
bên ngoài, giữa phát hành chứng khoán nợ và vốn cổ phần. Theo lý thuyết này,
nguồn vốn đầu tư trước tiên sẽ được huy động từ vốn cổ phần, chủ yếu là lợi nhuận
tái đầu tư, rồi sau mới đến phát hành nợ mới và cuối cùng là bằng phát hành cổ
phần mới. 2
Cả hai lý thuyết này tuy khác nhau về quan điểm nhưng đều dựa trên một giả định
quan trọng: đó là hàm ý tất cả những người tham gia trên thị trường, kể cả nhà quản
lý đều duy lý. Tuy nhiên, trên thực tế thì thị trường tồn tại những bất hoàn hảo và
khoa học hành vi con người cũng chứng minh rằng con người không hoàn toàn duy
lý và dễ mắc phải những lệch lạc.
Vì vậy, lý thuyết về tài chính hành vi gần đây nổi lên, như là một nhân tố quan
trọng trong việc giải thích những quyết định về tài chính của con người. Một trong

Trang 391, Chương 15, sách Tài chính doanh nghiệp hiện đại – Khoa Tài Chính Doanh Nghiệp, Đại học
Kinh Tế Thành Phố Hồ chí Minh, NXB Thống Kê năm 2007

-

Phần 3: Phương pháp nghiên cứu: phần này sẽ trình bày mô hình và các kiểm
định đượcsử dụng, cách thức thu thập dữ liệu tại sàn HOSE.

-

Phần 4: Kết quả: kết quả hồi quy, các kiểm định để khẳng định ý nghĩa của
kết quả hồi quy và giải thích các kết quả có được này.

Theo Overconfident, Managerial Optimism and the Determinants of Capital Structure – Barros and Silveira
(2007).
3


6

-

Phần 5: Kết luận và các đề xuất: kết luận về bài nghiên cứu, những ưu điểm
và hạn chế; một số kết luận rút ra được cho thị trường Việt Nam.

CHƯƠNG 3. KHUNG LÝ THUYẾT
3.1 Cơ sở lý thuyết
Mặc dù có nhiều lý thuyết về cấu trúc vốn doanh nghiệp truyền thống, tuy nhiên
một cách tổng quát có thể chia các nhân tố tác động cấu trúc vốn doanh nghiệp vào
4 nhóm:
 Cải thiện mâu thuẫn lợi ích giữa các nhóm được hưởng lợi ích từ nguồn lợi
công ty khác nhau, bao gồm cả nhà quản lý (tiếp cận theo chi phí đại diện)
 Truyền đạt thông tin nội bộ ra thị trường vốn hoặc làm giảm bớt hiệu ứng lựa

sản hữu hình an toàn và nhiều thu nhập chịu thuế để được khấu trừ nên có tỷ lệ mục
tiêu cao. Các công ty không sinh lợi có các tài sản vô hình nhiều rủi ro nên dựa chủ
yếu vào tài trợ vốn cổ phần6.
Nếu việc điều chỉnh cấu trúc vốn không phát sinh chi phí, mỗi doanh nghiệp nên
luôn luôn nhắm vào tỷ lệ nợ mục tiêu của mình. Tuy nhiên do có các chi phí này và
vì vậy có sự trì hoãn trong việc điều chỉnh mục tiêu tối ưu. Các doanh nghiệp không
thể phản ứng ngay tức khắc đối với các biến cố ngẫu nhiên đẩy họ xa rời cấu trúc
vốn mục tiêu, vì vậy có sự khác biệt giữa tỷ lệ nợ thực tế và tỷ lệ nợ mục tiêu của
các doanh nghiệp7.
Lý thuyết đánh đổi giúp giải thích loại công ty nào tư nhân hoá trong các "mua đứt
bằng vốn vay" (LBO). Đó là các mua lại các công ty cổ phần của các nhà đầu tư tư
nhân. Những người này tài trợ phần lớn giá mua bằng nợ. Công ty mục tiêu của các
vụ sát nhập, mua lại hay tiếp quản thông qua LBO thường là các doanh nghiệp “gà

Chi phí phá sản gồm chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp. Chi phí gián tiếp: chi phí kí kết hợp đồng cao
hơn, vấn đề đầu tư không đầy đủ. Chi phí trực tiếp gồm: chi phí quản lý, hành chính và toà án
6
Theo Testing Trade-Off and Pecking Order Predictions about Dividends and Debt - Eugene F. Fama;
Kenneth R. French 2002
7
Theo Trang 392 Chương 15 sách Tài chính doanh nghiệp hiện đại – Khoa Tài Chính Doanh Nghiệp, Đại
học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh, NXB Thống Kê năm 2007
5


8

đẻ trứng vàng” sung mãn, có thị trường sản phẩm ổn định lâu dài, vì các doanh
nghiệp này chính là loại công ty nên có tỷ lệ nợ cao.
Đồng thời Lý thuyết đánh đổi còn giúp giải thích sự khác nhau giữa tỷ lệ nợ của các

đốc biết về doanh nghiệp mình nhiều hơn các nhà đầu tư bên ngoài, và họ rất miễn
cưỡng phát hành cổ phần khi cho rằng giá hiện tại quá thấp so với giá trị thực. Họ
cố gắng tìm thời điểm phát hành khi cổ phần có giá phải chăng hay được định giá
cao. Các nhà đầu tư hiểu điều này và diễn dịch một quyết định phát hành cổ phần
như một tin tức xấu. Điều này đưa đến một trật tự phân hạng, theo đó đầu tư sẽ
được tài trợ trước tiên bằng vốn nội bộ, chủ yếu là lợi nhuận giữ lại rồi mới đến
phát hành nợ mới; và cuối cùng bằng phát hành vốn cổ phần mới. Phát hành vốn cổ
phần mới thường là phương án cuối cùng khi công ty đã hết khả năng vay nợ. Lý
thuyết này giải thích được tại sao các doanh nghiệp có khả năng sinh lợi nhất
thường vay nợ ít hơn, không phải vì họ có các tỉ lệ nợ mục tiêu thấp nhất mà do họ
không cần tiền từ bên ngoài. Các doanh nghiệp có khả năng sinh lợi ít hơn thì phát
hành nợ vì họ không có các nguồn vốn nội bộ đủ cho chương trình đầu tư vốn. Do
đó, nguồn vốn nội bộ đứng đầu tiên trong tất cả các nguồn tài trợ.
Trong lý thuyết trật tự phân hạng, sự hấp dẫn của tấm chắn thuế lãi từ trái phiếu
được coi là có tác động hạng nhì. Các tỷ lệ nợ thay đổi khi có bất cân đối của dòng
tiền nội bộ, cổ tức và các cơ hội đầu tư thực sự. Các doanh nghiệp có khả năng sinh
lợi cao với cơ hội đầu tư hạn chế sẽ cố gắng đuy trì một tỷ lệ nợ thấp. Các doanh
nghệp có cơ hội đầu tư lớn hơn các nguồn vốn phát sinh nội bộ thường buộc phải
vay nợ ngày càng nhiều.
Lý thuyết trật tự phân hạng còn giải thích mối tương quan nghịch trong ngành giữa
khả năng sinh lợi và đòn bẩy tài chính. Theo lẽ thường, các doanh nghiệp thường
đầu tư theo mức tăng trưởng của ngành. Như vậy, các tỷ lệ đầu tư sẽ tương tự nhau
trong cùng một ngành. Với những tỷ lệ chi trả cổ tức được cho trước và không thể
linh hoạt được thì các doanh nghiệp sinh lợi ít nhất sẽ có ít nguồn vốn nội bộ hơn và
sẽ phải vay mượn thêm.
Các hàm ý của lý thuyết trật tự phân hạng:
 Các doanh nghiệp thích tài trợ nội bộ hơn
 Các doanh nghiệp điều chỉnh tương ứng các tỷ lệ chi trả cổ tức mục tiêu theo
các cơ hội đầu tư, trong khi hạn chế các thay đổi đột xuất trong cổ tức.


3.4 Lý thuyết về sự quá tự tin
Sự quá tự tin là xu hướng tự đánh giá cao những hiểu biết, khả năng và tính chính
xác của những thông tin mình có, từ đó đánh giá thấp các kết quả bất lợi có thể xảy


11

ra. Hầu hết mọi người đều quá tự tin trong phần lớn thời gian. Sự quá tự tin thường
gồm: ước lượng sai, hiệu ứng tốt hơn trung bình, ảo tưởng kiểm soát và quá lạc
quan.9
 Ước lượng sai là khuynh hướng phóng đại tầm hiểu biết của bản thân.
 Hiệu ứng tốt hơn trung bình liên quan đến việc nhiều người dánh giá rằng
khả năng của họ tốt hơn mức trung bình. Những khả năng đó có thể là kỹ
năng vận động, khả năng lái xe…Một yếu tố làm cho người ta tin rằng khả
năng của bản thân cao hơn mức trung bình là do những định nghĩa về sự
thông minh hay những năng lực đặc biệt không rõ ràng, theo lẽ tự nhiên con
người thường nghĩ đó là những việc họ có vẻ giỏi nhất10.
 Ảo tưởng kiếm soát là việc con người nghĩ rằng họ có khả năng kiểm soát
tình huống hơn là thực tế có thể.
 Sự quá lạc quan là khuynh hướng con người đánh giá xác suất cho các kết
quả thuận lợi/bất lợi cao hơn/thấp hơn dựa vào trải nghiệm lịch sử hoặc
những phân tích suy luận.11 Sự quá lạc quan thường được phân tích trong bối
cảnh của hiệu ứng tốt hơn trung bình và lệch lạc tự quy kết. Nói chung có thể
xem sự quá lạc quan như một sai sót trong việc đánh giá các sự kiện trong
tương lai trong cả trường hợp của hiệu ứng tốt hơn trung bình (ví dụ khi hầu
hết mọi người đều cho rằng cơ hội thành công về tài chính của họ cao hơn
mức trung bình) và cả trong điều kiện tuyệt đối (khi người ta cho rằng cơ hội
chiến thắng sổ số cao hơn so với xác xuất đúng)12.

9

quy mô doanh nghiệp (tương quan dương), chi trả cổ tức (tương quan âm), tài sản
vô hình (tương quan dương), M/B (tương quan âm) và tài sản cố định (tương quan
dương).
Trong khi đó Bancel và Mittoo (2002) khảo sát các nhà quản lý của các công ty ở
17 nước Châu Âu về lựa chọn cấu trúc vốn của họ và các nhân tố quyết định. Tính
linh hoạt trong điều kiện tài chính, xếp hạng tín nhiệm và lợi ích tấm chắn thuế là
những nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến chính sách nợ, trong khi sự pha loãng
vốn cổ phần lại là yếu tố quan trọng nhất quyết định phát hành vốn cổ phần. Bài
nghiên cứu còn phát hiện ra độ lớn lãi suất vay nợ và giá cổ phần là những yếu tố
cần quan tâm trong việc lựa chọn thời điểm phát hành nợ và vốn cổ phần.
Những bằng chứng thực nghiệm về các nhân tố tác động cấu trúc vốn còn được tìm
thấy qua bài nghiên cứu của Ivo Welch (2003), sử dụng dữ liệu từ các công ty tại
Hoa Kỳ cho thấy trong giai đoạn 1-5 năm, lợi suất của cổ phiếu có thể giải thích
được 40% biến động trong tỷ lệ nợ của công ty (debt ratio dynamics)


14

Cùng thuộc chủ đề này còn có nghiên cứu của Titman and Wessels (1988). Hai tác
giả trên đã phát hiện ra mức độ nợ tương quan âm với “tính độc nhất” (uniqueness)
trong phạm vi hoạt động kinh doanh của công ty. Bằng chứng này hoàn toàn phù
hợp với những kết luận của Titman (1988) rằng các công ty áp đặt chi phí của họ
lên khách hàng, công nhân và nhà cung cấp trong trường hợp thanh lý sẽ có tỷ lệ
đòn bẩy thấp. Chi phí giao dịch cũng có thể được xem là một nhân tố quyết định
cấu trúc vốn doanh nghiệp. Các công ty chịu mức phí giao dịch cao thường sẽ có xu
hướng vay nợ ngắn hạn nhiều hơn. Do đó, quy mô công ty, thông qua chi phí giao
dịch, sẽ có tương quan âm đến khoản nợ ngắn hạn của công ty. Điều này phản ánh
thực tế rằng các công ty nhỏ sẽ chịu những bất lợi trong việc huy động hay tiếp cận
các khoản vay ngắn hạn.
Một số tác giả khác nghiên cứu các yếu tố giúp xác định cấu trúc vốn doanh nghiệp

nghiệp lên tỷ lệ nợ công ty. Một công ty có khả năng sinh lợi cao, trong điều kiện
những yếu tố khác không đổi, sẽ dĩ nhiên có nguồn tài trợ nội bộ dồi dào cho các dự
án đầu tư trong tương lai. Nếu các nhà quản trị của những công ty này hành động
theo lý thuyết trật tự phân hạng, thì họ sẽ có xu hướng ít sử dụng nguồn tài trợ bên
ngoài (đi vay nợ hoặc phát hành cổ phiếu). Do đó, xét về trung bình, tỷ lệ đòn bẩy
tài chính của những công ty này sẽ thường thấp hơn (Fama và French, 2002). Ở một
khía cạnh khác, phỏng theo mô hình đánh đổi, mối liên hệ này bị nghịch đảo.
Những công ty kinh doanh giỏi, kiếm được nhiều tiền hơn thường ít khi nào là đối
tượng của rủi ro phá sản, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi. Vì vậy, những
cản trở đến từ chi phí phá sản được dự đoán sẽ giảm dần và họ sẽ thuận lợi cũng
như có nhiều điều kiện để sử dụng nợ với lợi ích là một tấm chắn thuế vô cùng hiệu
quả. Việc tạo một vị thế nợ cao hơn trong cấu trúc vốn sẽ là điều dễ hiểu.
Tài sản cố định và các tải sản có thể thế chấp của công ty lại là một yếu tố khác cần
xem xét khi nói tới vấn đề vay nợ của doanh nghiệp. Các loại tài sản hữu hình của
công ty, ví dụ như hàng tồn kho, máy móc và thiết bị, có thể được sử dụng như là
các tài sản thế chấp cho những khoản nợ. Điều này sẽ khiến cho việc vay nợ trở nên
ít rủi ro hơn đứng trên quan điểm của những người cho vay. Theo như mô hình bất
cân xứng thông tin, các nhà quản trị ưa thích việc phát hành các loại chứng khoán
có độ rủi ro thấp hơn khi tìm kiếm nguồn tài trợ từ bên ngoài. Do đó, những công ty
với lượng tài sản hữu hình lớn một cách đáng kể, mà có thể đem ra làm vật thế


16

chấp, nên vay nợ nhiều hơn.
Tuy nhiên, mặt khác, những mô hình được phát triển dựa trên xung đột lợi ích giữa
nhà quản trị và các cổ đông lại đề xuất những quan điểm ngược lại đối với yếu tố
này. Titman và Wessels (1988) đã khẳng định rằng sẽ rất khó cho các cổ đông bên
ngoài trong việc kiểm soát lượng tài sản vô hình của công ty, những thứ có thể làm
tăng nguồn thu lợi cho các nhà quản trị. Một trong những cơ chế làm giảm thiểu

mục 4.4 trong phần này.
Nhìn chung, những bài nghiên cứu thực nghiệm này cung cấp những bằng chứng về
các nhân tố ảnh hưởng cấu trúc vốn của các quốc gia, kiểm tra tính thích hợp của
các lý thuyết truyền thống như lý thuyết trật tự phân hạng hay lý thuyết đánh đổi
trong việc giải thích các nhân tố đó. Đồng thời, các bài nghiên cứu thực nghiệm trên
cũng đưa ra nhận định về nhân tố nào có vai trò quan trọng nhất đến cấu trúc vốn,
từ đó đề xuất giải pháp riêng cho từng quốc gia cụ thể trong việc xây dựng cấu trúc
vốn tối ưu.
Tuy nhiên các nghiên cứu trên, với những giả định về sự hợp lý của các thành phần
tham gia thị trường bao gồm nhà quản lý và nhà đầu tư, lại chưa đề cập đến những
yếu tố thuộc về tâm lý học hành vi – một nhân tố cũng không kém phần quan trọng
ảnh hưởng đến cấu trúc vốn doanh nghiệp. Các yếu tố thuộc về hành vi con người
mà cụ thể là các lệch lạc nhận thức của nhà quản lý gần đây được các nhà nghiên
cứu đặc biệt quan tâm xem xét bởi tác động chi phối đến những quyết định quản trị
của nhà quản lý. Do đó các yếu tố này sẽ có những ảnh hưởng không nhỏ đến
những quyết định quan trọng của doanh nghiệp trong đó có quyết định cấu trúc vốn.

4.2 Nhà quản lý là đối tượng dễ mắc phải lệch lạc nhận thức mà
cụ thể là sự quá tự tin.
Theo De Bondt và Thaler (1995) thì các nghiên cứu tâm lý học cho ra kết quả rằng
hầu như mọi người đều mắc phải tâm lý quá tự tin. Một nghiên cứu của Even Mark
Rubinstein (2001) thì thừa nhận rằng đa số các nhà đầu tư thường cho rằng họ thông
minh hơn so với trung bình. Cho đến nay có hàng trăm nghiên cứu của các nhà tâm
lý học đã xác định về sự tồn tại của hiện tượng lệch lạc nhận thức này và một số
hiện tượng khác có liên quan chẳng hạn như sự quá tự tin.


18

Sự quá tự tin đã được xác định trong các trường hợp khác nhau về hành vi. Bài

19

họ lựa chọn dự án đầu tư, họ sẽ thường trở thành nạn nhân của hiện tượng “ảo
tưởng kiểm soát”, đánh giá thấp khả năng thất bại của dự án (quá tự tin) hay đánh
giá quá cao khả năng thành công của dự án (quá lạc quan).
Một câu hỏi đặt ra rằng, làm thế nào để xác định một nhà quản lý là có quá tự tin
hay không? Có nhiều phương pháp tiếp cận để tìm ra nhân tố đại diện cho sự quá tự
tin của nhà quản lý mà ta có thể quan sát được. Một trong số đó là phương pháp
chọn việc nhà quản lý có là entrepreneur14 hay non-entrepreneur để quyết định.
Có nhiều bằng chứng rằng những người tự quản lý công việc kinh doanh của mình
thì có xu hướng mắc phải ảo tưởng kiểm soát cao hơn hẳn so với đồng nghiệp. Cụ
thể như bài nghiên cứu của Evans và Leighton (1989) với dữ liệu mẫu gồm 4000
nhà quản lý nam thuộc Bắc Mỹ chia ra thành 2 nhóm: nhóm các entrepreneur và
nhóm non-entrepreneur. Các tác giả chỉ ra rằng nhóm entrepreneur thì hầu hết tin
tưởng rằng những thành quả có thể đạt được hoàn toàn phụ thuộc vào cách mà họ
hành động. Đồng thời, các tác giả cũng cho thấy rằng xác suất khởi nghiệp của
nhóm có niềm tin đó cao hơn nhóm còn lại. Bổ sung thêm, bài nghiên cứu của
McKenna (1993) cũng đề xuất rằng sự quá lạc quan có liên hệ mật thiết với ảo
tưởng kiểm soát.
Trong một nghiên cứu chuyên đề, Busennitz và Barney (1997) so sánh những nhóm
tính cách tâm lý của entrepreneur và cá nhà quản lý được thuê ở các công ty Hoa
Kỳ. Các tác giả sử dụng mẫu gồm 124 entrepreneur và 95 nhà quản lý chuyên
nghiệp từ các công ty lớn với mức độ chuyên trách từ vừa đến cao. Hai lệch lạc về
nhận thức bao gồm quá tự tin được ghi nhận thông qua việc trả lời bảng câu hỏi
khảo sát. Những câu hỏi được sử dụng liên quan tới lệch lạc quá tự tin cũng tương
tự như trong bài nghiên cứu của Fischhoff (1977) và ghi lại những sai số hệ thống
trong việc hiệu chỉnh xác suất. Thậm chí sau khi kiểm soát các đặc điểm tâm lý

Là những người tự quản lý công ty của chính mình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status