Đánh giá kết quả và một số yếu tố ảnh hưởng điều trị trên bệnh nhân ung thư vú giai đoạn ii – iiia có thụ thể nội tiết và her 2 dương tính tại bệnh viện k - Pdf 42

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư vú (UTV) là một trong những bệnh lý ác tính thường gặp
nhất trên thế giới và là một trong những nguyên nhân tử vong hàng đầu ở
phụ nữ. Bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất ở Bắc Mỹ, Australia, Châu Âu và tỷ lệ
thấp nhất ở Châu Á, vùng phía nam sa mạc Sahara. Theo Tổ chức ung thư
toàn cầu năm 2012 trên toàn thế giới có gần 1,7 triệu ca mới mắc ung thư
vú và chiếm khoảng 25% trong số các ca được chẩn đoán ung thư ở phụ nữ
[1]. Hiệp hội ung thư Hoa Kỳ (American Cancer Society, ACS) công bố số
mắc mới UTV ở đây năm 2012 là 408.000 trường hợp và 92.000 trường
hợp tử vong [2],[3],[4],[5]. Tại Việt Nam, theo báo cáo của Hội ung thư
Châu Á Thái bình dương, năm 2012 có 11,000 ca mới mắc và gần 5000 ca
tử vong [6],[7].
Mặc dù UTV đứng hàng đầu trong các bệnh lý ung thư thường gặp ở
nữ, nhưng tỷ lệ tử vong do bệnh đang dần được giảm xuống nhờ sự tiến bộ
trong chẩn đoán và điều trị bệnh. Ở Việt Nam, trước những năm 1970 bệnh
nhân thường được phát hiện ở giai đoạn muộn, tỷ lệ không mổ được rất cao.
Ngày nay bệnh nhân thường được chẩn đoán chủ yếu ở giai đoạn II, III
(>70%) [8] do đó lợi ích về sống thêm được cải thiện đáng kể.
Tuy vậy, chẩn đoán UTV giờ đây không chỉ giới hạn là chẩn đoán xác
định mà đi vào chẩn đoán theo từng giai đoạn bệnh, độ mô học, chẩn đoán
từng phân nhóm về thụ thể nội tiết, yếu tố phát triển biểu mô và cả đặc điểm
phân tử. Mỗi phân nhóm có tỷ lệ khác nhau, phác đồ điều trị và tiên lượng
bệnh hoàn toàn khác biệt [3-9].
Phân nhóm ER và/hoặc PR (+), Her2 (+) chiếm khoảng 6-10% các
trường hợp UTV. Trong nhóm này, thụ thể nội tiết dương tính được coi là yếu
tố tiên lượng tốt vì đáp ứng với liệu pháp nội tiết nhưng Her2 bộc lộ quá mức
lại là một yếu tố tiên lượng xấu [10-12] [13-15] [16-17]. Điều trị chuẩn cho
UTV thuộc phân nhóm này là sự kết hợp đa mô thức giữa phẫu thuật, tia xạ


ung thư gây tử vong hàng đầu ở nhiều nước. Theo công bố mới nhất năm
2012 của cơ quan nghiên cứu ung thư toàn cầu (GLOBOCAN) thì có khoảng
1,7 triệu trường hợp mới mắc và khoảng 520.000 người tử vong do bệnh này
trên toàn thế giới [2] [18].

Biểu đồ 1.1. Tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong của các bệnh ung
thư thường gặp [2]
Bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất ở các nước Bắc Âu, Bắc Mỹ và một số nơi
khác như Australia, New Zealand, Uruguay và Argentina. Tại Hoa Kỳ, tính từ
năm 1999 đến 2007 tỷ lệ mới mắc tăng dần khoảng 1,8% một năm và đến
năm 2012 thì có tới 408.000 trường hợp mới mắc với 92.000 trường hợp tử


4

vong do căn bệnh này. Còn tại Châu Âu, chỉ số ASR (age standardized rate:
tỷ lệ chuẩn theo tuổi) đạt tới 71,1/100.000 phụ nữ, tỷ lệ chết là 1025/100.000 phụ nữ [3-4-19].
Châu Phi và các nước Châu Á, tỷ lệ UTV ít hơn. Tại Trung Quốc, tỷ lệ
mới mắc và tỷ lệ tử vong do UTV theo Trung tâm ung thư quốc gia Trung
Quốc lần lượt là 25,9/100.00 dân và 6,6/100.000 dân. UTV ít gặp nhất ở
Mozambique với ASR là 3,9 và Haiti với ASR là 4,4 [4].
Tại Việt Nam, theo công bố của Hiệp hội Ung thư Châu Á Thái Bình
Dương đăng trên trang của Tổ chức Ung thư toàn cầu mới nhất năm 2012,
có khoảng 11.000 ca chẩn đoán UTV mới mỗi năm và tử vong khoảng gần
5000 người [6].
1.1.2. Yếu tố nguy cơ
1.1.2.1. Tuổi và giới
Nguy cơ mắc UTV tăng dần theo tuổi. UTV rất hiếm gặp ở lứa tuổi dưới
30, đặc biệt là dưới 20. Tỷ lệ mới mắc bệnh tăng gấp đôi sau mỗi 10 năm tuổi
cho đến tuổi mãn kinh. Sau 50 tuổi, tỷ lệ này tăng chậm và ở một số nước thì

gen ức chế ung thư. Nếu các tiền gen ung thư bị đột biết tạo thành gen ung
thư kết hợp với việc các gen ức chế ung thư cũng bị đột biến thì quá trình tạo
khối u ung thư sẽ bắt đầu. Các gen có liên quan tới UTV đã được tìm ra là
BRCA1, BRCA2, P53, Cowden, AR và TA.
1.1.2.8. Yếu tố virus
Chưa rõ ràng [20-26-28]
1.2. Giải phẫu, Mô học và Sinh lý học của tuyến vú
1.2.1. Giải phẫu tuyến vú
Tuyến vú ở phụ nữ trưởng thành nằm từ xương sườn 2 – 6, từ giữa
xương ức tới đường nách giữa, kích thước 10 – 12cm, dày 5-7 cm. Hình dạng


6

tuyến vú thường hình chóp nhưng khác nhau theo từng cá thể, theo thời gian
và sau sinh đẻ.
Cấu trúc tuyến vú gồm 3 phần: da, mô dưới da và mô vú. Phần mô tuyến
vú được cấu tạo từ 15 - 20 thùy, các thùy lại chia ra nhiều tiểu thùy, mỗi tiểu
thùy tạo nên từ các nang tuyến tròn hoặc dài, đứng riêng rẽ hay tập trung từng
đám. Các túi 2-3 nang đổ chung vào nhánh cuối cùng của các ống bài xuất
trong tiểu thùy. Các ống này sẽ đổ vào các nhánh gian tiểu thùy và hợp lại
thành ống lớn hơn, cuối cùng tất cả các ống của mọi tiểu thùy đều đổ vào một
ống duy nhất đưa đến núm vú và mở ra bề mặt núm vú. Giữa các nang tuyến
và các tiểu thùy là mô mỡ và các mô liên kết. Số lượng các nang tuyến ở các
phụ nữ thường ít khác biệt nhưng mô mỡ và mô liên kết nhiều hay ít tạo tuyến
vú có kích thước lớn nhỏ khác nhau [29-30].

Hình 1.1. Hình ảnh giải phẫu cắt dọc tuyến vú [31]
1.2.1.1. Hệ thống mạch máu


thành 2 phần: Một phần trải dài từ cơ ngực lớn đến hạch Rotter từ đó đỏ vào
hạch dưới đòn, phần còn lại trải dài dọc theo động mạch vú trong đến các
hạch trung thất [32].
 Hệ thống hạch vùng của vú

-

Hạch vùng nách: Có khoảng 97% lượng bạch huyết của vú chạy đến các
hạch này. Hạch nách gồm 5 nhóm: Nhóm vú ngoài (nhóm trước), nhóm vai
(nhóm sau), nhóm trung tâm, nhóm hạch TM nách, nhóm hạ đòn (nhóm
đỉnh nách).


8

-

Nhóm hạch vú trong: Nhận lượng bạch huyết từ nửa trong và quầng vú, nhóm
này gồm 6 – 8 hạch nằm dọc theo động mạch vú trong, tương ứng khoang liên
sườn 1, 2, 3.

-

Hạch Rotter: Nằm giữa cơ ngực lớn và cơ ngực bé, nhận bạch huyết từ quầng
vú, từ đó lại dẫn đến nhóm hạch trung tâm hoặc hạ đòn.

-

Dựa vào vị trí của cơ hạ đòn, người ta chia hệ hạch nách thành 3 tầng:
+ Tầng I (Tầng nách thấp): Gồm các hạch ở phía ngoài cơ ngực bé

làm tăng tỷ lệ đột biến. Tuy nhiên, UTV có thụ thể nội tiết dương tính thường
đáp ứng tốt với điều trị bằng hormon do đó tỷ lệ tái phát thấp hơn, thời gian
sống thêm lâu hơn so với các bệnh nhân thụ thể nội tiết âm tính.
- Thụ thể ER và PR là hai thụ thể có giá trị tiên lượng độc lập. UTV có
thụ thể ER(+) có tiên lượng tốt hơn so với ER(-). UTV có ER(+) và PR(+) thì
tiên lượng lại tốt hơn nhóm ER(+) và PR(-).
- Để đánh giá sự bộc lộ của các thụ thể này, người ta thường sử dụng
phương pháp nhuộm hóa mô miễn dịch (IHC: Immunohistochemocal technique)
Hóa mô miễn dịch là kỹ thuật xác định sự hiện diện và vị trí của kháng
nguyên trong các thành phần TB như bào tương, màng TB, nhân bằng các
phản ứng miễn dịch và hóa học thông qua việc xác định phức hợp kháng
nguyên - kháng thể nhờ một kháng thể đặc hiệu. Sau đó, nhờ hệ thống
khuyếch đại bằng chất phát huỳnh quang (miễn dịch huỳnh quang) hoặc một
loại men (miễn dịch men) để phóng đại hệ thống nhận biết, tăng độ nhạy và
độ chính xác của phương pháp.
Một bảng điểm đã được sử dụng để chuẩn hóa phương pháp này:
+ Khi TB có ít hơn 20.000 thụ thể thì mẫu mô sẽ không bắt mầu chất
nhuộm: 0 điểm.
+ Khi TB có khoảng 100.000 thụ thể thì mô sẽ bắt mầu chất nhuộm một
phần và có ít hơn 10% TB bắt màu hoàn toàn chất nhuộm (1+).


10

+ Khi TB có khoảng 500.000 thụ thể thì sẽ có khoảng hơn 10% TB bắt
màu chất nhuộm trên bề mặt hoàn toàn mức độ từ nhẹ đến trung bình (2+).
+ Và khi TB có khoảng 2.000.000 thụ thể thì khoảng hơn 10% TB sẽ bắt
màu chất nhuộm hoàn toàn mức độ mạnh (3+).
Ưu điểm: giá thành rẻ, tiện lợi, mẫu thử nghiệm dễ bảo quản sau khi đã
phẫu tích và chỉ cần sử dụng kính hiển vi quang học thông thường khi quan sát.

hoạt động sống của TB. Trong TB ung thư, sự phosphoryl hóa kích thích một
loạt các con đường dẫn truyền tín hiệu, từ đó ảnh hưởng lên sự tăng sinh, tân
tạo mạch máu và ngăn cản quá trình TB chết theo chương trình [13].

Hình 1.2. Minh họa cấu trúc các thụ thể Her [36]
EGFR là thụ thể đầu tiên trong họ Her được phát hiện vào năm 1978
[15]. Her2 là thụ thể thứ hai trong họ Her người được phát hiện vào năm
1984. Her2 mã hóa một thụ thể tyrosine kinase xuyên màng, tương đồng với
EGFR. Cho đến nay, Her2 là thành viên duy nhất thuộc họ Her mà không có
phối tử nào trong họ này có thể hoạt hóa sự đồng nhị trùng hóa của nó. Thay
vào đó Her2 giữ chức năng đầu tiên như là một đối tác dị nhị trùng hóa đối
với các thành viên khác trong họ Her như EGFR, Her3 hoặc Her4. Her2
thường bộc lộ quá mức trong UTV, buồng trứng, phổi và dạ dày. Do vậy, Her2
là một dấu ấn phân tử thường được dùng làm chỉ số tiên lượng cùng với
EGFR trong nhiều loại ung thư [15]. Trên cơ sở hiểu biết về các con đường


12

dẫn truyền tín hiệu này và vai trò của các thụ thể thuộc họ Her trong quá trình
ung thư, người ta đã phát triển nhiều loại thuốc theo hướng ức chế một hoặc
nhiều trong số các con đường này với hy vọng có thể ngăn chặn quá trình phát
triển của TB ung thư [14].

Các phương pháp đánh giá Her [37-38]
Ngày nay, Her2 đã trở thành một yếu tố tiên lượng quan trọng của UTV.
Có nhiều kỹ thuật đo lường Her2 được sử dụng:
Kỹ thuật hóa mô miễn dịch – IHC:
Là phương pháp mô tả trong phần đánh giá ER và PR.
Hiện có hai bộ sản phẩm dùng để đánh giá thụ thể Her2 theo phương

Ngày nay, xét nghiệm hóa mô miễn dịch đã trở thành thường quy trong
UTV. Dựa trên các đặc điểm về sự bộc lộ ER, PR, Her2 và Ki67 hội nghị
đồng thuận Saint Gallent 2013 đã đưa ra bảng phân loại UTV thành các nhóm
lòng ống A, B, nhóm Her2 dương, nhóm dạng đáy …với các cách thức điều
trị và sự tiên lượng hoàn toàn khác nhau. Nhóm 3 thụ thể âm tính và nhóm thụ
thể nội tiết âm,Her2 (+) có tiên lượng xấu nhất, tỷ lệ tái phát, di căn cao, thời
gian sống thêm ngắn. Nhóm có ER(+) và/hoặc PR(+), Her2(-) có tiên lượng
tốt nhất. Còn nhóm có Her2(+) và ER(+) và/hoặc PR(-) thì tiên lượng cũng
tương đối tốt đặc biệt là nhóm có 3 thụ thể cùng dương tính [41-42].
c.

Catheprin D: Đây là hoạt chất giữ vai trò quan trọng trong sự xâm nhập và di
căn của mô ung thư. Sự bộc lộ quá mức của Cathepsin D chiếm khoảng 60%
các trường hợp UTV liên quan đến nguy cơ tái phát cao và tỷ lệ sống thêm
thấp, ngay cả ở những bệnh nhân chưa có di căn hạch [19-27].
1.2.4. Sự phát triển tự nhiên của ung thư vú
Phần lớn UTV là loại ung thư có thời gian phát triển chậm, chỉ có khoảng
3% UTV diễn tiến nhanh dẫn đến tử vong trong khoảng thời gian ngắn. Thời
gian nhân đôi của tế bào UTV là khoảng 600 ngày. Người ta ước tính thời gian
để từ 1 TB ác tính đầu tiên phát triển đến khi trở thành 1 khối u đường kinh 1cm
là khoảng 7 – 8 năm với số lượng TB khoảng 1 tỷ. Thời gian trung bình để u
tăng kích thước từ 1 cm đến 2 cm là khoảng 4 tháng với 30 lần nhân đôi.


14

a.

Giai đoạn phát triển tại chỗ:
Ban đầu, khối u phát triển từ các TB biểu mô của tuyến hay tiểu thùy của

Nếu 1 trong 3 tiêu chuẩn trên nghi ngờ hoặc âm tính thì cần phải sinh
thiết khối u vú để chẩn đoán mô bệnh học.
1.3.2. Chẩn đoán giai đoạn
Dựa trên phân loại giai đoạn bệnh của Hội Ung thư Hoa Kỳ AJCC 2010 [18]:
T
(U nguyên phát)
Tx: Không xác định
được u nguyên phát
T0: Không có dấu hiệu
u nguyên phát
Tis: Ung thư tại chỗ
(UTBM ống tại chỗ,
UTBM tiểu thùy tại chỗ
hoặc Paget núm vú
nhưng không có u)
T1: U có đường kính
lớn nhất ≤ 2 cm
+ T micro: U có đường
kính ≤ 0,1 cm
+ T1a: 0,1 cm < đường
kính u ≤ 0,5 cm
+T1b: 0,5 cm < đường
kính u ≤ 1 cm
+ T1c: 1 cm < đường
kính u ≤ 2 cm
T2:
2 cm < đường kính u ≤
5 cm

N

hoặc dính vào mô xung quanh. hạch vú trong cùng bên có


16

+ N2a: Di căn hạch nách cùng
bên nhưng hạch dính vào nhau
hoặc dính vào mô xung quanh.
+ N2b: Lâm sàng có di căn hoạch
vú trong cùng bên nhưng không
có di căn hạch nách.
T3:
N3: Di căn hạch hạ đòn hoặc di
U có đường kính > 5 cm căn hạch nách cùng với hạch
vú trong cùng bên hoặc di căn
hạch thượng đòn.
+ N3a: Di căn hạch hạ đòn.
+ N3b: Di căn hạch nách cùng
với hạch vú trong cùng bên.
+ N3c: Di căn hạch thượng đòn
cùng bên.

T4: U với mọi kích
thước nhưng xâm lấn tới
thành ngực hoặc da
(thành ngực bao gồm
xương sườn, cơ liên
sườn, cơ răng trước,
không tính cơ ngực lớn)
+ T4a: U xâm lấn tới



17

M (Di căn xa)
Mx: Không xác định được di căn xa ở thời điểm chẩn đoán.
M0: Không di căn xa.
Ml: Di căn xa.
Xếp loại Giai đoạn
Giai đoạn 0:

Tis

N0

M0

Giai đoạn I:

T1

N0

M0

Giai đoạn IIA:

T0,1

Nl


T4

N0, 1, 2

M0

Giai đoạn IIIC:

mọi T

N3

M0

Giai đoạn IV: mọi T

mọi N

Ml

1.3.3. Chẩn đoán mô học ung thư biểu mô tuyến vú [18-43]
Theo phân loại mô bệnh học ung thư vú của Tổ chức Y tế thế giới 2012 [44]
* Không xâm nhập (tại chỗ):
- Ung thư biểu mô nội ống
- Ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ
* Xâm nhập:
- UTBM ống xâm nhập không phải loại - UTBM tế bào khổng lồ dạng hủy
đặc biệt


- UTBM thể ống nhỏ

- UTBM dị sản

- UTBM dạng tuyến nang

+ Dị sản vẩy

- UTBM bán hủy

+ Dị sản tế bào hình thoi

- UTBM thể nhày và các u chế nhày khác

+ Dị sản xương và sụn

- UTBM đa hình

+Loại hỗn hợp

* Các loại khác:
+ Ung thư biểu mô vi ống xâm nhập
+ Các loại đặc biệt khác: u thần kinh nội tiết
Thể mô bệnh học hay gặp nhất là UTBM thể ống xâm lấn chiếm >80% UTV.
* Kỹ thuật chẩn đoán mô bệnh học ung thư tuyến vú và chẩn đoán hạch
di căn: bằng phương pháp nhuộm Hematoxylin – Eosin. Phương pháp này sử
dụng Hematoxylin và chất nhuộm Eosin để nhuộm tiêu bản. Quy trình bao
gồm các bước: nhận bệnh phẩm, cắt lọc bệnh phẩm, khử nước, đúc khối, cắt
mỏng, nhuộm sau đó đọc kết quả.
1.3.4. Chẩn đoán độ mô học: Dựa trên tiêu chuẩn của Scarff-Blom-Richarsdon. .

căn cải biên [45].
- Phẫu thuật tạo hình tuyến vú có thể được thực hiện theo nhiều cách
thức khác nhau và kèm theo chỉ định xạ trị thường quy sau phẫu thuật. Trong
trường hợp ung thư thể nội ống, có thể phẫu thuật tạo hình ngay tức khắc.
- Phẫu thuật vét hạch nách:
+ Phẫu thuật sinh thiết hạch cửa (hạch cửa là hạch đầu tiên nhận bạch
huyết từ vú, được coi là chặng hạch di căn đầu tiên của UTV): chỉ định khi u
< 2cm. Nếu hạch cửa (+), vét hạch nách.


20

+ Phẫu thuật vét hạch nách nếu u > 2cm, hoặc khi ung thư đã hóa trị
tiền phẫu [18].
1.4.3. Xạ trị
Xạ trị sau phẫu thuật thường quy với liều 45-50Gy trong 5 tuần, nâng
liều tại giường u lên 10 – 16Gy khi có các yếu tố nguy cơ cao.
Chỉ đinh xạ trị được áp dụng như một điều trị bổ trợ khi:
- Có di căn hạch
- Diện cắt cách rìa khối u ≤ 1cm
- U có đường kính ≥ 5cm
- U đa ổ
- Diện cắt dương tính
- Phẫu thuật bảo tồn
Xạ trị hạch nách khi có di căn hạch. Thường xạ trị vào hạch vú trong
nếu u ở vị trí ½ trong hoặc ở trung tâm. Xạ trị hạch hạ đòn trong trường hợp
hạch hạ đòn dương tính, kích thước > 2mm trên đại thể giải phẫu bệnh.
Xạ trị đơn thuần được chỉ định đối với những u tái phát tại chỗ, tại vùng,
giai đoạn lan tràn có triệu chứng chèn ép, giảm đau trong di căn xương [18].
1.4.4. Điều trị toàn thân

hàng đầu của điều trị UTV tân bổ trợ và bổ trợ [9-50-52].
1.4.4.2. Điều trị nội tiết
Điều trị nội tiết được chỉ định cho các bệnh nhân có thụ thể estrogen
và/hoặc progesteron dương tính [10-28-53].
a.

Cơ sở của các biện pháp can thiệp nội tiết
Các can thiệp nhằm làm giảm lượng estrogen hoặc làm cho estrogen
không gắn được với thụ thể nội tiết hoặc làm giảm số lượng thụ TTNT của tế
bào u đều có thể có tác dụng điều trị UTV.

b.

Các phương pháp điều trị nội tiết trong ung thư vú
Liệu pháp nội tiết được áp dụng tuỳ theo tình trạng kinh nguyệt, tình trạng
thụ thể nội tiết và nguyện vọng của bệnh nhân.
+ Cắt buồng trứng:


22

Phương pháp này lần đầu tiên được Albert Schinzinger báo cáo tại hội
nghị ngoại khoa của Đức năm 1889 và đã được áp dụng rộng rãi đến bây giờ.
Sau này, người ta còn tiến hành cắt buồng ứng bằng tia xạ.
Bên cạnh phẫu thuật, tia xạ, gần đây các dẫn chất GnRH như goserelin
(Zoladex), leuprolide (Lupron) được dùng để ức chế buồng trứng tiết ra nội tiết tố.
+ Các thuốc điều hoà thụ thể estrogen chọn lọc (selective estrogen
receptor modulator - SERM)
Tamoxifen được phát hiện năm 1962, đến năm 1971 được Mary Cole và
CS sử dụng để điều trị UTV giai đoạn muộn trên phụ nữ đã mãn kinh. Kể từ đó

phụ nữ UTV đã mãn kinh sử dụng các thuốc AI trong điều trị bổ trợ sau khi
điều trị ban đầu theo chỉ định và thụ thể nội tiết dương tính [10] [55]. Kết quả
cho thấy thời gian sống thêm không bệnh,thời gian đến khi tái phát, thời gian
đến khi di căn của BN được điều trị anastrozole thấp hơn có ý nghĩa so với
các BN sử dụng tamoxifen. Không có sự khác biệt về thời gian sống còn toàn
bộ. Anastrozole còn làm giảm đáng kể các tác dụng phụ.
Mới đây 3 nghiên cứu lớn là ABCSG 8 (Austrian Breast and Colorectal
Cancer Study Group tại Áo), ARNO 95 (Arimidex-nolvadex tại Đức) và ITA
(Italian Tamoxifen Arimidex tại Ý) được phân tích gộp cho kết quả: dùng
tamoxifen 2 năm sau đó chuyển anastrozole 3 năm giúp giảm nguy cơ tái
phát, di căn so với dùng liên tục tamoxifen 5 năm [56-58].
1.4.4.3. Điều trị đích: Trastuzumab là bước tiến mới trong điều trị UTV có
thụ thể Her2 bộc lộ quá mức [9-59-62].
Her2 bộc lộ quá mức là một yếu tố tiên lượng xấu của UTV. Một số
nghiên cứu cho thấy những khối u dù có thụ thể nội tiết dương tính nhưng
biểu hiện quá mức Her2 thì kháng với điều trị nội tiết [63]. Nhưng lại có


24

những nghiên cứu khác cho là tình trạng Her2 ở những khối u có ER+ không
giúp tiên đoán sự đáp ứng với điều trị tamoxifen.
Trastuzumab là một kháng thể IgG1 đơn dòng được chỉ định trong
những bệnh nhân UTV giai đoạn di căn có thụ thể Her2 dương tính, được sử
dụng đơn độc hoặc kết hợp với hóa trị liệu. Thử nghiệm pha III H0648g cho
thấy kết hợp trastuzumab với paclitaxel cho thời gian sống còn toàn bộ trung
bình ở bệnh nhân Her2 dương tính 3+ (IHC) cao hơn những bệnh nhân dùng
paclitaxel đơn thuần 40% [64].
Việc sử dụng trastuzumab trong điều trị UTV cần thận trọng. Một báo
cáo đã so sánh việc dùng thuốc trên những bệnh nhân có IHC 3+ cho tỉ lệ đáp

- Độ mô học: Cũng một yếu tố tiên lượng quan trọng mặc dù nó không
sử dụng đánh giá giai đoạn bệnh. Độ mô học dựa vào sự hình thành ống nhỏ,
sự đa hình thái của nhân và hoạt động nhân chia. Có rất nhiều hệ thống chia
độ như hệ thống chia độ của Bloom và Ricchardson có hiệu quả nhất trong
tiên lượng bệnh.
- Tích trạng thụ thể nội tiết: Bệnh nhân UTV có thụ thể nội tiết
Estrogen và/hoặc Progesteron dương tính đáp ứng tốt hơn với điều trị nội tiết,
đồng thời tỷ lệ tái phát, di căn thấp hơn và có thời gian sống thêm lâu hơn so
với nhóm có thụ thể nội tiết âm tính. Sự bộc lộ của Progesteron Receptor (PR)
được cho là có liên quan không hoàn toàn đến Estrogen Receptor (ER), PR
dương tính làm tăng đáp ứng với điều trị nội tiết và kéo dài sống thêm không
bệnh và sống còn toàn bộ [67].
- Her2: Sự bộc lộ yếu tố này liên quan đến sự phát triển nhanh của
bệnh, làm giảm tỷ lệ sống thêm. Những u có bộc lộ quá mức Her2 thường
kháng với điều trị hóa chất, tỷ lệ tái phát di căn sau điều trị cao. Bằng hóa
mô miễn dịch để phát hiện mức độ bộc lộ Her2, người ta có thể dự đoán
được khả năng tái phát trên BN bằng phẫu thuật và xạ trị đơn thuần. Tình
trạng Her2 cũng là cơ sở để áp dụng điều trị sinh học bằng kháng thể đơn
dòng trong UTV. Kết luận rút ra từ kết quả của 18 nghiên cứu cũng cho



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status