Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của tỉnh thừa thiên huế trong giai đoạn hiện nay - Pdf 43

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức là nội dung quan trọng và tương đối lớn trong
tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn từ 2001 đến nay. Trong tiến trình thực
hiện cải cách hành chính, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức đóng vai trò quan trọng
để nâng cao năng lực thực hiện công việc, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ
công chức. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”,
“Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”1
Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực làm việc cho công chức là công việc thường
xuyên diễn ra trong suốt cuộc đời của người công chức, kể từ khi bước vào nền công vụ
cho đến khi ra khỏi nó. Vì thế việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức, cần đáp ứng nhu
cầu đào tạo cần thiết, đào tạo những mong ước được đào tạo, bồi dưỡng của cán bộ công
chức và nó cần được nghiên cứu cần đầu tư về sức lực và tiền của từng bước nâng cao để
hiệu qủa của công tác này.
Việc đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức góp phần thúc đẩy mạng qúa trình phát triển, đáp
ứng yêu cầu đòi hỏi của nhân dân để đáp ứng một nền công vụ thực sự hiện đại văn minh. Tích
cực lao động của cán bộ, công chức được đo bằng mức độ hoạt động số lượng và chất lượng
lao động, tính tích cực của cán bộ, công chức được thể hiện bằng sự năng động của người đó,
thể hiện ham muốn lao động, nhu cầu, cống hiến, sự năng nổ chịu khó, sự chủ động năng động
trong lao động, sự sáng tạo, có trách nhiệm trong việc giải quyết công việc, và trong mối quan
hệ với cộng đồng và với người dân. Do vậy, việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức là việc
vô cùng quan trọng và cần thiết trong bất cứ lúc nào và bất cứ thời gian nào.
Xuất phát từ thực tiễn trên tôi đã chọn để tài: “Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức của tỉnh Thừa Thiên Huế trong giai đoạn hiện nay”. Để có thể đóng góp được
phần nhỏ của mình vào vấn đề cấp thiết đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán
bộ, công chức ở tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng và của cả nước nói chung.
1

Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, Tập 5, trang 269

1


PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
1.1 Các khái niệm
1.1.1. Đào tạo, bồi dưỡng
Đào tạo được hiểu là: “hệ thống cung cấp trí thức về chuyên môn nghề nghiệp”.
Bồi dưỡng là bổ sung nâng cao về nhiều vấn đề cả về chuyên môn nghiệp vụ,
đạo đức, chính trị.
Theo từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí
Minh, năm 2008 trang 478 đã định nghĩa: “Đào tạo là dạy dỗ, rèn luyện, để trở nên
người có hiểu biết, có nghề nghiệp” và “Bồi dưỡng là làm cho khỏe thêm, mạnh
thêm, làm cho tốt hơn, giỏi hơn”
Khái niệm “đào tạo, bồi dưỡng” với nghĩa này đã được sử dụng ngày càng rộng rãi và
được dùng trong các nghị quyết của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước.
Đào tạo, bồi dưỡng cũng được sử dụng với nội hàm cập nhật kiến thức trang bị
kỹ năng, phương pháp làm việc. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng khái niệm
huấn luyện cán bộ. Người cho rằng “huấn luyện phải thiết thực, sao cho những người
đến học, học rồi, về địa phương họ có thể thực hành ngay”, bởi vì “học cốt để mà
làm. Học mà không làm được, học mấy cũng vô ích”
1.1.2.Cán bộ, công chức
1.1.2.1. Cán bộ
Khái niệm cán bộ rất quen thuộc trong đời sống xã hội và chưa đồng nhất với
nhau. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “trong sửa đổi lối làm việc – năm 1947” thì “Cán
bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân
chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng,
Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng”.
Trong đại từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Đại học quốc gia thành phố Hồ
Chí Minh, năm 2008, trang 185 quy định: “Cán bộ là người làm việc trong cơ quan
3



1.2. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
1.2.1. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác đào tạo bồi dưỡng
cán bộ, công chức
Vấn đề cốt yếu trong tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ
nghĩa xã hội, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Việt Nam là một cuộc cách mạng
mang tính toàn diện bao gồm 3 lĩnh vực: Chính trị - tư tưởng, Cơ cấu kinh tế, Văn hóa xã hội.
Nhưng muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội thì trước hết phải hoàn thiện được yếu tố
chủ đạo là tư tưởng và con người chủ nghĩa xã hội, trong đó người cán bộ rất quan trọng bởi:
"Con người chủ nghĩa xã hội là con người có đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư,
một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng".
Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức trong việc
phát triển đất nước, Người luôn luôn căn dặn chúng ta phải làm tốt công tác cán bộ đặc biệt
là công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Vì “Cán bộ là tiền vốn của đoàn thể. Có
vốn mới làm ra lãi. Bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức là có
lãi. Không có cán bộ tốt thì hỏng việc tức là lỗ vốn”2
Như vậy, có thể nói rằng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, công chức là tư tưởng chủ đạo, là kim chỉ nam cho mọi hành động của
Đảng và Nhà nước ta trong việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức trong thời
kỳ mới đáp ứng nhu cầu phát triển của nước trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế.
1.2.2. Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về công tác đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức
Trong Đại hội lần thứ Ba của Ban chấp hành Trung ương khóa VII đã nhấn
mạnh: “Trước thử thách mới đòi hỏi Đảng phải xây dựng một đội ngũ cán bộ vừa có
bản lĩnh chính trị vững vàng, vừa có kiến thức, năng lực và uy tín để lãnh đạo đất

2



Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương khóa VII, Nxb Sự thật, Hà Nội, Trang 85
Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương khóa VII, Nxb CTQG, H, 1997, trang 66
5
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H, 2001, trang 141
4

6


1.4.1. Về mục tiêu
Mục tiêu chính của việc đào tạo, bồi dưỡng công chức là để trang bị kiến thức, kỹ năng
và phương pháp thực hiện nhiệm vụ, công vụ, góp phần xây dựng đội ngũ công chức chuyên
nghiệp, có đủ năng lực xây dựng nền hành chính tiên tiến, hiện đại. Các hình thức đào tạo,
bồi dưỡng công chức gồm có: tập trung, bán tập trung, vừa làm vừa học và từ xa.
1.4.2. Về nguyên tắc
Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, cử đi tham quan học tập, việc nghỉ phép, nghỉ
theo chế độ do các Phòng, Trung tâm bố trí, sắp xếp, đề nghị và được sự đồng ý của
Lãnh đạo Văn phòng.
Việc bố trí đi học nâng cao nghiệp vụ sẽ ưu tiên cho những cán bộ, công chức, viên
chức đăng ký theo học những lĩnh vực liên quan đến công tác mình đang phụ trách, đang
được định hướng bố trí hoặc những ngành học về quản lý nhà nước.
Trưởng phòng, Giám đốc trung tâm có trách nhiệm giúp lãnh đạo văn phòng chỉ đạo,
theo dõi và tham mưu hoặc chủ động bố trí cán bộ làm thay và bàn giao công việc khi cán
bộ trở lại làm việc, đảm bảo theo nguyên tắc việc nghỉ phép theo chế độ, nghỉ ốm, đi công
tác, học tập dài ngày của cán bộ, công chức, viên chức không được làm ảnh hưởng đến hoạt
động điều hành của các Phòng, Trung tâm, của văn phòng và Uỷ ban nhân dân tỉnh.
Cán bộ, công chức được cử đi học tập, đào tạo trong nước hoặc đi công tác, tham
quan học tập ở nước ngoài khi hoàn thành khoá học hoặc kết thúc chuyến công tác phải báo
cáo Lãnh đạo Văn phòng bằng văn bản.

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khoá VIII), Quy định số 54-QĐ/TW ngày 12-51999 của Bộ Chính trị về chế độ học tập lý luận chính trị trong Đảng và các quyết định của
Thủ tướng Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước cho cán bộ, công
chức, những năm qua công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức các cấp, ngành đã thu
được nhiều kết quả, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
8


Vì vậy, muốn nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nên đổi
mới theo hướng đào tạo, bồi dưỡng theo nhu cầu công tác của người học. Để thực
hiện tốt việc này cần làm rõ một số nội dung sau:
Một là, phạm vi đào tạo, bồi dưỡng theo nhu cầu công tác rất rộng, nên để có cơ sở
xây dựng nội dung, chương trình, xác định phương pháp đào tạo, bồi dưỡng theo hướng
này không chỉ xác định đối tượng đào tạo, bồi dưỡng theo cấp bậc, chức vụ lãnh đạo, quản
lý hoặc theo ngạch bậc cán bộ, công chức hiện nay mà còn phải xác định đối tượng đào tạo,
bồi dưỡng theo chức danh chuyên môn, nghiệp vụ mà cán bộ, công chức đảm nhiệm để
xây dựng nội dung chương trình, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng phù hợp. Hiện nay, cán
bộ, công chức trong hệ thống chính trị trước khi được bầu, bổ nhiệm vào ngạch hoặc chức
danh nào đó, họ đã được đào tạo ở một trình độ nhất định. Vì vậy, cần nắm chắc trình độ lý
luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ đã được đào tạo để xây dựng nội dung, chương trình
đào tạo phù hợp nhằm bổ sung kiến thức, nâng cao trình độ, tránh trùng lặp.
Thứ hai, để đáp ứng mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng theo nhu cầu công việc, cần phải luôn
luôn xác định rõ mục đích nhằm đào tạo ai, giúp họ đáp ứng được những gì nhu cầu của công
việc đang làm, trên cơ sở đó xác định nội dung, chương trình và hình thức, phương pháp đào
tạo cho phù hợp. Mỗi chương trình đào tạo bồi dưỡng sẽ nhằm đạt được những mục tiêu nhất
định, vì vậy trên cơ sở nắm được mục tiêu của khoá đào tạo, bồi dưỡng cần xác định ý nghĩa
của từng bài giảng, từng chuyên đề, lựa chọn kiến thức và phương pháp phù hợp.
Thứ ba, đào tạo, bồi dưỡng theo nhu cầu công việc đòi hỏi phải xác định rõ
kiến thức, kỹ năng người học cần đạt được sau khi kết thúc khoá học. Đó có thể là sự
cập nhật thông tin, bổ sung tri thức mới, hiện đại, sự phát triển kỹ năng nghề nghiệp

2.1.1. Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Thừa Thiên Huế
Huế là một thành phố ở miền Trung của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam và là tỉnh lị của tỉnh Thừa Thiên-Huế. Là kinh đô của Việt Nam dưới triều
Nguyễn, Huế nổi tiếng với những đền chùa, thành quách, lăng tẩm, kiến trúc gắn liền
10


với cảnh quan thiên nhiên. Với diện tích của tỉnh là 5.053,99 km², dân số theo kết quả
điều tra ngày 01/04/2009 là 1.087.579 người.
Tỉnh Thừa Thiên - Huế là một trong 4 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm miền
Trung, năm ở toạ độ địa lý 16-16,80 độ vĩ bắc và 107,8-108,20 độ kinh đông, cách thủ
đô Hà Nội 688 km. Phía bắc giáp tỉnh Quảng Trị, phía nam giáp thành phố Ðà Nẵng với
ranh giới là đèo Hải Vân, phía tây giáp nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, phía
Đông được giới hạn bởi biển Ðông.
Một số chỉ tiêu KT-XH chủ yếu như: Tốc độ tăng trưởng kinh tế ước đạt trên
11,19%, vượt kế hoạch đề ra (kế hoạch tăng trên 10%); trong đó, dịch vụ chiếm 45,9%
trong GDP tăng 11%; công nghiệp - xây dựng chiếm 37,6% trong GDP, tăng 14,4%, riêng
nông nghiệp mặc dù chịu ảnh hưởng của thiên tai và dịch bệnh nhưng đã đạt mức tăng
2,5% chiếm 16,5% trong GDP. Thu ngân sách Nhà nước ước đạt 2.520 tỷ đồng, vượt
17,5% dự toán, tăng 30,9% so năm 2008. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước đạt 7.243 tỷ
đồng, tăng 25,2%, vượt kế hoạch 8,1%. Tổng sản phẩm trong tỉnh bình quân đầu người
ước đạt trên 1.000 USD (KH năm 2009 là 900 USD). Hoạt động xuất khẩu có tiến bộ, giá
trị xuất khẩu ước đạt 140,8 triệu USD, tăng 30,8% so năm 2008
Thương mại, dịch vụ tăng khá, tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ ước đạt 9,9
nghìn tỷ đồng, tăng 18,3% so năm 2008. Công tác quản lý thị trường, chống buôn lậu,
hàng giả và gian lận thương mại đã góp phần bình ổn thị trường. Các hoạt động Hội chợ
triển lãm Làng nghề Việt Nam 2009, chương trình “Tuần hàng Việt Nam” đã góp phần
làm thị trường sôi động hơn.
Lĩnh vực công nghiệp đã tập trung cơ cấu lại sản xuất để vượt qua khó khăn, ổn
định và phát triển. Giá trị sản xuất ước đạt 5604,7 tỷ đồng, tăng 16,8% so năm 2008

Qua hơn 20 năm đổi mới, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh Thừa Thiên
Huế không ngừng trưởng thành cả về số lượng và chất lượng, kiến thức về năng lực thực
tiễn không ngừng được nâng lên, hầu hết có bản lĩnh chính trị, kiên định lập trường, quyết
tâm thực hiện công cuộc đổi mới theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, có tâm huyết và
12


hoài bão góp phần xây dựng và phát triển tỉnh Thừa Thiên - Huế thành trung tâm văn hoá,
du lịch, giáo dục và đào tạo, nghiên cứu khoa học, y tế chuyên sâu và là trung tâm kinh tế
của vùng trọng điểm kinh tế miền trung và của cả nước.
Đến nay, đội ngũ công chức, viên chức hành chính sự nghiệp trong toàn tỉnh
có khoảng 20.000 người trong đó gần 2.000 người làm nhiệm vụ quản lý hành chính
nhà nước hơn 17.000 người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp chiếm 90,65%.
 Về chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức quản lý hành chính nhà nước
- Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: đại học và trên đại học chiếm tỷ lệ 74,4%; cao đẳng,
trung cấp chiếm tỷ lệ 18,2%; sơ cấp và còn lại chiếm tỷ lệ 7,4%;
- Trình độ lý luận chính trị: cử nhân chính trị và cao cấp chiếm tỷ lệ 11,5%, trung
cấp chiếm tỷ lệ 17,9%.
- Trình độ quản lý nhà nước: đã qua bồi dưỡng quản lý nhà nước chiếm tỷ lệ 59.97%.
- Trình độ tin học: cử nhân tin học chiếm tỷ lệ 1,8%; tin học cơ sở chiếm tỷ lệ 47,53%.
- Trình độ ngoại ngữ: cử nhân ngoại ngữ chiếm tỷ lệ 5%; cơ sở chiếm tỷ lệ 44,11%.
- Cơ cấu độ tuổi: về tuổi đời dưới 30 tuổi chiếm tỷ lệ 14.31%; từ 30 tuổi đến 50
tuổi chiếm tỷ lệ 64.2%; trên 50 tuổi 21,49%.
Như vậy, đội ngũ cán bộ, công chức quản lý hành chính nhà nước phần lớn đã
được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị. Vấn đề đáng quan
tâm của đội ngũ cán bộ, công chức làm công các quản lý hành chính là sự thiếu hụt
về lý luận chính trị và trình độ tin học. Sự thiếu đồng bộ về một số ngành và lĩnh
vực, nhất là các chuyên gia giỏi. Phần đông số cán bộ trẻ có kiến thức, có trình độ
học vấn, năng động và mạnh dạn nhưng thiếu kinh nghiệm trong việc quản lý điều
hành, chưa được chuẩn bị chu đáo, có những trường hợp chậm được phát hiện để bố

đội ngũ viên chức của các đơn vị sự nghiệp vẫn còn nhiều hạn chế về trình độ lý luận chính
trị và trình độ quản lý nhà nước; do quá chú trọng việc đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn
xem nhẹ việc bồi dưỡng về lý luận chính trị.

14


2.2.2.Thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Hội nhập kinh tế quốc tế đã bước vào giai đoạn quan trọng với việc thực hiện các cam
kết quốc tế, có ảnh hưởng trực tiếp đến các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của nước ta nói
chung và Thừa Thiên Huế nói riêng. Trong các chương trình hành động của mình, tỉnh Thừa
Thiên - Huế đã xây dựng kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực cho hội nhập kinh tế quốc tế.
Thời gian qua, Thừa Thiên - Huế đã có cố gắng ban đầu trong công tác đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức. Vì vậy, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh không
ngừng trưởng thành cả về số lượng và chất lượng:
Về đào tạo công chức hành chính: Nhằm bảo đảm cho đội ngũ công chức từng
bước chuẩn hoá ngạch, bậc công chức theo qui định, tỉnh quan tâm đào tạo, bồi
dưỡng nâng cao trình độ, năng lực ở tất cả các lĩnh vực.
Về công tác đào tạo cán bộ nguồn tỉnh đã phối hợp cùng Học viện Hành chính
Quốc gia và Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh triển khai tổ chức 1 lớp cử nhân
hành chính, 1 lớp cử nhân chính trị từ nguồn con em gia đình chính sách, nằm trong quy
hoạch của địa phương với số lượng 196, bảo đảm nguồn công chức cho cơ sở.
Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định cho các huyện phối hợp với các trường đại học mở
lớp đại học hệ vừa học vừa làm tại địa phương nên đã từng bước chuẩn hoá đội ngũ và
nâng cao mặt bằng trình độ của cán bộ huyện và cơ sở.
Như vậy, đội ngũ cán bộ, công chức quản lý hành chính nhà nước số đông đã được
đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và lý luận chính trị. Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ,
công chức làm công các quản lý hành chính là sự thiếu hụt về lý luận chính trị và trình độ
tin học, sự thiếu đồng bộ về một số ngành và lĩnh vực. Phần đông số cán bộ trẻ có kiến
thức, có trình độ học vấn, năng động và mạnh dạn nhưng thiếu kinh nghiệm trong việc

nghiệp vụ: 465 lượt người; tin học: 2.177 lượt người; ngoại ngữ: 972 lượt người.
Hiệu quả của công tác đào tạo và đào tạo lại thể hiện mối quan hệ tác động
trực tiếp giữa việc học tập nâng cao trình độ với hiệu quả công tác quản lý nhà nước.

16


Từ đó cho thấy làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng sẽ thúc đẩy sự nghiệp phát triển
kinh tế xã hội của toàn tỉnh, cũng như của từng ngành, từng đơn vị cơ sở.
2.2.3. Hạn chế của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
2.2.3.1. Mặt hạn chế
Tuy nhiên công tác đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng trong những năm qua vẫn
còn những khó khăn:
- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của địa phương chưa đồng bộ giữa số lượng,
chất lượng và cơ cấu. Các nhóm đối tượng cán bộ, công chức ở mặt này hoặc mặt khác còn
chưa đạt các tiêu chuẩn theo qui định, đặc biệt đội ngũ cán bộ cơ sở, xã, phường trình độ
còn thấp và còn nhiều bất cập.
- Nội dung đào tạo, bồi dưỡng còn thiếu cân đối giữa việc trang bị trình độ lý luận
chính trị với kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ; một số lĩnh vực chưa sâu, còn nhiều lý
thuyết, ít kiến thức thực tiễn; chưa quan tâm nhiều đến đào tạo kiến thức quản lý chuyên
ngành, lĩnh vực; việc mở các lớp bồi dưỡng theo chuyên đề có phần hạn chế.
- Chất lượng đào tạo (nhất là hệ tại chức) chưa cao; một số công chức đang chạy
theo bằng cấp.
- Đào tạo chưa gắn liền với quy hoạch, đào tạo và sử dụng chưa ăn khớp với
nhau, đào tạo, bồi dưỡng chưa thực sự đồng bộ với yêu cầu chuẩn hoá đội ngũ cán
bộ, công chức.
2.2.3.2. Về nguyên nhân của những hạn chế
Thứ nhất, nhận thức của một số ngành, một số cấp uỷ, chính quyền chưa đầy
đủ, chưa đúng đắn và đồng bộ. Công tác quy hoạch cán bộ chưa được quan tâm đúng
mức, có nơi làm chưa khoa học còn qua loa. Nội dung chương trình còn trùng lặp,

Chương 3
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CỦA CÔNG TÁC ĐÀO TẠO,
BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
3.1.Phương hướng nâng đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức ở tỉnh
Thừa Thiên Huế
3.1.1. Mục tiêu
Trong giai đoạn 2006-2010 công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của
tỉnh hướng tới đạt các mục tiêu như sau:
 Đối với cán bộ, công chức hành chính
- Đào tạo, bồi dưỡng bảo đảm trang bị đủ kiến thức quy định theo tiêu chuẩn cho
công chức lãnh đạo, quản lý và công chức các ngạch hành chính.
- 100% cán bộ, công chức hành chính được trang bị kỹ năng nghiệp vụ theo yêu cầu
công vụ và có khả năng hoàn thành có chất lượng nhiệm vụ được giao; trang bị kiến thức
về văn hoá công sở; trách nhiệm và đạo đức công chức cho công chức các ngạch.
- Thực hiện đào tạo bồi dưỡng trước khi bổ nhiệm và đào tạo, bồi dưỡng cho cán
bộ quản lý đương chức; 100% công chức lãnh đạo cấp sở, cấp huyện được trang bị kỹ
năng lãnh đạo, quản lý và kỹ năng phối hợp xử lý các vấn đề có tính chất liên ngành.
- Tiến hành quy hoạch và tổ chức đào tạo xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành
về quản lý nhà nước trên các lĩnh vực.
Đối với cán bộ, công chức cấp xã:
- Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng trang bị trình độ lý luận chính trị, kiến thức quản lý
nhà nước và trình độ chuyên môn theo tiêu chuẩn quy định cho cán bộ chuyên trách.
- Đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh cho Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp xã và
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã.
- 100% Công chức cấp xã được đào tạo, bồi dưỡng trình độ chuyên môn có đủ
năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao, số công chức công tác tại vùng miền núi có
trình độ trung cấp trở lên đạt tỷ lệ 70%.
19



khắc phục khuynh hướng cục bộ, khép kín trong từng đơn vị, từng địa phương.
 Hình thức đào tạo, bồi dưỡng
- Đối với công chức, viên chức ngạch chuyên viên và chuyên viên chính trong độ
tuổi đều phải qua chương trình đào tạo lại theo qui định của ngạch.
- Đối với công chức, viên chức đang trong thời gian tập sự đều phải qua bồi
dưỡng tiền công vụ;
- Đối với số cán bộ trẻ, có triển vọng, lớp cán bộ tạo nguồn cần phải đào tạo cơ bản,
toàn diện để có kiến thức cơ bản, có năng lực thực tiễn và có kỹ năng thực hành nhất định
để đảm đương được nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu về lâu dài.
3.2. Một số giải pháp chủ yếu
Một là, tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, hoàn thiện cơ chế chính sách và hệ
thống Pháp Luật. Nhà nước cần phải tiếp tục sửa đổi, điều chỉnh, hoành thiện thể chế
Pháp luật, sớm ban hành Luật cán bộ, công chức để làm căn cứ xác định nghĩa vụ, quyền
lợi, trách nhiệm xác định các tiêu chí đào tạo, tuyển dụng đánh giá, khen thưởng, xử phạt
các điều kiện thực thi công vụ của cán bộ, công chức cũng như làm căn cứ định hướng
xây dựng các tiêu chí văn hoá, văn minh, dân chủ gắn với kỷ cương, kỷ luật nơi cơ quan
công sở. Tôn trọng vai trò cá nhân cũng như đạt đúng trách nhiệm cá nhân là một nhân tố
quan trọng lành mạnh hoá bộ máy hành chính hiện nay. Giải quyết tốt chính sách tiền
lương, chế độ phụ cấp cán bộ, công chức, đó chính là cái gốc của vấn đề là điều kiện tiên
quyết để nâng cao tính tích cực lao động của cán bộ, công chức.
Hai là, Nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn cho cán bộ công chức. Đào
tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức là một nội dung mà tất cả các nước muốn có nền
hành chính phát triển đều phải quan tâm. Đối với đội ngũ cán bộ, công chức đương
nhiên, tuỳ thuộc vào nhu cầu sử dụng, nhà nước có thể đào tạo, bồi dưỡng tập huấn
kỹ năng thực thi công vụ đê nâng cao khả năng đảm nhiệm của cán bộ, công chức.
21


Có nhiều hình thức để nâng cao trình độ, năng lực kỹ năng cho cán bộ, công chức.
Chẳng hạn như: đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tại các cơ sở đào tạo, bồi

khăn về cơ chế, do chính sách. Nhưng cán bộ trẻ có lòng nhiệt tình hăng say với
công việc thì thiếu kinh nghiệm do vậy chưa được bố trí vào vị trí xứng đáng.
Những cán bộ, công chức, thì phần đa số thiếu trình độ nên cần phải được đào tạo
lại một cách có bài bản hơn.
Thừa Thiên Huế cùng cả nước đang vươn mình bước vào thời đại nền kinh tế hội
nhập quốc tế vì thế cần phải xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
một cách bài bản hệ thống để lớp công chức được đào tạo đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi
mới và phát triển vươn lên. Giáo dục khơi dậy và phát huy truyền thống yêu nước, cần cù lao
động của cán bộ, công chức Việt Nam là một giải pháp cơ bản đáp ứng yêu cầu giáo dục,
kích thích tính tích cực lao động cho đội ngũ cán bộ, công chức. Đó là tiếp thu, phát triển
những giá trị truyền thống còn phù hợp như: truyền thống tương thân, tương ái, đồng cảm,
cộng khổ, đoàn kết giúp đỡ nhau trong lao động…Đó là những phẩm chất đáng quý của
truyền thống người cán bộ, công chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và
Pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh – quốc phòng vùng
kinh tế Nam Bộ giai đoạn 2001 -2010, một trong những biện pháp quan trọng mà tỉnh Thừa
thiên huế quan tâm đó là phát triển xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, trong đó chú trọng là
công tác quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức ở xã, phương, thị trấn. Điều
23


đó thể hiện đội ngũ cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn có vai trò quân trọng trong hệ
thống chính trị ở cơ sở của Thừa Thiên Huế.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đại từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, năm 1998.
2. Luật cán bộ, công chức năm 2008.
3. Giáo trình môn quản lý hành chính nhà nước
4. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, năm 1995, Tập 1, tập 5
5. Hồ Chí Minh với vấn đề đào tạo cán bộ.
6. PGS- TS Trương Ngọc Nam : “Bài giảng Nghiệp vụ công tác Đảng” năm 2009
7. PGS- TS Trương Ngọc Nam “Bài giảng Xây dựng Đảng về tổ chức” năm 2009.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status