Quy chế pháp lý về góp vốn bằng ngoại tệ trong doanh nghiệp thực trạng và phương hướng hoàn thiện - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

TRẦN CÔNG HUY

QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ GÓP VỐN BẰNG NGOẠI
TỆ TRONG DOANH NGHIỆP – THỰC TRẠNG VÀ
PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

TRẦN CÔNG HUY

QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ GÓP VỐN BẰNG
NGOẠI TỆ TRONG DOANH NGHIỆP – THỰC
TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN

Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Văn Hưng

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2016


Khái niệm hành vi góp vốn ......................................................................6

1.2.

Chủ thể góp vốn ........................................................................................7

1.3.

Quyền góp vốn ........................................................................................10

1.3.1.

Quyền tự do lựa chọn loại hình doanh nghiệp..............................11

1.3.2.

Tự do quyết định số vốn bỏ ra và loại tài sản góp vốn.................12

1.4.

Tài sản góp vốn .......................................................................................14

1.5.

Ý nghĩa của hoạt động góp vốn .............................................................16

1.5.1.

Đối với công ty .................................................................................16



2.1.2. Thành lập dự án .................................................................................30
2.1.4. Mở tài khoản vốn ................................................................................33
2.1.4.1. Thực hiện cam kết góp vốn..............................................................33
2.1.4.2. Mở tài khoản vốn đầu tư ..................................................................34
2.2. Pháp luật hoạt động góp vốn bằng ngoại tệ thông qua hình thức góp
vốn, mua cổ phần, phần vốn góp.....................................................................37
2.2.1. Khái niệm góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp .............................37
2.2. 2. Hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp ............................37
2.2.3. Thủ tục góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước
ngoài. .....................................................................................................................39
2.2.3.1. Theo luật Đầu tư ............................................................................39
2.2.3.2. Theo quy định về ngoại hối ...........................................................40
2.3. Thực trạng hoạt động góp vốn bằng ngoại tệ và kiến nghị ......................44
2.3.1. Thực trạng hoạt động góp vốn bằng ngoại tệ. .....................................44
2.3.2. Hậu quả pháp lý khi nhà đầu tư góp vốn ngoại tệ sai quy định. .......46
2.4. Tình huống thực tế........................................................................................48
2.4.1. Tóm tắt tình huống 1 ..............................................................................48
2.4.2 Tóm tắt tình huống 2 ...............................................................................50
2.5. Kiến nghị ........................................................................................................ 54
KẾT LUẬN ..............................................................................................................59
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................1


1

Tóm tắt luận văn
Đề tài “Quy chế pháp lý về góp vốn bằng ngoại tệ trong doanh nghiệp Thực trạng và phương hướng hoàn thiện” mang tính lý luận và thực tiễn về hoạt
động góp vốn bằng ngoại tệ trong doanh nghiệp.

432.286 tỷ đồng, giảm 2,7% về số doanh nghiệp và tăng 8,4% về số vốn đăng ký so
với cùng kỳ năm trước. Trong năm 2015, cả nước có 94.754 doanh nghiệp2 đăng ký
thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 601,5 nghìn tỷ đồng, tăng 26,6% về số
doanh nghiệp và tăng 39,1% về số vốn đăng ký so với năm 2014. Trong 6 tháng đầu
năm 2016, tổng số doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt
động của cả nước là 69.403 doanh nghiệp, trong đó: có 54.501 doanh nghiệp thành
lập mới và 14.902 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động3.
Tài sản góp vốn trong doanh nghiệp rất đa dạng tiền mặt, vật, giấy tờ có giá,
nợ… Tuy nhiên, tập trung nhiều vấn đề vướng mắc trong pháp lý, sự đan xen giữa
các quy định trong pháp luật trước và sau hoạt động góp vốn chủ yếu xảy ra đối với
hoạt động góp vốn bằng ngoại tệ trong doanh nghiệp.
Gắ n liề n với viê ̣c xác đinh
̣ tính hơ ̣p lê ̣ của các hình thức góp vố n trên là hoa ̣t
đô ̣ng xử lý vi phạm hành chin
́ h trong lĩnh vực thành lập doanh nghiệp về hoa ̣t đô ̣ng
Kế hoạch và Đầu tư, “tình hình đăng ký doanh nghiệp tháng 12 năm 2014”, Cổng thông tin Bộ Kế hoạch
và Đầu tư (26/12/2014), thao khảo tại,
https://dangkykinhdoanh.gov.vn/NewsandUpdates/tabid/91/ArticleID/1725/T%C3%ACnh-h%C3%ACnhchung-v%E1%BB%81-%C4%91%C4%83ng-k%C3%BD-doanh-nghi%E1%BB%87p-th%C3%A1ng-12v%C3%A0-n%C4%83m-2014.aspx, ngày truy cập: 01//2/2016;
2
Kỳ Thành, “giải thể và tạm ngừng hoạt động doanh nghiệp”, Đầu tư online (26/12/2015), thao khảo tại:
http://baodautu.vn/nam-2015-hon-9400-doanh-nghiep-giai-the-71300-doanh-nghiep-tam-ngung-hoat-dongd37565.html, ngày truy cập: 19/2/2016.
3
Cổng thông tin doanh nghiệp, “tình hình đăng ký kinh doanh 6 tháng và 6 tháng đầu năm 2016” (30/6/2016),
tham khảo tại: https://dangkykinhdoanh.gov.vn/NewsandUpdates/tabid/91/ArticleID/2709/T%C3%ACnhh%C3%ACnh-chung-v%E1%BB%81-%C4%91%C4%83ng-k%C3%BD-doanh-nghi%E1%BB%87pth%C3%A1ng-6-v%C3%A0-6-th%C3%A1ng-%C4%91%E1%BA%A7u-n%C4%83m-2016.aspx, ngày truy
cập: 19/9/2016.
1Bộ


3


độ các quy định pháp luật có liên quan.
Công ty được quyền tự do kinh doanh, tự do góp vốn thành lập doanh nghiệp
theo quy định pháp luật. Tài sản góp vốn trong doanh nghiệp rất đa dạng tiền mặt,
giấy tờ có giá, nợ… Tuy nhiên, tập trung nhiều vấn đề vướng mắc trong pháp lý, sự
đan xen giữa các quy định trong pháp luật trước và sau hoạt động góp vốn chủ yếu
xảy ra đối với hoạt động góp vốn bằng ngoại tệ của nhà đầu tư nước ngoài.

4) Phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp: Phân
tích, chứng minh, thống kê, so sánh. Phương pháp phân tích được sử dụng để làm rõ
nội dung, nội hàm, ý nghĩa của quy định pháp luật, từ đó đánh giá điểm hợp lý và
chưa hợp lý của các quy định pháp luật. Luận văn sử dụng phương pháp chứng
minh, đánh giá nghiên cứu thực tiễn các quy định pháp luật hiện hành và nhận định
việc thực hiện pháp luật trong thực tế, thực trạng hiện nay thông qua các vụ việc cụ
thể.

5) Câu hỏi nghiên cứu:
- Vì sao các nhà đầu tư khi thực hiện góp vốn bằng ngoại tệ không thực hiện
đúng các quy định pháp luật ngoại hối?
- Những hậu quả pháp lý nào xảy ra khi các nhà đầu tư khi các nhà đầu tư
góp vốn sai tài khoản?

6) Kết cấu bài:
Luận văn được chia làm hai chương:


5

Chương I: Pháp luật về hoạt động góp vống bằng ngoại tệ trong doanh
nghiệp

sở hữu hoặc cổ đông hoặc là một khoản tiền hoặc tài sản được giao cho một
doanh nghiệp hoặc đối tác bởi một trong các chủ sở hữu hoặc đối tác, việc
góp vốn làm tăng giá trị vốn của chủ sở hữu trong doanh nghiệp.
Từ điển luật học của Viện khoa học pháp lý thuộc Bộ Tư pháp cũng đưa
ra định nghĩa tương đối gần với các định nghĩa trên, góp vốn là “việc nhà đầu
đưa tài sản dưới các hình thức khác nhau vào doanh nghiệp để trở thành chủ
sở hữu hoặc đồng chủ sở hữu doanh nghiệp”.
Theo cách hiểu này thì hành vi góp vốn chính là hoạt động của nhà đầu
tư đưa tài sản của mình vào doanh nghiệp để trở thành chủ sở hữu của doanh
nghiệp đó.
Hành vi góp vốn chính thức định nghĩa trong các văn bản luật của Việt
Nam bắt đầu tư Luật Doanh nghiệp 1999. Khái niệm này tiếp tục được ghi
nhận và giữ nguyên nội dung khi Luật Doanh nghiệp 2005. Sau khi Luật
Doanh nghiệp 2014 được ban hành thì hành vi góp vốn được hiểu như sau
“góp vốn là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty”


7

Có thể thấy theo định nghĩa của các từ điển luật học thì hành vi góp vốn
đều có đối tượng nhận vốn khá rộng là doanh nghiệp/thương nhân, còn khái
niệm góp vốn mà pháp luật Việt Nam đưa ra là một khái niệm hẹp bởi đối
tượng nhận góp vốn chỉ có thể là công ty mà không bao hàm đối với tất cả các
loại hình doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác.
Góp vốn được thể hiện qua hành vi “đưa tài sản vào công ty”. Việc đưa
tài sản vào công ty có thể là hoạt động trực tiếp đưa tài sản vào công ty hoặc
theo cách thức khác như nhận chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế vốn góp của
thành viên công ty. Và hành vi này có thể diễn ra vào thời điểm bắt đầu để
thành lập mới một công ty hoặc trong quá trình công ty hoạt động.
1.2.

nghiệp 2014 doanh nghiệp tư nhân không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua
cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc
công ty cổ phần; Điểm đ, Khoản 1, Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014 Tổ chức, cá
nhân sau đây không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam:
“…Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất
năng lực hành vi dân sự; tổ chức không có tư cách pháp nhân…”. Pháp luật cụ thể
hóa quy định này vì một cách hiểu đơn giản hành vi góp vốn là việc người (tổ chức,
cá nhân) góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty. Theo Điều 84 Bộ Luật
Dân sự 2005, khi một tổ chức không có tư cách pháp nhân đồng nghĩa với việc tổ
chức đó không có tài sản độc lập. Vì vậy, tổ chức đó không có tài sản để góp vốn
vào công ty, không thể tiến hành chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn vào công ty
được. Theo đó doanh nghiệp tư nhân không thể góp vốn vào ba loại hình doanh
nghiệp trên, vì doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân. Tuy nhiên, theo
cách hiểu này thì ta nhận thấy chủ doanh nghiệp tư nhân có thể tham gia góp vốn,
thành lập doanh nghiệp được vì chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân có tài sản độc lập.
Chính vì điều này mà Luật Doanh nghiệp 2014 đã cụ thể hóa quy định trên vào Luật
Doanh nghiệp.
Mặc dù phạm vi chủ thể góp vốn thành lập doanh nghiệp tại Luật Doanh
nghiệp 2014 khá rộng. Tuy nhiên nhằm quản lý chặt chẽ, tránh lạm dụng chức
quyền của cán bộ, công chức trong kinh doanh nhà nước ta đã quy định một số đối
tượng bị cấm góp vốn vào công ty cụ thể: Theo Khoản 2 Điều 18 Luật Doanh
nghiệp 2014 chia đối tượng bị cấm góp vốn thành lập công ty làm hai nhóm. Tổ
chức, cá nhân sau đây không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt
Nam:


9

Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để
thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;

Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất
năng lực hành vi dân sự; tổ chức không có tư cách pháp nhân;
Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết
định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc
đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất
định, liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án; các trường hợp khác
theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng.
Nhìn chung phạm vi chủ thể có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại
Luật Doanh nghiệp 2014 khá tương đương với Luật Doanh nghiệp 2005. Bên cạnh
đó, Luật Doanh nghiệp 2014 có quy định về các trường hợp tổ chức, cá nhân không
được quyền góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào công ty cổ phần, công ty
trách nhiệm hữu hạn theo quy định của Luật như:
Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước góp vốn
vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình; Các đối tượng không
được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.
Về quy định chủ thể góp vốn của Luật Doanh nghiệp 2014 khá rõ ràng. Tuy
nhiên, việc thẩm định, xác minh các cá nhân, tổ chức có đủ điều kiện góp vốn,
thành lập doanh nghiệp hay không là một bài toán khó cho cơ quan đăng ký kinh
doanh.
1.3.

Quyền góp vốn

Quyền góp vốn hay quyền góp vốn thành lập công ty, quyền góp vốn mua cổ
phần là một trong những quyền cơ bản thể hiện quyền tự do kinh doanh của công


11

dân. Khi muốn kinh doanh, người kinh doanh phải xác lập một tự cách pháp lý để

đầu tư. Ví dụ: ở Việt Nam thì có các loại hình doanh nghiệp như: Công ty TNHH 1
thành viên, công ty TNHH 2 thành viên trở lên, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư
nhân ngoài ra các cá nhân còn có thể chọn lựa hình thức kinh doanh theo hợp tác xã,
hộ kinh doanh cá thể… Khác với nước ta ở Pháp4 thì lại có mô hình kinh doanh
khác như: công ty cổ phần, công ty hợp vốn cổ phần, công ty cổ phần đơn giản,
công ty TNHH, công ty hợp danh và công ty hợp vốn đơn giản còn ở Úc5 thì có
công ty công ty sở hữu chủ, công ty công cộng. Mỗi quốc gia sẽ có quy định về loại
hình doanh nghiệp khác nhau, các nhà đầu tư được tự do lựa chọn các loại hình
doanh nghiệp trong phạm vi khuôn khổ này.
1.3.2. Tự do quyết định số vốn bỏ ra và loại tài sản góp vốn
Các nhà đầu tư, thành viên góp vốn được tự do lựa chọn. Luật pháp Việt Nam
hầu như không giới hạn số vốn góp của nhà đầu tư để thành lập công ty. Tuy nhiên,
trong một số ngành nghề có vốn pháp định như tài chính ngân hàng, bảo hiểm,
chứng khoán…pháp luật mới yêu cầu phải đáp ứng mức vốn pháp định tối thiểu
như sau:
Mức vốn

STT Ngành

pháp định
NHTM

3000

nhà nước

VNđ

Văn bản quy định


trang 35-38.
5
Bùi Xuân Hải (2004), Vài nét về các loại hình công ty theo Luật Công ty của Úc, Tạp chí khoa học pháp lý,
số 6/2004, trang 55-59.
4


13

NH 100%
vốn nước
ngoài

3000
VNđ

3000
NH đầu tư

tỷ

tỷ

VNđ

5000

tỷ

NH chính VNđ


VNđ

tài chính

đinh

76/2015/Nđ-CP

ngày

10/09/2015 quy định chi tiết thi hành
Công
cho

ty
thuê

tài chính

150

tỷ

VNđ

một số điều của Luật Kinh doanh bất
động sản.

Điều 3 NĐ 153/2007/NĐ - CP ngày

tờ có giá… miễn thỏa các điều kiện quy định tại Điều 163 Bộ Luật dân sự 2005.
Tóm lại, pháp luật Việt Nam luôn tôn trọng quyền góp vốn của các nhà đầu tư
trong và ngoài nước và đây là một trong những quyền cơ bản của công dân, của con
người được hiến pháp Việt Nam bảo vệ.
1.4.

Tài sản góp vốn

Tài sản góp vốn là một trong những nội dung quan trong để hiểu rõ được hành
vi góp vốn. Tài sản góp vốn trong công ty rất đa dạng và phong phú. Theo Điều 35
Luật Doanh nghiệp 2014 liệt kê tài sản góp vốn trong doanh nghiệp rất chi tiết: “Tài
sản góp vốn có thể là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền
sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản
khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam. Quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng
để góp vốn bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở
hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và các quyền sở hữu trí tuệ khác
theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ. Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu
hợp pháp đối với các quyền nói trên mới có quyền sử dụng các tài sản đó để góp
vốn” điều này hoàn toàn khác so với Luật Doanh nghiệp 2005. Ngoài ra, một điểm
khác biệt nữa trong quy định về tài sản của Luật Doanh nghiệp 2014 mở ra một lối


15

mở hơn cho nhà đầu tư. Tài sản góp vốn trong doanh nghiệp là các tài sản khác có
thể định giá được bằng tiền Việt Nam so với Luật Doanh nghiệp 2005 là các tài sản
khác ghi trong điều lệ. Điều này có thể được hiểu rằng các thành viên công ty có thể
góp vốn khác với điều lệ trong trường hợp có thỏa thuận giữa các bên và không làm
ảnh hưởng đến vốn điều lệ công ty.
Hoạt động góp vốn bằng tiền Việt Nam và ngoại tệ sẽ được tác giả phân tích

chuyển đổi, vàng và giấy tờ có giá.
Trong hoạt động góp vốn chỉ có những chủ sở hữu hợp pháp đối với tài sản
mới có quyền sử dụng các tài sản đó để góp vốn. Như vậy, nhà đầu tư có thể dùng
bất cứ tài sản nào được coi là hợp pháp (là tài sản và thuộc sở hữu chính mình) và
trị giá được bằng tiền để góp vốn vào công ty. Xuất phát từ nhu cầu vốn và sử dụng
vốn cùng với việc đánh giá tính hữu ích của tài sản đối với công việc kinh doanh mà
mỗi công ty sẽ chấp nhận hay không những loại tài sản khác nhau để tạo thành vốn
cho công ty mình. Quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 là phù hợp với thực
tiễn kinh doanh, góp phần tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi hơn.
1.5.

Ý nghĩa của hoạt động góp vốn
1.5.1. Đối với công ty

Về kinh tế, hành vi góp vốn trực tiếp của thành viên công ty đã hình thành nên
vốn điều lệ của công ty khi công ty thành lập hay khi công ty tăng vốn trong quá
trình hoạt động. Trên cơ sở nguồn vốn có được do sự đóng góp trực tiếp này thì
công ty có được nguồn tài chính để thực hiện các hoạt động kinh doanh và thực hiện
các nghĩa vụ tài sản của công ty. Bởi công ty muốn kinh doanh thì phải có vốn mà
vốn có được là từ đóng góp của thành viên công ty, nhất là khi doanh nghiệp thành
lập thì việc góp vốn đầy đủ , đúng tiến độ càng có ý nghĩa với hoạt động kinh doanh
của công ty. Mặt khác kinh doanh thì không thể tránh khỏi rủi do, công ty có thể tự
mình tiến hành các giao dịch và thực các nghĩa vụ tài sản có liên quan tới giao dịch
của mình. Chính vì vậy việc thành viên góp vốn vào công ty đúng cam kết là điều
kiện để công ty thực hiện nghĩa vụ với bên thứ ba.
Về pháp lý, hành vi góp vốn là một trong những yếu tố xác lập nên tư cách
pháp nhân của công ty trước pháp luật. Trước hết, khi thành lập doanh nghiệp, điều


17

18

lấy quyền lợi đối với công ty8. Thật vậy, tỷ lệ phần vốn góp của chủ sở hữu trên
tổng số vốn điều lệ của công ty (tỷ lệ vốn góp đối với thành viên công ty TNHH và
tỷ lệ vốn cổ phần đối với cổ đông) là tỷ lệ quyền lực9 quyết định phạm vi quyền
hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của nhà đầu tư đối với mọi vấn đề về tổ chức và hoạt
động của doanh nghiệp như: quyền tài sản, quyền quản trị, trách nhiệm khi công ty
bị phá sản.
Quyền tài sản và quyền quản trị công ty sẽ tương ứng với tỉ lệ phần vốn góp
của các thành viên công ty. Đối với trách nhiệm công ty khi bị phá sản thành viên
công ty đương nhiên được giải phóng trách nhiệm tài sản khi hoàn thành nghĩa vụ
góp vốn10. Nghĩa là, các thành viên hoàn toàn không phải chịu trách nhiệm thay hay
bổ sung cho các nghĩa vụ của công ty. Họ chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản
nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn góp. Đặc biệt lưu ý,
vào thời điểm phá sản mà các chủ sở hữu chưa thực hiện xong cam kết góp vốn vào
vốn điều lệ thì phần chưa thực hiện đó vẫn được coi là tài sản công ty, mối quan hệ
giữa công ty và chủ sở hữu công ty lúc này là quan hệ chủ nợ và con nợ. Bởi vì,
“Tài sản phá sản của công ty vào thời điểm bị tuyên bố phá sản là tài sản hiểu theo
nghĩa pháp lý”. Bên cạnh đó, khi phạm vi cam kết góp vốn, thành viên phải chịu
những hậu quả pháp lý nhất định. Tóm lại, khi tiến hành góp vốn vào công ty, nhà
đầu tư đã xác lập tư cách thành viên kèm theo các quyền lợi, nghĩa vụ và trách
nhiệm cho mình.
1.5.3. Đối với chủ nợ
Chủ nợ của công ty có thể là ngân hàng cho vay tiền, cơ quan thuế, đối tác làm
ăn… Về mặt pháp lý, vốn của công ty là do thành viên đóng góp và nó được cả luật
pháp lẫn tập tục ở Anh và Mỹ coi là phương tiện để công ty trả nợ. Đối với chủ nợ,
Nguyễn Như Phát (2009), Quyền sở hữu cá nhân – cội nguồn của tự do kinh doanh trong kinh tế thị trường,
Quyền con người: Tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã hội, NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội, trang
88.
9

nghiên cứu đối với vấn đề góp vốn bằng ngoại tệ tác giả sẽ đi sâu vào phần cấu trúc
vốn điều lệ, vốn dự án, cách thức góp vốn vào công ty.
1.6.

Nguyên tắc góp vốn

Trương Trọng Hiểu (2006), “Ý nghĩa của vốn và lý do tháo bỏ quy định về vốn pháp định”, Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp, trang 46.
11


20

Xét về quá trình thì góp vốn là góp vốn trước tiên là hành vi cam kết giữa
những người cùng góp vốn, nó cũng là một dạng của hợp đồng và trong thực tế hình
thức tồn tại của cam kết là hợp đồng góp vốn giữa các thành viên; sau đến là việc
đưa tài sản vào công ty, thực chất đây là hoạt động thực hiện nghĩa vụ theo cam kết
ban đầu. Do hoạt động góp vốn xuất phát từ hợp đồng do vậy hoạt động góp vốn
cũng phải thoả các nguyên tắc trong giao kết hợp đồng dân sự: Tự nguyện, bình
đẳng và cùng có lợi, thoả thuận và thống nhất ý chí, minh bạch.
1.6.1 Tự nguyện, bình đẳng và cùng có lợi
Góp vốn hoàn toàn dựa trên sự bình đẳng, tự nguyên, tự do ý chí của chủ thể,
không do áp đặt ý chí của bất kì tổ chức, cá nhân nào hoặc bị những cản trở trái với
ý chí của mình. Việc bỏ tài sản của chính mình ra tạo nên chủ thể kinh doanh mới
để tự mình hoặc cùng với những người khác kinh doanh hoàn toàn xuất phát từ ý
định cảu bản than người góp vốn. Thành viên góp vốn tự nguyện tìm đến và lựa
chọn các thành viên khác là đối tác cùng họ kinh doanh và quan trọng là tự mình
quyết định việc bỏ vốn đề hùn hạp với những người khác. Pháp luật yêu cầu người
bỏ vốn phải là chủ sở hữu của tài sản đưa vào công ty, chỉ khi có sự tự nguyện thì
việc chuyển giao tài sản này mới được cho là hợp pháp bởi nó được thực hiện trên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status