DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Bộ đội địa phương
Chính sách dân tộc
Chủ nghĩa xã hội
Xã hội chủ nghĩa
Giai cấp công nhân
Hệ thống chính trị
Bộ Chỉ huy Quân sự
Lực lượng vũ trang
Quân đội nhân dân
Chữ viết tắt
BĐĐP
CSDT
CNXH
XHCN
GCCN
HTCT
BCHQS
LLVT
QĐND
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
3
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BỘ
ĐỘI ĐỊA PHƯƠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN
chính sách dân tộc ở tỉnh Phú Thọ hiện nay
Giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả bộ đội địa phương
thực hiện chính sách dân tộc ở tỉnh Phú Thọ hiện nay
55
88
90
95
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, việc giải quyết một cách đúng
đắn các quan hệ dân tộc, hoạch định và thực hiện có hiệu quả CSDT của Đảng
và Nhà nước là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất to lớn trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đảng ta từ
khi thành lập đến nay luôn coi việc hoạch định và thực hiện CSDT là một
nhiệm vụ cực kỳ quan trọng. Chính sách dân tộc là một bộ phận trong hệ
thống chính sách chung của Đảng và Nhà nước ta, tác động trực tiếp đến cộng
đồng các dân tộc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Hiện nay dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, nhân quyền... luôn là những vấn
đề nhạy cảm mà các thế lực thù địch tìm mọi cách lợi dụng, để chống phá
sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta, chia rẽ khối
đại đoàn kết toàn dân, bằng nhiều thủ đoạn khác nhau, nhằm gây mất ổn
định cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng.
tốt hơn CSDT của BĐĐP tỉnh Phú Thọ hiện nay là vấn đề mang tính cấp thiết
cả về lý luận và thực tiễn. Với lý do trên, tác giả chọn đề tài “Bộ đội địa
phương thực hiện chính sách dân tộc ở tỉnh Phú Thọ hiện nay” làm luận
văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Vấn đề dân tộc và thực hiện CSDT luôn là mục tiêu quan trọng có tính
chất chiến lược cách mạng do vậy luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm cụ
thể hóa bằng các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và hệ thống pháp luật của nhà
nước. Ngoài ra trong thời gian gần đây có rất nhiều công trình nghiên cứu
khoa học, đề tài, bài viết liên quan tới vấn đề dân tộc và việc thực hiện CSDT
của Đảng và Nhà nước ta
* Nghiên cứu về chính sách dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc,
có các công trình tiêu biểu:
Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam
Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2000). Tài liệu đề cập đến vấn đề
4
dân tộc, quan hệ dân tộc trên thế giới, tình hình và đặc điểm chủ yếu, mối
quan hệ giữa các dân tộc ở Việt Nam, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà
nước Việt Nam, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở Đảng và cán bộ Đảng viên
trong việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước.
Vấn đề dân tộc và công tác dân tộc ở nước ta, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội (2001). Cuốn sách đề cập tới các quan điểm cơ bản của chủ
nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về vấn đề dân tộc
và thực hiện chính sách dân tộc. Bên cạnh đó các tác giả cũng nêu ra các
đặc điểm nổi bật của dân tộc Việt Nam và công tác dân tộc cần thực hiện
trong sự nghiệp cách mạng nước ta.
Ủy ban dân tộc và miền núi (2001), "Về vấn đề dân tộc và công tác
nghèo, xây dựng cơ sở chính trị - xã hội, xây dựng HTCT của BĐĐP. Trên cơ
sở đánh giá đúng thực trạng, những nguyên nhân, rút ra một số kinh nghiệm
tham gia xóa đói, giảm nghèo; xây dựng cơ sở chính trị - xã hội của BĐĐP.
Từ đó xác định phương hướng, yêu cầu và những giải pháp cơ bản nâng cao
chất lượng tham gia xóa đói, giảm nghèo, xây dựng cơ sở chính trị - xã hội,
hệ thống chính trị vững mạnh của BĐĐP trong giai đoạn hiện nay. Thông qua
đó, BĐĐP thể hiện vai trò của mình trong tham gia thực hiện CSDT của
Đảng, Nhà nước ta. Do vậy, đây là những tài liệu rất có giá trị để tác giả tiếp
cận, nghiên hoạt động của BĐĐP tỉnh Phú Thọ thực hiện CSDT hiện nay.
Như vậy, cho đến nay có rất nhiều công trình khoa học đi sâu nghiên
cứu, lý giải về thực hiện chính sách dân tộc ở các góc độ khác nhau; về vai trò
của Quân đội trong thực hiện CSDT. Tuy nhiên chưa có công trình nào đề cập
một cách có có hệ thống cơ sở lý luận, thực tiễn cũng như đề xuất hệ thống các
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện CSDT của BĐĐP tỉnh Phú Thọ
hiện nay. Vì vậy đề tài “Bộ đội địa phương thực hiện chính sách dân tộc ở
tỉnh Phú Thọ hiện nay” mà tác giả chọn làm luận văn tốt nghiệp là công trình
độc lập, không trùng lắp với các công trình khoa học, luận văn, luận án đã được
công bố.
7
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn của BĐĐP tỉnh
Phú Thọ trong thực hiện CSDT hiện nay từ đó xác định yêu cầu và đề xuất
một số giải pháp cơ bản nhằm làm cho BĐĐP tỉnh Phú Thọ thực hiện tốt hơn
CSDT của Đảng và Nhà nước ta trong thời gian tới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ một số vấn đề lý luận về BĐĐP tỉnh Phú Thọ trong thực hiện
CSDT của Đảng, Nhà nước ta hiện nay.
học xã hội và nhân văn như: phân tích, tổng hợp, lịch sử, lôgíc, hệ thống cấu
trúc, so sánh, thống kê, khảo sát thực tiễn, điều tra xã hội học và phương pháp
chuyên gia.
6. Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp cơ sở khoa học để
BĐĐP tỉnh Phú Thọ nói riêng, BĐĐP các tỉnh khu vực miền núi phía Bắc nói
chung phát huy tốt vai trò của mình trong thực hiện CSDT của Đảng, Nhà
nước hiện nay.
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu,
giảng dạy, học tập ở hệ thống nhà trường quân đội và đội ngũ cán bộ cơ sở
trong tham gia thực hiện CSDT của Đảng, Nhà nước ta hiện nay.
7. Kết cấu của đề tài
Luận văn gồm: Mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo và phụ lục.
9
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BỘ ĐỘI ĐỊA PHƯƠNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở TỈNH PHÚ THỌ HIỆN NAY
1.1. Một số vấn đề lý luận về bộ đội địa phương thực hiện chính
sách dân tộc ở tỉnh Phú Thọ hiện nay
1.1.1. Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
* Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về chính sách dân tộc
Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định: giai cấp, dân tộc luôn là những vấn
đề có ý nghĩa chiến lược của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Giải quyết vấn đề
dân tộc là giải quyết vấn đề quan hệ tộc người trong một quốc gia và giữa các
quốc gia dân tộc trên thế giới. Giải quyết vấn đề dân tộc là giải quyết mối quan
cách mạng vô sản chỉ có GCCN hiện đại - một giai cấp đã ý thức đư ợc vai
trò sứ mệnh lịch sử của mình, là giai cấp duy nhất có khả năng tập hợp tất
cả những tầng lớp nhân dân lao động bị áp bức bóc lột, các dân tộc bị áp
bức trong cuộc đấu tranh bền bỉ nhằm giải phóng triệt để các dân tộc và
vạch ra con đường phát triển tất yếu cho các dân tộc trên thế giới.
Về thực chất giải quyết vấn đề dân tộc là giải quyết vấn đề lực lượng
cách mạng, đây là nhiệm vụ xuyên suốt trong toàn bộ tiến trình cách mạng
XHCN. Giải quyết vấn đề dân tộc vừa là nhiệm vụ trong giai đoạn đấu
tranh giành chính quyền vừa là nhiệm vụ trong giai đoạn xây dựng CNXH.
Đồng thời, giải quyết vấn đề dân tộc vừa là mục tiêu, động lực của cách
mạng XHCN, là quá trình gắn với sự nghiệp cách mạng của GCCN. Vấn đề
dân tộc được giải quyết đúng đắn phù hợp với nguyện vọng của các dân tộc
sẽ tạo ra được sức mạnh to lớn trong nhân dân, trở thành động lực mạnh mẽ
xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN.
Trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, thời đại mà V.I.Lênin sống và hoạt
động cách mạng, vấn đề bình đẳng và tự quyết dân tộc lại càng bức thiết hơn.
Trong những điều kiện ấy, Lênin đã phát triển những luận điểm của Mác và
Ăngghen về vấn đề dân tộc. Lênin đã phát hiện hai xu hướng lịch sử trong sự
phát triển dân tộc và trong mối quan hệ dân tộc; Người viết:
11
Xu hướng thứ nhất là: Sự thức tỉnh của đời sống dân tộc và của các
phong trào dân tộc, cuộc đấu tranh chống mọi ách áp bức dân tộc, việc thiết
lập các quốc gia dân tộc.
Xu hướng thứ hai là: Việc phát triển và tăng cường đủ mọi thứ quan hệ
giữa các dân tộc, việc xóa bỏ những hàng rào ngăn cách của các dân tộc và việc
thiết lập sự thống nhất quốc tế của tư bản, của đời sống kinh tế nói chung, của
chính trị, của khoa học... [26, tr.158].
Cương lĩnh dân tộc của những người mác xít chú ý đến cả hai xu
phải vì mưu đồ và lợi ích của một nhóm người nào) và quyền tự nguyện liên
hiệp lại với các dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng.
Nguyên tắc liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại: Đây là tư tưởng
cơ bản trong Cương lĩnh dân tộc của Lênin, phản ánh bản chất quốc tế của
phong trào công nhân, phản ánh sự thống nhất giữa sự nghiệp giải phóng dân
tộc với giải phóng giai cấp công nhân, là điều kiện tăng thêm sức mạnh để các
phong trào đó giành thắng lợi. Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc là nội
dung quy định mục tiêu, đường lối, phương pháp xem xét, cách thức giải
quyết nội dung quyền bình đẳng dân tộc, quyền dân tộc tự quyết. Liên hiệp
công nhân tất cả các dân tộc là cơ sở vững chắc để đoàn kết các tầng lớp nhân
dân lao động thuộc các dân tộc trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc
vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội; là sức mạnh để phong trào dân tộc và
GCCN hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình.
Như vậy chủ nghĩa Mác - Lênin đã đề cập đến những vấn đề cơ bản
nhất của dân tộc và vấn đề dân tộc. Dân tộc và vấn đề dân tộc còn tồn tại lâu
dài; vừa là mục tiêu trước mắt nhằm giải quyết vấn đề lực lượng cách mạng,
vừa gắn liền với cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản nhằm xóa bỏ mọi
áp bức giai cấp, áp bức dân tộc, xây dựng mối quan hệ dân tộc mới bình đẳng,
tự quyết, liên hiệp GCCN các dân tộc để thực hiện thắng lợi mục tiêu cách
mạng xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa Mác - Lênin không tuyệt đối hóa vấn đề
dân tộc, nhưng cũng không xem nhẹ vấn đề này. Chỉ dưới CNXH, các dân
tộc, quan hệ dân tộc mới hoàn toàn bình đẳng, có quyền tự quyết, tôn trọng và
giúp đỡ nhau cùng phát triển trong hòa bình.
13
* Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
chính sách dân tộc
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng cao đẹp nhất của tinh thần dân
tộc chân chính, chủ nghĩa yêu nước và tinh thần quốc tế cao cả của nhân dân
đọc luận cương của Lênin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa đăng trên báo
Nhân đạo. Người viết: Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn
khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một
mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo:
"Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con
đường giải phóng chúng ta!” [41, tr.127].
Như vậy, xuất phát từ yêu cầu giải phóng dân tộc, từ chủ nghĩa yêu
nước. Người đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tiếp thu truyền bá chủ nghĩa
Mác - Lênin vào Việt Nam và sớm ý thức được rằng, cách mạng thuộc địa,
cách mạng giải phóng dân tộc là bộ phận của cách mạng vô sản thế giới.
"Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới" [38,
tr.301]. Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã sớm ý
thức được tính chất của thời đại mới, thời đại thắng lợi của cách mạng vô sản
mở đầu bằng thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, Người so
sánh hình ảnh của chủ nghĩa đế quốc là con đỉa có hai cái vòi, một vòi hút
máu nhân dân lao động chính quốc, một vòi kia bám vào giai cấp vô sản ở các
thuộc địa. Muốn đánh đổ chủ nghĩa đế quốc phải chặt cả hai vòi của nó; cách
mạng vô sản ở các nước tư bản và cách mạng ở thuộc địa phải như hai cái
cánh của một con chim, phải thực hiện được sự liên minh chiến đấu giữa vô
sản ở "chính quốc" với vô sản và nhân dân các thuộc địa; phải xóa bỏ cách áp
bức của thực dân ở thuộc địa, cách mạng thuộc địa không nhất thiết phải chờ
đợi, phải phụ thuộc vào cách mạng ở "chính quốc" mà phải chủ động, "đem
sức ta mà giải phóng cho ta", cách mạng thuộc địa có thể giành thắng lợi
trước, từ đó giúp cho cách mạng vô sản ở "chính quốc" giành thắng lợi.
Với sự xác định con đường cách mạng đúng đắn, Hồ Chí Minh đã
thành lập chính đảng đó là Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930,
15
đường lối cách mạng nước ta được xác định rõ: làm cách mạng dân chủ tư
trong mọi công tác, nhất là công tác tuyên truyền phải chú ý tới đặc điểm
riêng này. Người nói: "Một tỉnh có đồng bào Thái, đồng bào Mèo, thì tuyên
truyền huấn luyện đối với đồng bào Thái khác, đồng bào Mèo khác, phải có
sự thay đổi thích hợp" [43, tr.128].
Người yêu cầu các chương trình, kế hoạch công tác phát triển miền núi
không chỉ phù hợp với đồng bào miền núi, mà ngay cả cách thể hiện cũng
được diễn tả "nôm na" để đồng bào dễ hiểu, dễ làm theo. Người căn dặn: Nếu
cứ nói nào là làm "cách mạng xã hội chủ nghĩa", nào là "tiến lên chủ nghĩa xã
hội", nào là "xây dựng chủ nghĩa xã hội", đồng bào các dân tộc thiểu số khó
hiểu, ít người hiểu. Phải nói rõ xây dựng chủ nghĩa xã hội là cái gì? Nói nôm
na để cho người ta dễ hiểu, hiểu để người ta làm được [43, tr.130].
Tâm lý, phong tục tập quán của đồng bào miền núi khác so với đồng
bào miền xuôi. Do điều kiện địa lý - văn hóa miền núi, nên Hồ Chí Minh đòi
hỏi CSDT phải có nội dung biện pháp và bước đi thích hợp. "Miền núi đất
rộng người thưa, tình hình vùng này không giống tình hình vùng khác. Vì vậy,
áp dụng chủ trương và chính sách phải thật sát thực tế của mỗi nơi. Tuyệt đối
chớ rập khuôn, chớ máy móc, chớ nóng vội" [42, tr.611].
Thứ tư: chính sách dân tộc phải hướng vào sự phát triển toàn diện
miền núi.
Hồ Chí Minh luôn quan tâm tới yêu cầu phát triển của đồng bào miền
núi, khả năng phát triển của miền núi. Theo Người đi lên chủ nghĩa xã hội
phải đi bằng hai chân, công nghiệp và nông nghiệp. Ở miền núi, tiềm năng,
thế mạnh là đất và rừng. Người đã chỉ ra một số nhiệm vụ cụ thể: đẩy mạnh
sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp; phát triển giao thông đến từng làng bản;
ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất; xây dựng đời sống văn
hóa - xã hội cho đồng bào các dân tộc, cải tạo dần những phong tục tập quán
lạc hậu... Tuy nhiên, Người cũng lưu ý phải làm một cách dần dần, không chủ
quan, nóng vội được.
17
tưởng Hồ Chí Minh về CSDT, từ tình hình đặc điểm dân tộc Việt Nam, Đảng
Cộng sản Việt Nam đã giải quyết vấn đề dân tộc phù hợp với yêu cầu, thực
tiễn đất nước trong từng giai đoạn cách mạng.
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH,
Đảng ta khẳng định: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ
giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường
văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các
dân tộc Việt Nam. Tôn trọng lợi ích và truyền thống văn hóa, ngôn ngữ, tập
quán, tín ngưỡng của các dân tộc. Chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp
hòi, kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Các chính sách kinh tế - xã hội phải phù hợp với
đặc điểm của các vùng và các dân tộc, nhất là dân tộc thiểu số” [8, tr.19].
Qua các kỳ đại hội vấn đề dân tộc và CSDT luôn được Đảng ta bổ sung
phát triển, đặc biệt đến Đại hội XII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Đoàn kết các
dân tộc có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của nước ta. Tiếp tục
hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng,
đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát
triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng có
đông đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam
bộ, Tây Duyên hải miền Trung. Nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, chất
lượng nguồn nhân lực và chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu
số, người tiêu biểu có uy tín trong cộng đồng các dân tộc. Tăng cường kiểm tra,
giám sát, đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của
Đảng và Nhà nước ở các cấp. Chống kỳ thị dân tộc; nghiêm trị những âm mưu,
hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc” [16, tr.164-165].
Trong giai đoạn cách mạng mới, Đảng ta vẫn luôn khẳng định vị trí
chiến lược của vấn đề dân tộc và CSDT nhằm tăng cường khối đại đoàn kết
toàn dân tộc, tạo sự chuyển biến rõ nét trong đời sống vật chất, tinh thần cho
đồng bào các dân tộc nhất là dân tộc thiểu số; với quan điểm cơ bản, xuyên
20
tế trong đời sống xã hội nói chung và với đồng bào dân tộc nói riêng. Không
có chính sách đúng để khuyến khích phát triển kinh tế, tăng năng xuất, tăng
sản lượng sản phẩm ở vùng dân tộc thiểu số thì không thể nói đến các chính
sách khác, cũng như không thể có cơ sở vật chất để thực hiện sự bình đẳng,
đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau giũa các dân tộc. Ở nước ta, do điều kiện
lịch sử, tự nhiên, kinh tế - xã hội, các dân tộc thiểu số thường kém phát triển,
đời sống nhân dân còn nghèo và lạc hậu, nên vấn đề phát triển kinh tế ở vùng
dân tộc thiểu số càng trở nên cấp bách, quan trọng.
Chính sách chính trị - xã hội: Là những chính sách gắn liền với chính
sách về kinh tế, văn hóa như chính sách định canh, định cư, chính sách xóa
đói giảm nghèo, chính sách ưu đãi, khuyến khích trong đào tạo sử dụng cán
bộ là người dân tộc thiểu số, chính sách xây dựng, củng cố an ninh trật tự ở
vùng biên cương, hình thành các trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa, các
chính sách trong phân cấp giữa chính quyền trung ương với các cấp hành
chính ở địa phương ...
Chính sách phát triển văn hóa: Nhằm giữ gìn, phát triển những giá trị
truyền thống văn hóa, ngôn ngữ, những yếu tố cơ bản, đặc trưng của từng dân
tộc. Đây cũng là những yếu tố để tạo dựng, củng cố sợi dây liên lạc giữa các
thành viên của dân tộc và với các dân tộc khác. Chính sách phát triển văn hóa
vừa tạo nên các yếu tố cố kết bên trong một cộng đồng dân tộc, vùa tạo nên
các yếu tố bên ngoài gữa các dân tộc.
Chính sách tôn giáo: Là chính sách đặc thù với đồng bào các dân tộc bởi
đại đa số các các tộc người trên đất nước ta đều có đời sống tâm linh, tín
ngưỡng, tôn giáo phong phú. Chính sách tôn giáo vừa phải tôn trọng, bảo đảm
quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo
pháp luật; vừa phải cảnh giác, ngăn chặn các thế lực thù địch lợi dụng quyền
tự do tín ngưỡng tôn giáo làm tổn hại đến tình đoàn kết dân tộc, chia rẽ dân
dân trên mười nghìn người (Mường, Dao), nhưng cũng có dân tộc thiểu số có
số dân số rất ít thậm chí chỉ một vài người ( Lô Lô, Hrê, Giẻ triêng...). có 04
dân tộc (Mường, Dao, Sán chay, Hmông) sống tương đối tập trung, còn lưu
22
giữ và phát huy được bản sắc văn hóa riêng của dân tộc mình. Còn 32 dân tộc
thiểu số còn lại có mặt trên địa bàn với nhiều lý do khác nhau, sống xen kẽ
với các dân tộc khác trên tất cả 13 huyện, thành thị trong Tỉnh. Phần lớn họ là
những người nghèo, chủ yếu sống bằng nghề phát nương làm rẫy. Sự xen cư
giữa các tộc người làm cho quan hệ dân tộc ở đây rất phong phú, đa dạng
nhưng cũng khá phức tạp, tác động trực tiếp đến việc hoạch định và tổ chức
thực hiện CSDT cụ thể cho từng địa phương.
Khu vực miền núi tỉnh Phú Thọ là địa bàn hầu hết các tôn giáo đều quan
tâm truyền giáo. Các tôn giáo trái phép hoạt động mạnh gồm: Hệ phái Tin
Lành phúc âm ngũ tuần; Ba'hai'. Nhiều tà đạo được truyền từ nơi khác đến
hoặc phát sinh trong tỉnh như: Long hoa Di lặc, Cửu trung thiên, Ðoàn 18 Phú
Thọ, Ngọc phật Hồ Chí Minh... Các thế lực thù địch lợi dụng tự do tín
ngưỡng để lôi kéo đồng bào các dân tộc thiểu số theo các tà đạo.... làm cho
tình hình an ninh, chính trị - xã hội trên địa bàn Tỉnh hết sức phức tạp....
- Nội dung thực hiện chính sách dân tộc ở tỉnh Phú Thọ hiện nay:
Thứ nhất, phát triển kinh tế nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của
đồng bào các dân tộc, phù hợp với đặc điểm điều kiện từng vùng, đảm bảo
cho đồng bào các dân tộc khai thác thế mạnh của địa phương, xóa đói, giảm
nghèo, vươn lên làm giàu đóng góp tích cực vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng
quê hương Phú Thọ ngày càng giàu mạnh.
Thứ hai, tiếp tục thực hiện hiệu quả chủ trương, chính sách ưu tiên đối
với đồng bào dân tộc thiểu số, phát triển giáo dục và đào tạo, coi trọng việc
đào tạo cán bộ và đội ngũ trí thức là người dân tộc thiểu số.
Thứ ba, tập trung xây dựng HTCT ở cơ sở trong sạch, vững mạnh, đủ
Nhà nước ta trên địa bản Tỉnh.
Từ chức năng, nhiệm vụ, đặc điểm BĐĐP và tình hình địa bàn Tỉnh, có
thể quan niệm: Bộ đội địa phương tỉnh Phú Thọ thực hiện chính sách dân tộc
của Đảng, Nhà nước, là tổng hòa các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, giúp
đỡ và bảo vệ các dân tộc trên địa bàn Tỉnh phát triển sản xuất, xây dựng khối
24
đại đoàn kết toàn dân tộc và HTCT cơ sở. Góp phần phát triển kinh tế - xã
hội, giữ vững quốc phòng - an ninh; xây dựng Phú Thọ ngày càng giàu đẹp,
văn minh, tiến bộ.
Quan niệm trên khẳng định rõ vị trí, vai trò, bản chất, truyền thống của
QĐND Việt Nam nói chung, BĐĐP tỉnh Phú Thọ nói riêng; đồng thời phản
ánh đây là một nhiệm vụ quan trọng không thể tách rời chức năng, nhiệm vụ
của đội quân lao động sản xuất, đội quân công tác trong điều kiện mới.
Thực hiện CSDT là trách nhiệm của Đảng, chính quyền, của nhân dân từ
Trung ương đến địa phương. Bộ đội địa phương tỉnh Phú Thọ là lực lượng
thực hiện CSDT nhưng với tư cách là tham gia. Sự tham gia này xuất phát từ
bản chất, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội, của BĐĐP tỉnh Phú Thọ. Đó là
việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Quân đội trong một nhiệm vụ cụ thể.
Điều đó tuyệt nhiên không phải hiểu theo nghĩa là làm thay chính quyền địa
phương. Tuy nhiên, sự tham gia đó cũng góp phần quan trọng giúp địa phương
thực hiện CSDT nói riêng và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.
Tham gia thực hiện CSDT không chỉ là chức năng, nhiệm vụ của BĐĐP
Tỉnh mà còn nâng cao bản chất cách mạng, phản ánh quan hệ máu thịt giữa
quân và dân. Đồng thời, tham gia thực hiện CSDT sẽ góp phần xây dựng bản
lĩnh giai cấp công nhân, rèn luyện tính tổ chức, tính kỷ luật, tinh thần khắc
phục khó khăn gian khổ, năng lực vận động quần chúng, khả năng tổ chức,
hiệp đồng… cho cán bộ, chiến sĩ BĐĐP tỉnh Phú Thọ. Qua đó góp phần xây
dựng BĐĐP tỉnh Phú Thọ vững mạnh toàn diện, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
có hiệu quả trong xóa đói giảm nghèo ở vùng đồng bào dân tộc trên địa bàn
đóng quân.
Cùng với việc hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của mình các đơn vị
BĐĐP ở tỉnh Phú Thọ hiện nay, tích cực, chủ động tham gia giúp đỡ nhân dân
phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trên địa bàn Tỉnh. Căn cứ vào tình hình
nhiệm vụ cụ thể của mình, đơn vị cơ sở chủ động xây dựng kế hoạch công tác
26