BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
TRẦN THỊ VŨ TUYỀN
ẢNH HƢỞNG CỦA CƠ CẤU SỞ HỮU ĐẾN HÀNH VI
QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN CỦA CÁC CÔNG TY
NIÊM YẾT TRÊN SÀN GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
TP. HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
TRẦN THỊ VŨ TUYỀN
ẢNH HƢỞNG CỦA CƠ CẤU SỞ HỮU ĐẾN HÀNH VI
QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN CỦA CÁC CÔNG TY
NIÊM YẾT TRÊN SÀN GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
TP. HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
2.
Mục tiêu nghiên cứu ...................................................................................... 2
3.
Câu hỏi nghiên cứu ........................................................................................ 3
4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 3
5.
Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 3
6.
Những đóng góp mới của luận văn................................................................ 3
7.
Kết cấu của đề tài........................................................................................... 4
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ................. 5
1.1.
Các nghiên cứu công bố ở nước ngoài .......................................................... 5
1.2.
Các thủ thuật quản trị lợi nhuận trong kế toán ..................................... 21
2.1.4.
Các mô hình nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận ............................... 27
Cơ cấu sở hữu và hành vi quản trị lợi nhuận ............................................... 31
2.3.
2.2.1.
Cơ cấu sở hữu ....................................................................................... 31
2.2.2.
Mối quan hệ giữa cơ cấu sở hữu và hành vi quản trị lợi nhuận............ 33
Các lý thuyết nền tảng ................................................................................. 34
2.3.1.
Lý thuyết ủy nhiệm (Agency theory) .................................................... 34
2.3.2.
Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetry Information) ............... 36
Tóm tắt chƣơng 2 .................................................................................................... 38
Quyền sở hữu của nhà đầu tư tổ chức và hành vi QTLN ..................42
3.3.2.3.
Quyền sở hữu của nhà quản lý và hành vi QTLN ...............................43
3.3.2.4.
Quyền sở hữu của nhà nước và hành vi QTLN ...................................44
3.3.2.5.
Quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài và hành vi QTLN ...........45
3.3.2.6.
Các biến kiểm soát .......................................................................................46
Đo lường các biến nghiên cứu trong mô hình ............................................. 47
3.4.1.
Đo lường biến phụ thuộc ...................................................................... 47
3.4.2.
Đo lường các biến độc lập và biến kiểm soát trong mô hình ............... 49
Mẫu nghiên cứu và quy trình phân tích dữ liệu ........................................... 50
3.5.1.
nhuận
..................................................................................................................... 58
4.3.
4.2.1.
Thống kê mô tả các biến ....................................................................... 58
4.2.2.
Phân tích tương quan ............................................................................ 60
4.2.3.
Phân tích hồi quy .................................................................................. 61
4.2.3.1.
Lựa chọn mô hình phù hợp ............................................................ 61
4.2.3.2.
Kết quả phân tích hồi quy đa biến ................................................. 64
Bàn luận ....................................................................................................... 66
Tóm tắt chƣơng 4 .................................................................................................... 72
4.2.6.
Gợi ý chính sách khác đối với cơ quan quản lý .................................... 78
Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu trong tương lai ............................ 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Nội dung
BCTC
Báo cáo tài chính
BCTN
Báo cáo thường niên
BGĐ
Ban giám đốc
BTC
QTLN
Quản trị lợi nhuận
REM
Mô hình tác động ngẫu nhiên
TNDN
Thu nhập doanh nghiệp
TP.HCM
Thành phố Hồ Chí Minh
TTCK
Thị trường chứng khoán
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Trang
Bảng 1.1. Tổng hợp các nghiên cứu về mối quan hệ giữa các yếu tố liên quan đến
cơ cấu sở hữu và hành vi QTLN ............................................................................... 14
Bảng 3.1. Xác định và đo lường các biến ................................................................. 49
Bảng 4.1. Kết quả hồi quy mô hình (2) theo Pooled OLS, FEM và REM ............... 56
Bảng 4.2. Bảng kết quả ước lượng theo mô hình GLS cho mô hình (2) .................. 57
2015 cho thấy mỗi năm tỷ lệ doanh nghiệp niêm yết có điều chỉnh lợi nhuận sau
kiểm toán đều trên mức 70%, riêng 6 tháng đầu năm 2015 chiếm 52%. Điều này
dấy lên sự cảnh báo rất lớn về chất lượng thông tin BCTC, từ đó tạo nên sự quan
tâm ngày càng tăng đến QTLN. Việc QTLN "hợp pháp" hoặc "bất hợp pháp" đều
ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên BCTC của doanh nghiệp.
Theo lý thuyết ủy nhiệm, sự tách biệt của chủ sở hữu và nhà quản lý dẫn đến
xung đột lợi ích giữa chủ sở hữu và nhà quản lý, do đó giám sát các quyết định của
nhà quản lý có thể cải thiện sự liên kết quản lý và lợi ích của cổ đông và giảm thiểu
các hành vi cơ hội do xung đột về lợi ích. Trong thực tế, sự gia tăng của những vụ
bê bối kế toán đã nhắc đến sự cần thiết phải cải thiện chất lượng thông tin trên
BCTC bằng cách thiết lập cơ cấu quản trị tốt. Quản trị công ty tốt cho phép tối đa
2
hóa giá trị doanh nghiệp và minh bạch trong công bố thông tin (Gupta & Sharma,
2014). Trong tổng thể hệ thống quản trị công ty, cơ cấu sở hữu là thành phần được
nhiều nhà nghiên cứu chú ý. Ví dụ, Ali và cộng sự (2008) đã chỉ ra rằng các nhà
quản lý, người sở hữu một phần đáng kể trong vốn chủ sở hữu của một công ty có ít
động lực để thao tác thông tin kế toán trên báo cáo, do đó có thể hạn chế hành vi
QTLN. Shaikh và cộng sự (2012) cho rằng các nhà đầu tư là tổ chức có nhiều khả
năng phát hiện QTLN hơn so với các nhà đầu tư không phải là tổ chức vì họ tiếp
cận nhiều thông tin kịp thời và phù hợp. Trong những nghiên cứu này đều cho rằng
cơ cấu sở hữu của công ty có ảnh hưởng đáng kể đến QTLN, từ đó ảnh hưởng đến
chất lượng thông tin lợi nhuận trên BCTC.
Dựa trên lý thuyết ủy nhiệm, các nghiên cứu gần đây đã tập trung xem xét tác
động của cơ cấu sở hữu đến hành vi QTLN nhằm nâng cao chất lượng BCTC. Tuy
nhiên, tác giả chưa thấy có nghiên cứu thực nghiệm cụ thể nào đi sâu về vấn đề này
tại Việt Nam. Từ đó đặt ra câu hỏi liệu cơ cấu sở hữu của các công ty tại Việt Nam
có ảnh hưởng đến hành vi QTLN hay không và nếu có thì ảnh hưởng như thế nào?
-
Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố thuộc cơ cấu sở hữu đến hành vi QTLN
của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh như thế
nào?
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là xem xét ảnh hưởng cơ cấu sở hữu đến hành
vi QTLN.
Phạm vi nghiên cứu: dữ liệu thứ cấp trên BCTN của các công ty niêm yết trên
sàn giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 – 2015.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu và trả lời các câu hỏi nghiên cứu đặt ra, luận
văn được thực hiện dựa trên cách tiếp cận suy diễn và sử dụng phương pháp nghiên
cứu định lượng là chủ yếu.
-
Phương pháp phân tích và tổng hợp: khái quát lý thuyết về các vấn đề nghiên
cứu và các nghiên cứu có liên quan, làm cơ sở đề xuất mô hình nghiên cứu ảnh
hưởng của cơ cấu sở hữu đến hành vi QTLN.
-
Phương pháp định lượng: được sử dụng chủ yếu trong luận văn nhằm kiểm
tra chiều hướng tác động cũng như đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố
thuộc về cơ cấu sở hữu đến hành vi QTLN với sự hỗ trợ từ phần mềm Excel và
phần mềm Stata 14.0 thông qua thống kê mô tả, phân tích tương quan và phân tích
hồi quy.
sở sở để đánh giá chất lượng BCTC của công ty từ đó đưa ra các quyết định phù
hợp. Liên quan đến vấn đề này đã có nhiều học giả trong và ngoài nước đề cập
trong các nghiên cứu của mình. Dưới đây tác giả tiến hành lược khảo một số nghiên
cứu đã công bố ở Việt Nam cũng như ở một số nước trên thế giới.
1.1. Các nghiên cứu công bố ở nƣớc ngoài
Nghiên cứu của Park & Shin (2004): “Board composition and earnings
management in Canada” về ảnh hưởng của thành phần HĐQT đến QTLN đã sử
dụng mô hình của Dechow và cộng sự (1995) – Modified Jones để đo lường biến kế
toán dồn tích với một mẫu gồm 539 quan sát tại các công ty Canada giai đoạn 1991
– 1997. Tác giả nhận thấy lợi nhuận được quản lý theo chiều hướng tăng lên nhằm
tránh sự tổn thất trên báo cáo và lợi nhuận bị tụt giảm. Kết quả nghiên cứu cho thấy
sự hiện diện của thành viên HĐQT đến từ các trung gian tài chính và sự hiện diện
của cổ đông là tổ chức thì làm giảm hành vi QTLN. Đồng thời, nghiên cứu còn cho
thấy tăng tỷ lệ thành viên HĐQT bên ngoài làm tăng hành vi QTLN, trái ngược với
quan điểm cho rằng tăng tỷ lệ thành viên HĐQT bên ngoài sẽ giúp HĐQT tăng tính
độc lập, giải quyết xung đột lợi ích giữa cổ đông nhỏ và cổ đông lớn.
Nghiên cứu của Ali và cộng sự (2008): “Ownership structure and earnings
management in Malaysian listed companies: the size effect”. Mẫu nghiên cứu được
sử dụng bao gồm 1001 công ty niêm yết ở Malaysia cho cả 2 năm 2002 và 2003 sau
khi đã loại bỏ những công ty thuộc ngành tài chính và những công ty không có đầy
đủ dữ liệu. Nghiên cứu này đã xem xét mối liên hệ giữa mức độ sở hữu quản lý đến
hành vi QTLN, đại diện bởi độ lớn của biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh theo
mô hình của Jones (1991). Kết quả cho thấy rằng, mức độ sở hữu của nhà quản lý
6
có thể hạn chế hành vi QTLN. Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra có một mối quan
hệ cùng chiều giữa quy mô công ty đến mối quan hệ giữa quyền sở hữu của nhà
quản lý và hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Mặc dù sở hữu của nhà quản lý có thể làm
hiện việc QTLN, do đó họ sẽ gặp khó khăn để đánh giá hoặc phân tích thông tin
nhất định, đồng thời, giám đốc bên ngoài tại Malaysia có thể không hoàn toàn độc
lập trong HĐQT. Nguyên nhân khác nữa làm cho giám đốc bên ngoài và cổ đông tổ
chức không có khả năng hạn chế các hành vi QTLN nếu quyền sở hữu của một công
ty là tập trung cao và quá trình lựa chọn giám đốc bên ngoài không được nêu rõ
ràng và minh bạch.
Nghiên cứu của Roodposhti & Chashmi (2011): “The impact of corporate
governance mechanisms on earnings management” đã xem xét ảnh hưởng của cơ
chế quản trị công ty (bao gồm tập trung quyền sở hữu, HĐQT độc lập, kiêm nhiệm
hai chức danh Giám đốc điều hành và Chủ tịch HĐQT và cổ đông tổ chức) đến
QTLN. Quy mô công ty và đòn bẩy tài chính là các biến kiểm soát trong mô hình.
Mẫu được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm 196 công ty niêm yết trên sàn
chứng khoán Tehran (TSE) từ năm 2004 đến 2008. Kết quả nghiên cứu cho thấy,
giữa tập trung quyền sở hữu, HĐQT độc lập và kiêm nhiệm hai chức danh Giám
đốc điều hành và Chủ tịch HĐQT với QTLN có tác động ngược chiều, trong khi các
công ty có CP thuộc sở hữu của tổ chức cao thì QTLN nhiều hơn. Đồng thời, nghiên
cứu cũng tìm thấy một quan hệ cùng chiều giữa các biến kiểm soát (quy mô công ty
và đòn bẩy tài chính) và QTLN.
Nghiên cứu của Wang & Yung (2011): “Do state enterprises manage
earnings more than privately owned firms? The case of China” điều tra tác động
của sở hữu nhà nước đến QTLN của các công ty niêm yết ở Trung Quốc. Mẫu
nghiên cứu gồm 557 công ty niêm yết trên TTCK Thượng Hải và TTCK Thâm
Quyến trong khoản thời gian 9 năm từ 1998 đến 2006 và được chia thành 2 nhóm:
doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân. Kết quả nghiên cứu cho thấy mức
độ dồn tích của QTLN của các doanh nghiệp nhà nước thấp hơn so với doanh
nghiệp tư nhân, điều này trái ngược với dự đoán trong giả thuyết của tác giả cũng
như sự tin tưởng của đa số rằng sở hữu nhà nước là gốc rễ của tất cả sự kém hiệu
quả trong doanh nghiệp. Giải thích cho kết quả này, Wang & Yung cho rằng việc
mong muốn.
9
Nghiên cứu của Alves Sandra (2012): “Ownership structure and Earning
management: Evidence from Portugal” với mẫu gồm 34 công ty niêm yết trên sàn
Euronext Lisbon của Bồ Đào Nha giai đoạn 2002-2007, nghiên cứu đã kiểm tra tác
động của cơ cấu sở hữu của một công ty (được đo bằng ba biến: sở hữu của nhà
quản lý, mức độ tập trung quyền sở hữu và sở hữu của tổ chức) đến hành vi QTLN
của một công ty. Các kết quả thực nghiệm cho thấy rằng hành vi QTLN của các
công ty niêm yết Bồ Đào Nha đều bị ảnh hưởng bởi cơ cấu sở hữu. Thứ nhất, cả sở
hữu của nhà quản lý và mức độ tập trung quyền sở hữu đều hạn chế hành vi QTLN.
Điều này cho thấy rằng các nhà quản lý, người sở hữu một phần quan trọng của vốn
CP trong một công ty, có ít động lực để thao tác thông tin kế toán được báo cáo, và
các cổ đông lớn làm giảm cơ hội điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản lý. Thứ hai,
QTLN thấp hơn khi dòng tiền hoạt động cao và QTLN cao hơn khi chi phí chính trị,
đòn bẩy tài chính và quy mô HĐQT là cao.
Nghiên cứu của Aygun và cộng sự (2014): “The effects of Corporate
ownership structure and Board size on Earnings management: Envidence from
Turkey” sử dụng mẫu gồm 230 công ty Thổ Nhĩ Kỳ niêm yết trên sàn chứng khoán
Istanbul (ISE) cho giai đoạn năm 2009 đến năm 2012 để kiểm tra tác động của cơ
cấu sở hữu và quy mô HĐQT đến QTLN. Cơ cấu sở hữu của công ty được đo bằng
hai biến: quyền sở hữu của nhà quản lý và quyền sở hữu của tổ chức. Nghiên cứu
này cũng sử dụng ba biến kiểm soát là lợi nhuận trên tài sản (ROA), quy mô của
công ty và đòn bẩy tài chính. Biến QTLN được nhận diện theo mô hình Modified
Jones và các kỹ thuật hồi quy đa biến được sử dụng để kiểm tra tác động của cơ cấu
sở hữu của công ty và quy mô HĐQT đến QTLN. Kết quả của nghiên cứu này phù
hợp với các nghiên cứu trước đây cho thấy rằng sở hữu của tổ chức và quy mô
HĐQT có tương quan ngược chiều với QTLN trong khi ảnh hưởng của quyền sở
khoán TP.HCM trong năm 2010. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mô hình Modified
Jones không hiệu quả trong việc nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các
doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán HOSE. Thông qua phân tích môi
trường vĩ mô của TTCK TP.HCM nói riêng và Việt Nam nói chung, tác giả đã đề
nghị một mô hình khác để nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận cho các doanh
nghiệp niêm yết Việt Nam, tác giả này đã thay biến TSCĐ bằng biến khấu hao
11
TSCĐ và đưa thêm biến dự phòng vào mô hình. Dựa vào kết quả phân tích hồi quy,
tác giả đã kết luận mô hình này phù hợp với mô hình của Jones đối với các doanh
nghiệp niêm yết của Việt Nam với R-square=0,985).
Nghiên cứu của Huỳnh Thị Vân (2012): “Nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi
nhuận ở các công ty cổ phần trong năm đầu niêm yết trên thị trường chứng khoán
Việt Nam” sử dụng đồng thời mô hình DeAngelo (1986) và mô hình Friedlman
(1994) nghiên cứu với một mẫu gồm 43 công ty CP trong năm đầu niêm yết trên Sở
giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE) và Sở giao dịch Chứng khoán Hà Nội
(HNX) giai đoạn 2008 – 2010. Kết quả nghiên cứu cho thấy phần lớn các công ty
niêm yết có điều chỉnh tăng lợi nhuận trong năm đầu niêm yết. Thêm vào đó nghiên
cứu cũng tìm thấy vấn đề ưu đãi thuế TNDN trong năm đầu niêm yết tác động làm
tăng hành vi điều chỉnh lợi nhuận, nhưng không tìm thấy ảnh hưởng của quy mô
công ty đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận.
Nghiên cứu của Trần Thị Mỹ Tú (2014): “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng
đến hành vi quản trị lợi nhuận trên báo cáo tài chính tại các công ty cổ phần niêm
yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM.”. Với mẫu dữ liệu bao gồm 100 công
ty niêm yết trên sàn chứng khoán TP.HCM giai đoạn 2010 – 2013 và sử dụng mô
hình xác định hành vi QTLN của Friedlan (1994), nghiên cứu đã nhận diện một số
biến có tác động đến hành vi QTLN, đó là tính độc lập của HĐQT, quy mô công ty
kiểm toán, quy mô công ty và đòn bẩy tài chính. Trong đó, tính độc lập của HĐQT
CP của BGĐ sẽ làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Đồng thời, các công ty có
lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh càng lớn thì càng làm giảm hành vi
điều chỉnh lợi nhuận. Thêm vào đó, nghiên cứu không tìm ra mối quan hệ giữa quy
mô HĐQT, tỷ lệ thành viên Ban kiểm soát không kiêm nhiệm chức vụ trong công
ty, tỷ lệ thành viên Ban kiểm soát có chuyên môn về tài chính - kế toán - kiểm toán,
tỷ lệ sở hữu cổ phiếu của Ban kiểm soát cũng như tỷ lệ sở hữu cổ phiếu của thành
viên HĐQT với hành vi điều chỉnh lợi nhuận.
Nghiên cứu của Đặng Ngọc Hùng (2015): “Nghiên cứu xu hướng quản trị
lợi nhuận do thay đổi thuế suất thuế TNDN của các công ty niêm yết trên thị trường
chứng khoán Việt Nam” được thực hiện trên dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ
193 công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam giai đoạn 2011 - 2014. Kết quả nghiên
cứu cho thấy năm 2013 các công ty điều chỉnh giảm lợi nhuận với mục đích tiết
13
kiệm thuế TNDN, trong khi đó, các năm trước và sau năm 2013 các công ty có xu
hướng điều chỉnh tăng lợi nhuận. Ngoài ra, kết quả kiểm định phi tham số cũng
khẳng định việc điều chỉnh lợi nhuận không phụ thuộc vào quy mô (được đo lường
theo doanh thu) của các công ty.
1.3. Nhận xét tổng quan nghiên cứu và xác định khe hổng nghiên cứu
1.3.1. Nhận xét tổng quan nghiên cứu
Qua quá trình lược khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến
vấn đề nghiên cứu, tác giả có một số nhận xét sau:
- Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa cơ cấu sở hữu và hành vi QTLN được
nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới và chủ yếu là nghiên cứu thực nghiệm bằng
phương pháp định lượng. Các nghiên cứu trên thế giới đã khám phá và giải thích
khá đầy đủ về sự tác động của cơ cấu sở hữu đến hành vi QTLN, tuy nhiên có sự
khác nhau về kết quả nghiên cứu ở các nước. Sự khác nhau này có thể là do: sự
khác nhau trong việc lựa chọn nhân tố nào liên quan đến cơ cấu sở hữu có tác động
Klai & Omri (2011)
Roodposhti & Chashmi (2011)
Alves Sandra (2012)
–
Quyền sở hữu của nhà Park & Shin (2004)
đầu tư tổ chức
Klai & Omri (2011)
–
Shaikh và cộng sự (2012)
Aygun và cộng sự (2014)
Lakhal Nadia (2015)
Jang & cộng sự (2009)
0
Alves Sandra (2012)
Roodposthi & Chashmi (2011)
+
Quyền sở hữu của nhà Ali và cộng sự (2008)
quản lý
Alves Sandra (2012)
–
hưởng đến hành vi QTLN (Trần Thị Mỹ Tú, 2014) hay mối quan hệ giữa mức độ
công bố thông tin trên BCTC với QTLN (Nguyễn Thị Phương, 2014). Nghiên cứu
về yếu tố giám sát thuộc quản trị công ty giúp làm giảm hành vi điều chỉnh lợi
nhuận của Giáp Thị Liên (2014) đã chỉ ra quản trị công ty có ảnh hưởng đến hành vi
điều chỉnh lợi nhuận thông qua các biến liên quan đến HĐQT và Ban kiểm soát,
nhưng không đề cập đến ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu. Các nghiên cứu mà tác giả
tìm hiểu bước đầu đã cung cấp cái nhìn tổng quát về QTLN của các công ty niêm
yết là cơ sở, định hướng cho các nghiên cứu sâu trong tương lai. Một số nghiên cứu
cũng đã sử dụng phương pháp định lượng để nghiên cứu về hành vi QTLN nhưng
chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu cơ cấu sở hữu như là một nhân tố chung tác động
đến hành vi QTLN. Như vậy, tác giả chưa thấy có nghiên cứu cụ thể nào đi sâu xem
xét về tác động của cơ cấu sở hữu đến hành vi QTLN tại Việt Nam.
1.3.2. Xác định khe hổng nghiên cứu
Qua việc tổng quan những nghiên cứu trong và ngoài nước nêu trên, tác giả
nhận thấy rằng cơ cấu sở hữu thực sự có ảnh hưởng đến hành vi QTLN và ở những
đất nước khác nhau, với nền kinh tế, chính trị, văn hóa khác nhau thì sự tác động
của từng nhân tố thuộc cơ cấu sở hữu đến QTLN có thể có kết quả khác nhau, thậm
chí ngược nhau. Trong khi đó, tại Việt Nam, tác giả chưa thấy có nghiên cứu cụ thể
nào về mối quan hệ giữa cơ cấu sở hữu và hành vi QTLN. Do đó, việc nghiên cứu
ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu đến hành vi QTLN tại Việt Nam là cần thiết nhằm bổ
sung bằng chứng thực nghiệm về tác động cơ cấu sở hữu đến hành vi QTLN ở Việt
Nam, từ đó làm tài liệu tham khảo hữu ích cho các đối tượng liên quan như nhà đầu
tư, nhà quản lý doanh nghiệp, kiểm toán viên, cơ quan quản lý nhà nước và các đối
tượng khác trong bối cảnh thực trạng chất lượng BCTC của các doanh nghiệp Việt
Nam đang rất được quan tâm hiện nay.
Xác định được khe hổng nghiên cứu này, luận văn đi vào nghiên ảnh hưởng
của cơ cấu sở hữu đến hành vi QTLN thông qua thông tin trình bày trên BCTN
nhằm làm rõ tác động của các yếu tố liên quan đến cơ cấu sở hữu đến hành vi
QTLN tại công ty niêm yết trên sàn chứng khoán TP.HCM.
sai do nhà quản trị đã “cắt gọt” các khía cạnh của nó theo ý muốn của họ. Vì vậy,
báo cáo lãi lỗ phản ánh mong muốn của nhà quản trị hơn là phản ánh tình hình tài
chính thực của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, Healy và Whalen (1999) cho rằng, điều chỉnh lợi nhuận xảy ra
khi nhà quản trị sử dụng các ước tính kế toán hoặc giao dịch nội bộ để tác động đến
BCTC, nhằm đánh lừa một số bên liên quan về tình hình hoạt động sản xuất kinh
doanh của công ty hoặc làm ảnh hưởng đến các hợp đồng mà có cam kết dựa trên
chỉ tiêu lợi nhuận kế toán.
Akers và các cộng sự (2007) định nghĩa QTLN như những nỗ lực của nhà
quản lý để gây ảnh hưởng hoặc “điều khiển” báo cáo thu nhập bằng cách sử dụng
phương pháp kế toán đặc biệt (hoặc các phương pháp đang thay đổi), công nhận
một khoản mục không định kỳ, trì hoãn hoặc đẩy nhanh việc ghi nhận các giao dịch
chi phí hoặc doanh thu, hoặc sử dụng các phương pháp khác được thiết kế gây ảnh
hưởng đến thu nhập ngắn hạn.
Quan điểm của Beneish (2001) cho rằng, QTLN là sự can thiệp có cân nhắc
nhằm cung cấp thông tin tài chính hữu ích, trung thực về tình hình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp cho các nhà đầu tư và các bên có liên quan, nhằm giúp họ
đưa ra các quyết định tài chính liên quan đến doanh nghiệp.