Công tác xã hội nhóm đối với người cai nghiện ma túy từ thực tiễn trung tâm tư vấn và điều trị nghiện ma tuý tỉnh lâm đồng (tt) - Pdf 43

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÙI THỊ LỆ QUYÊN
CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHIỆN
MA TUÝ TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM TƯ VẤN VÀ
ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TUÝ TỈNH LÂM ĐỒNG
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60. 90. 01. 01

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI, 2017


Công trình được hoàn thành tại: Học viện khoa học xã hội

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.Đỗ Hạnh Nga

Phản biện1:TS. Nguyễn Hải Hữu
Phản biện 2:PGS.TS Nguyễn Hữu Chí

Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn
thạc sĩ họp tại: Học viện Khoa học xã hội
.............giờ............ngày.........tháng.......năm.............

Có thể tìm hiểu luận văn tại :
Thư viện học viện Khoa học xã hội

1


Nghiên cứu “Quản lý trường hợp đối với những đối tượng mới ra
tù có sử dụng ma túy” của Inciardi JA, Martin SS, Scarpitti FR [25]
Hầu hết các nghiên cứu liên quan đến vấn đề ma túy hiện nay
trên thế giới tập trung vào nghiên cứu các tác động về mặt y tế, nghiên
cứu các thuốc thay thế ma túy.
2.2. Tại Việt Nam
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quốc Hội và Chính phủ đã tiến hành nhiều
hoạt động và nghiên cứu kinh nghiệm của nhiều Quốc gia, để giải quyết
bài toán về người nghiện ma túy theo quan điểm mới. Nhiều văn bản,
luật, chính sách có liên quan đến ma tuý được điều chỉnh, thay đối.
Với quan điểm khuyến khích cai nghiện tự nguyện, áp dụng cai
nghiện bắt buộc đối với người có hành vi nguy hiểm cho xã hội. Đa dạng
các loại hình cơ sở cai nghiện để người nghiện ma tuý tiếp cận các dịch
vụ theo nhu cầu...
Có khá nhiều nghiên cứu đối với người nghiện ma túy tập trung
vào giải quyết các vấn đề nghiện và chống tái nghiện.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng công tác xã hội nhóm đối với người cai
nghiện ma túy tại Trung tâm Tư vấn và Điều trị nghiện ma tuý tỉnh Lâm
Đồng. Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả các
hoạt động của công tác xã hội nhóm giúp cho việc hỗ trợ người cai
nghiện tại Trung tâm Tư vấn và Điều trị nghiện ma tuý tỉnh Lâm Đồng
ngày một chất lượng và có chiều sâu hơn.

3


3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phương pháp phỏng vấn sâu
Tác giả luận văn tiến hành phỏng vấn sâu đối với 05 người đang
cai nghiện tại Trung tâm, 03 nhân viên phụ trách triển khai các hoạt động
nhóm, 02 lãnh đạo của Trung tâm Tư vấn và Điều trị nghiện ma tuý tỉnh
Lâm Đồng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận của luận văn
Các kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo
hữu ích tại các cơ sở nghiên cứu và đào tạo về công tác xã hội.
Là nguồn tài liệu tham khảo cho các chuyên đề, khóa luận trong
lĩnh vực công tác xã hội nhóm.
Góp phần làm phong phú thêm hệ thống cơ sở dữ liệu cho việc
phân tích lý luận về công tác xã hội nhóm với người cai nghiện ma tuý.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Các phát hiện và đề xuất của nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao
chất lượng cung cấp dịch vụ điều trị nghiện, nâng cao hiệu quả hoạt động
công tác xã hội nhóm đối với người cai nghiện ma tuý. Làm phong phú
và hoàn thiện hơn các giải pháp hỗ trợ người nghiện tại Trung tâm. Kết
quả nghiên cứu sẽ giúp nâng cao nhận thức của xã hội, cộng đồng về vai
trò của nghề Công tác xã hội, các nhân viên Công tác xã hội cũng như

5


vai trò của hệ thống cung cấp dịch vụ trong hoạt động hỗ trợ người cai
nghiện ma túy.
Đề tài nghiên cứu có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo
cho các nghiên cứu có lĩnh vực liên quan.
7. Kết cấu của luận văn


Lý luận về các giai đoạn, tiến trình công tác xã hội nhóm:
Người làm công tác xã hội nhóm (nhân viên xã hội) cần nắm
vững kiến thức về phương pháp công tác xã hội nhóm trong đó chú ý đến
các giai đoạn phát triển nhóm và tiến trình các giai đoạn giúp đỡ nhóm
đối với người sử dụng ma tuý.
Các giai đoạn phát triển nhóm:
Có 5 giai đoạn phát triển:

* Giai đoạn hình thành:

* Giai đoạn bão tố (cạnh tranh và liên kết):
* Giai đoạn ổn định (Lập quy chuẩn mới):
* Giai đoạn trưởng thành (Phát huy tối đa năng suất|):
* Giai đoạn kết thúc

7


Tiến trình công tác xã hội nhóm đối với người đang sử dụng ma
túy dựa trên 4 bước sau:
Bước 1: Chuẩn bị và thành lập nhóm
Bước 2: Nhóm bắt đầu hoạt động
Bước 3: Can thiệp – thực hiện nhiệm vụ
Bước 4: Lượng giá – kết thúc hoạt động nhóm
Chương 2: Thực trạng công tác xã hội nhóm đối với người nghiện
ma tuý từ thực tiễn Trung tâm Tư vấn và Điều trị nghiện ma tuý
tỉnh Lâm Đồng.
2.1. Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu
2.2. Thực trạng công tác xã hội nhóm đối với người nghiện ma tuý
tại Trung tâm Tư vấn và Điều trị nghiện ma tuý tỉnh Lâm Đồng

Không có sự phân biệt nhiều về trình độ văn hoá giữa những
người cai nghiện tại trung tâm, có thể tham gia các hoạt động, các nhóm
mà mọi thành viên cơ bản có trình độ ngang nhau. Tuy nhiên người phụ
trách, cung cấp kỹ năng kiến thức cho họ cần nắm được đặc điểm đối
tượng để có chương trình phù hợp.
Người nghiện ma tuý cần được cung cấp kiến thức, kỹ năng để
có thể tăng cường khả năng tiếp cận thông tin, tiếp cận các dịch vụ xã
hội, khả năng giao tiếp và ứng phó với các tình huống có nguy cơ giúp
họ phòng tránh tái nghiện.

9


Biểu đồ 2.5 cho ta thấy người nghiện ma tuý đi cai nghiện tại
trung tâm với những thời hạn khác nhau nhưng chủ yếu là thời gian cai
06 tháng. Điều này phản ánh một thực tế là học viên hiện nay chủ yếu là
người đi cai nghiện tự nguyện, với tỷ lệ 67 %.
Theo quy định của Trung tâm nếu học viên phấn đấu tốt thì sẽ
được về trước thời hạn 03 tháng (quy chế của Trung tâm) như vậy với
thời gian 03 tháng về hẳn sẽ có ảnh hưởng đến việc duy trì tham gia các
nhóm ở các người cai nghiện.
20% người cai nghiện có thời gian 12 tháng, 3% là 24 tháng và
khác (có thể là 18 hoặc 36 tháng...) có thể là học viên tự nguyện hoặc đối
tượng quản lý sau cai hay người cai nghiện thuộc diện bị bắt buộc.
Như vậy tương ứng với mỗi diện cai nghiện cụ thể có thể có kế
hoạch hoạt động nhóm phù hợp
Ma tuý có rất nhiều loại tuy vậy hiện nay tại Trung tâm theo kết
quả khảo sát thì người nghiện ma tuý chủ yếu sử dụng ma tuý đá chiếm
tỷ lệ 57%, heroin 36%, cần sa 6% và cỏ mỹ là 1%. Trên thực tế thì có
những người vừa sử dụng ma tuý đá vừa sử dụng heroin nhưng theo

Theo số liệu ở bảng 2.1. thì người nghiện ma tuý tại trung tâm
tham gia vào nhiều hoạt động trong đó mức độ tham gia thường xuyên
theo thứ tự là hoạt động lao động trị liệu gồm đan hàng thủ công mỹ
nghệ, phục vụ hậu cần, chăm sóc cảnh quan, cây cảnh... chiếm tỷ lệ 76%;

11


học chuyên đề chiếm 54 %; thể dục, thể thao (bóng đá, bóng chuyền,
bóng rổ...) 48%; văn hoá văn nghệ 36%; tư vấn 36%.
Hoạt động người nghiện cho rằng thỉnh thoảng tham gia chiếm tỷ
lệ cao nhất là tư vấn 50% .
Hoạt động có tỷ lệ người nghiện không tham gia nhiều nhất là văn
hoá văn nghệ 33%.
Mức độ tham gia của học viên qua các hoạt động không đồng đều,
chưa đạt 100%, nhiều hoạt động thỉnh thoảng tham gia và có hoạt động
không tham gia. Có thể có nhiều nguyên nhân như do người nghiện mới
vào chưa tham gia, vì lý do sức khoẻ hay vì do các hoạt động chưa thu
hút người nghiện tham gia.
Qua bảng 2.2.ta thấy người nghiện ma tuý tham gia các hoạt động
ở Trung tâm hầu hết theo nhóm, tỷ lệ cao nhất là nhóm học chuyên đề
90%; nhóm lao động trị liệu 81%; nhóm thể dục, thể thao 80% nhóm văn
hoá, văn nghệ 66% và cuối cùng là tư vấn 28%.
Riêng hoạt động tư vấn tỷ lệ tham gia tư vấn nhóm chỉ 28% chủ
yếu là tư vấn cá nhân 58%.
Như vậy thực trạng Trung tâm có nhiều hoạt động với nhiều nhóm
khác nhau.
Khi hỏi người nghiện tại trung tâm trong các nhóm làm việc, sinh
hoạt họ có được ai hướng dẫn nội dung hoặc hỗ trợ thì có 86% trả lời có
nhận sự hỗ trợ, hướng dẫn và 14% không nhận được (theo kết quả bảng

hợp với bản thân để có thể phát triển tốt hơn”, giúp họ “giải quyết các

13


vấn đề của bản thân cũng như của những người đồng cảnh ngộ” (nguồn
từ bảng hỏi học viên cung cấp).
Theo số liệu từ bảng 2.6 thì nhóm người nghiện ma tuý tại Trung
tâm chủ yếu ở giai đoạn 1: Hình thành nhóm (các thành viên mới làm
quen, thường dựa vào người lãnh đạo để có được cách thức làm việc)
44% nhận thấy điều này, 30% ý kiến các nhóm đang ở giai đoạn 4: Tập
trung vào công việc (nhóm đã trưởng thành, mỗi thành viên trong nhóm
được phân chia vai trò nhưng với sự quan tâm của cả nhóm); 16% cho
rằng nhóm đang ở giai đoạn 3: Hình thành quy ước chung (các thành
viên trong nhóm hình thành quy ước chung, chấp nhận nhau thông qua
biểu lộ tình cảm thân mật, yêu thương, giận hờn), 7% nhìn thấy nhóm
trong giai đoạn 2: Sóng gió/ bão táp (xuất hiện xung đột trong các mối
quan hệ và cách thức tổ chức công việc) và 3% kết luận nhóm đang ở
giai đoạn 5: Kết thúc (lượng giá các hoạt động của nhóm).
Như vậy nhóm có trải qua các giai đoạn từ hình thành cho đến
kết thúc. Tuy nhiên với nhóm cùng sở thích mọi người có ấn tượng về
nhóm ở giai đoạn đầu mới thành lập nhóm và giai đoạn 4 giai đoạn
trưởng thành.
Đối với nhóm đồng cảnh ngộ có đến 56% người nghiện ma tuý
tại Trung tâm lựa chọn nhóm đang ở giai đoạn 1: Hình thành nhóm (các
thành viên mới làm quen, thường dựa vào người lãnh đạo để có được
cách thức làm việc), 20% ý kiến các nhóm đang ở giai đoạn 4: Tập trung
vào công việc (nhóm đã trưởng thành, mỗi thành viên trong nhóm được
phân chia vai trò nhưng với sự quan tâm của cả nhóm); 11% cho rằng
nhóm đang ở giai đoạn 3: Hình thành quy ước chung (các thành viên

giết, theo dõi, điều tra cho ra ... họ cần được điều trị không chỉ bằng

15


thuốc mà còn phải áp dụng các phương pháp khác trong đó có biện pháp
tư vấn.
Trung tâm có nhiều hoạt động với nhiều nhóm khác nhau nhưng
mức độ tham gia của người cai nghiện tại Trung tâm (học viên) chưa
đều, bản thân họ thích tham gia nhóm vì nhận thấy lợi ích từ nhóm mang
lại: “đó là tinh thần đoàn kết, biết chia sẻ nhau vượt qua khó khăn, rèn
luyện tính tự giác, tự lập, biết thêm kỹ năng sống, thay đổi cách nhìn
nhận, có trách nhiệm hơn trong công việc và không cảm thấy đơn độc”.
Trung tâm cần tổ chức nhóm chuyên nghiệp hơn, giúp họ giải quyết
những vấn đề của bản thân và của những người đồng cảnh ngộ.
Hoạt động nhóm đã diễn ra xong chưa đạt chất lượng, chưa ổn
định và chưa thực hiện đúng tiến trình công tác xã hội nhóm.
2.2.3. Thực trạng tổ chức hoạt động nhóm tại Trung tâm
2.3.3.1 Thực trạng qua cái nhìn của người nghiện ma tuý
-

Những chia sẻ từ thực tế của những người cai nghiện tại Trung

tâm cũng nói lên bản thân họ rất thích được tham gia các nhóm tại nhóm
họ có thể thực hiện các mục đích của nhóm và dù có là nhóm sở thích
hay do chỉ định thì trong sinh hoạt nhóm họ đều nhận thấy nhóm giúp họ
giải quyết nhiều vấn đề và hỗ trợ tốt các mục đích nhóm đặt ra.
-

Tuy vậy, một thực tế là việc thành lập và duy trì nhóm chưa đạt

Tuy vậy họ cũng đã nhận thấy nhóm chưa thực sự theo tiến trình

của công tác xã hội nhóm, nhân viên công tác xã hội đôi khi lại kiêm cả
vai trò trưởng nhóm (mặc dù không phải ở giai đoại thành lập nhóm)
thậm chí nhóm được thành lập không có trưởng nhóm, thư ký, và chưa
thể giải quyết mâu thuẫn trong nhóm vì nhiều lý do trong đó chủ yếu là
thời gian, nhiều việc.
2.3.3.3. Thực trạng qua nhìn nhận của lãnh đạo đơn vị
-

Qua trả lời phỏng vấn sâu của Ban lãnh đạo Trung tâm thì Trung

tâm rất coi trọng việc ứng dụng các kiến thức về công tác xã hội nói
chung và các phương pháp công tác xã hội nói riêng trong đó có công tác
xã hội nhóm vào thực tế hỗ trợ cho người nghiện tại Trung tâm.
-

Thực trạng công tác xã hội nhóm chưa ứng dụng tốt vào Trung

tâm có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân như nhân sự ít vì chỉ tiêu biên
chế ít hay chưa phát huy hết vai trò năng lực của đội ngũ nhân viên công
tác xã hội.Sự khác biệt giữa lý thuyết và thực tiễn cũng là một yếu tố ảnh
hưởng đến hiệu quả.

17


Từ nghiên cứu thực trạng công tác xã hội nhóm từ thực tiễn
Trung tâm Tư vấn và Điều trị nghiện ma tuý tỉnh Lâm Đồng tôi nhận
thấy cần phải thay đổi, cải tiến cách thực hiện. Công tác xã hội nhóm cần

Các thành viên nhóm từ chỗ chưa hiểu nhau, đôi lúc chê nhau
hoặc mâu thuẩn nhau đã biết quan tâm đến nhau nhiều hơn, học hỏi lẫn
nhau và thành thật góp ý nhận xét cho các thành viên của nhóm nên khắc
phục tồn tại cũng như phát huy các điểm mạnh của mình. Nhóm khen
ngợi trưởng nhóm là một người nói được làm được, nhiệt tình, trách
nhiệm, nhẹ nhàng với anh em...
Nhóm đã tìm hiểu các dịch vụ hỗ trợ như biện pháp quan hệ tình
dục lành mạnh, tìm hiểu kiến thức và phòng ngừa lây nhiễm, liên hệ
chuyển gửi dịch vụ uống ARV qua vấn đề của bạn Nguyễn Thành Nh;
cùng trao đổi cách lấy lại niềm tin từ gia đình, sống tốt và cố gắng để hạn
chế kỳ thị của cộng đồng; trao đổi và nắm được các kỹ năng để tìm kiếm
việc làm phù hợp với bản thân.
Trưởng nhóm phát huy được vai trò của mình có nhiều đóng góp
cho nhóm và không ngại học hỏi trau dồi các kỹ năng để điều hành nhóm
tốt hơn.
Về phía nhân viên xã hội qua làm việc cùng với nhóm cũng nhận
thấy cần phải trau dồi nhiều kiến thức, kỹ năng như kỹ năng giải quyết
xung đột, kiến thức về phòng chống tái nghiện cho các thành viên nghiện
ma tuý lâu năm...

19


Các thành viên nhóm cũng đã chia sẻ cới gia đình về các kiến thức
đã được trang bị cùng với sự hỗ trợ cùng nhau vươn lên từ các bạn trong
nhóm nên cũng tạo được sự đồng tình, động viên từ phía gia đình.
Từ đó đề xuất ba biện pháp chủ yếu nhằm nhằm thúc đẩy hiệu
quả công tác xã hội nhóm đối với người cai nghiện ma túy tại Trung tâm.
Một là biện pháp về nâng cao năng lực của nhân viên công tác
xã hội tại Trung tâm, đây là biện pháp quan trọng nhất vì nó có thể quyết

hợp.

KẾT LUẬN
Nghề công tác xã hội là một nghề mới ở Việt Nam, hầu như mọi
người còn lạ lẫm với tên gọi của nghề. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển
của đất nước, nghề công tác xã hội đã được công nhận là một nghề với
nhiều công việc đáp ứng nhu cầu phục vụ xã hội.
Ngày 15/9/2016 Thủ tướng chính phủ đã ký quyết định số
1791/QĐ- TTg lấy ngày 25 tháng 3 hằng năm là “Ngày Công tác xã hội
Việt Nam”. Nhằm tôn vinh giá trị cao quý, ý nghĩa nhân văn của nghề
công tác xã hội; ghi nhận vai trò và đóng góp của người làm công tác xã
hội trong việc tham gia giải quyết các vấn đề của cá nhân, gia đình, cộng
đồng và xã hội, góp phần bảo đảm thực hiện quyền con người, công
bằng, tiến bộ xã hội và hạnh phúc của nhân dân; Phát huy truyền thống
“Lá lành đùm lá rách” và tinh thần thương yêu, tương trợ và giúp đỡ lẫn
nhau của người Việt Nam; Thu hút sự quan tâm của các tầng lớp nhân

21


dân tích cực tham gia trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng gặp
hoàn cảnh khó khăn và phát huy vai trò của người làm công tác xã hội.
Thực tế cho thấy, đa phần nhân viên làm công tác xã hội chưa
được đào tạo cơ bản. Đội ngũ nhân viên này phát triển có tính tự phát
chủ yếu là của các tổ chức đoàn thể như Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ,
Hội Người cao tuổi, Hội Cựu chiến binh, cán bộ phường, xã đôi khi là
những người dân tự nguyện. Họ làm việc chủ yếu theo kinh nghiệm,
chưa được đào tạo kỹ năng khoa học xã hội, kỹ năng nghề cần thiết về
công tác xã hội. Do vậy, hiệu quả giải quyết các vấn đề xã hội, vấn đề
của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng dân cư không cao, thiếu tính


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status