BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
BỘ Y TẾ
---------***---------
VŨ HUY HOÀNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH VÀ
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BẰNG CAN THIỆP NỘI MẠCH
PHÌNH ĐỘNG MẠCH NÃO TUẦN HOÀN SAU
Chuyên ngành : Chẩn đoán hình ảnh
Mã số
: 60720166
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS. VŨ ĐĂNG LƯU
HÀ NỘI - 2015
2
ĐẶT VẤN ĐỀ
Phình động mạch não (PĐMN) tuần hoàn sau ít gặp hơn tuần hoàn
trước (chiếm khoảng 5-15%) tùy theo nghiên cứu [1],[2],[3],[4]. Phần lớn các
trường hợp không phát hiện được lúc túi phình chưa vỡ tuy nhiên hiện nay với
sự phát triển của các phương tiê ̣n CĐHA hiêṇ đa ̣i như CLVT đa dãy và CHT 1.5
và 57% [14]. Ngoài ra, tỷ lệ tái vỡ túi phình tuần hoàn sau cao hơn so với tuần
hoàn trước [1],[11],[15]. Có nhiều lựa chọn can thiệp nội mạch điều trị chứng
PĐMN tuần hoàn sau phụ thuộc vào vị trí giải phẫu như đỉnh thân nền, động
mạch tiểu não trên, động mạch tiểu não sau dưới và đoạn V4 của ĐM đốt
sống và biểu hiện lâm sàng của PĐMN như: tắc túi phình bằng VXKL đơn
thuần hoặc có các thiết bị hỗ trợ như bóng hoặc GĐNM chẹn cổ, tắc mạch
mang vĩnh viễn và hiện nay là GĐNM đổi hướng dòng chảy làm tắc túi phình
nhưng vẫn bảo tồn mạch mang [16].
Mă ̣c dù ta ̣i Viêṭ Nam nghiên cứu điề u tri ̣ phình ma ̣ch naõ đã thực hiêṇ
ta ̣i nhiề u trung tâm, nhưng chưa có nghiên cứu nào đánh giá hiêụ quả điề u tri ̣
can thiệp nội mạch PĐMN tuầ n hoàn sau. Với ý tưởng đó chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài "Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh và kết quả điều trị bằng
can thiệp nội mạch phình động mạch não tuần hoàn sau" với hai mục tiêu:
1. Nhận xét đặc điểm lâm sàng và hình ảnh trên cắt lớp vi tính đa dãy,
cộng hưởng từ và chụp mạch số hóa xóa nền của phình động mạch não
tuần hoàn sau.
2. Đánh giá kết quả điều trị bằng can thiệp nội mạch phình động mạch não
tuần hoàn sau.
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CHẨN ĐOÁN VÀ CÁC PHƯƠNG
PHÁP ĐIỀU TRỊ PHÌNH ĐỘNG MẠCH NÃO TUẦN HOÀN SAU.
1.1.1. Trên thế giới
- Vào năm 1953 Seldinger phát minh phương pháp chụp mạch não ngược
dòng qua ống thông và nó được áp dụng rộng rãi cho đến hiện nay [1].
móc chẩn đoán, vật liệu can thiệp cũng như kinh nghiệm thì điều trị PĐMN bằng
can thiệp nội mạch đã khẳng định được tính ưu việt và được công nhận là một tiến
bộ y học.
1.1.2. Tại Việt Nam
- Nhiều tác giả như Nguyễn Thường Xuân và cs (1962), Hoàng Đức
Kiệt (1994), Nguyễn Đình Tuấn và cs (1996), Lê Văn Thính (1996), Võ Văn
Nho (1998) đã nêu lên các nhận xét về lâm sàng, chẩn đoán và điều trị PĐMN
nói chung [6].
- Điều trị can thiệp nội mạch PĐMN tại Việt Nam được thực hiện bắt
đầu từ năm 2001 bởi Phạm Minh Thông cho thấy kết quả tốt với hầu hết
PĐMN được nút trực tiếp bằng VXKL đạt 92,85% [20],[21].
- Theo Vũ Đăng Lưu (2012) phương pháp can thiệp nội mạch điều trị
PĐMN vỡ có tỷ lệ thành công kỹ thuật đạt 98,6%. Bệnh nhân sau can thiệp có
thời gian nằm viện trung bình ngắn khoảng 18 ngày và hồi phục tốt theo mRs
độ 0, 1, 2 chiếm 89,6% [6].
- Theo Nguyễn Minh Hải (2014) nghiên cứu 126 bệnh nhân PĐMN vỡ
được điều trị bằng phẫu thuật kẹp cổ túi phình tại Khoa Phẫu thuật Thần kinh
bệnh viện Việt Đức từ tháng 3/2010 đến 9/2012 thì PĐMN hệ sống nền chỉ
chiếm 7,1% [20].
Theo tác giả Lê Thúy Lan năm (2009), theo dõi đánh giá tái thông dòng
chảy túi PĐMN sau can thiệp bằng chụp mạch CHT xung TOF 3D đối chiếu
với chụp mạch số hóa xóa nền (DSA) với hệ số Kappa = 0,95 [22].
1.2. GIẢI PHẪU MẠCH MÁU NÃO TUẦN HOÀN SAU VÀ VÒNG NỐI [23].
6
Tuần hoàn máu não được cấp máu từ hệ ĐM cảnh trong phía trước và
hệ ĐM đốt sống thân nền ở phía sau. Hai hệ này nối với nhau bởi các nhánh ở
vùng nền sọ tạo nên đa giác Willis.
1.2.1. Tuần hoàn não sau (Hệ động mạch đốt sống - thân nền)
hệ động mạch sống - nền ở phía sau:
Hình 1.2 Giải phẫu vòng nối đa giác Willis [23].
1.3. PHÂN LOẠI VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA PĐMN [1],[2],[3],[13],[24].
PĐMN về cơ bản có ba loại chính gồm PĐMN dạng hình túi, dạng hình
thoi và dạng phình tách, ngoài ra có PĐMN sau chấn thương, sau xạ trị, do u
và do viêm (nhiễm trùng và không nhiễm trùng).
1.3.1. Phình động mạch não dạng hình túi
- Đây là dạng hay gặp nhất, chiếm > 90% phình mạch nội sọ, có đặc
điểm động mạch giãn khu trú hình túi gồm cổ và đáy túi. Túi phình thường
8
nhô ra từ điểm chia đôi của động mạch, nơi mà có thay đổi huyết động dẫn
đến sang chấn thoái hóa mạch.
a
b
Hình 1.3: Hình thái và cấu trúc PĐMN hình túi [1],[2]
a- phình động mạch não hình túi gồm đáy và cổ túi.
b- cấu trúc thành túi:1- lớp nội mạch. 2- lớp áo giữa. 3- lớp áo ngoài
- Số lượng túi PĐMN: đa số các trường hợp là có 1 túi PĐMN, nhiều
túi PĐMN gặp 15 - 20% các trường hợp; Khi có đa PĐMN, có thể thấy các
túi PĐMN đối xứng hai bên hoặc ở các vị trí mạch khác nhau, hiếm khi có
nhiều hơn một túi PĐMN trên cùng một ĐM.
Hình 1.6 Minh họa hình ảnh PĐMN dạng bóc tách [2]
Khi động mạch bị bóc tách, máu tụ lại trong thành mạch qua điểm rách
nội mạch; sẽ đẩy lồi lớp áo ngoài ra dạng túi khi đó được gọi là phình tách.
PĐMN dạng bóc tách thường gặp sau chấn thương hoặc bệnh lý mạch máu.
1.4. CHẨN ĐOÁN PHÌNH ĐỘNG MẠCH NÃO TUẦN HOÀ N SAU
1.4.1. Chẩn đoán lâm sàng phình động mạch não tuần hoàn sau
1.4.1.1. Lâm sàng phình động mạch não chưa vỡ
PĐMN chưa vỡ có thể không biểu hiện lâm sàng, phát hiện được tình
cờ qua thăm khám hình ảnh. Với các PĐMN lớn và khổng lồ có thể có triệu
chứng chèn ép thần kinh sọ gây giảm thị lực hoặc sụp mi, dấu hiệu thân não,
đôi khi có triệu chứng thần kinh khu trú do có huyết khối bên trong mạch có
thể gây tắc mạch thiếu máu thoáng qua hoặc nhũn não do di chuyển cục huyết
khối, tuy nhiên cũng có thể gặp trong các túi phình nhỏ [1],[3],[4],[25].
1.4.1.2. Lâm sàng phình động mạch não vỡ [24],[26],[27]
PĐMN vỡ là nguyên nhân chính gây CMDN, chiếm khoảng 60-70%
- Bệnh cảnh lâm sàng điển hình: biểu hiện đau đầu đột ngột, cường độ
mạnh, đôi khi được mô tả đau kiểu “sét đánh” diễn ra trong vài giây, cường
độ tối đa trong một hoặc vài phút, rồi giảm dần trong vài giờ hoặc vài ngày.
Diễn biến rất nhanh chóng có thể đi vào hôn mê và biểu hiện co giật.
11
Thăm khám lâm sàng phát hiện dấu hiệu gáy cứng trong bệnh cảnh hội
chứng màng não và có thể thấy liệt khu trú. Một số dấu hiệu thần kinh khu trú
gợi ý chảy máu dưới nhện vùng hố sau như hội chứng tiểu não…
Đôi khi hoàn cảnh phát hiện giống chấn thương sọ não do bị bất tỉnh và ngã
khi đó bệnh nhân có thể bị giảm hoặc mất tri giác, co giật…
- Chẩn đoán phân biệt được đặt ra với tất cả bệnh lý đau đầu cấp tính và
trú
Ngủ gà, lú lẫn, liệt khu trú nhẹ
G 13-14 đ, liệt khu trú
Sững sờ, liệt vừa đến nặng, biểu hiện
mất não
Hôn mê sâu, mất não, hấp hối
G 7-12 đ
G 3-6 đ
Theo các bài báo được ấn hành, 70% các tác giả sử dụng thang phân
loại Hunt-Hess, khoảng 20% theo WFNS và 10% theo phân loại khác. Đa số
các tác giả đều đồng ý rằng, thang phân loại Hunt-Hess đánh giá chính xác
tiên lượng tử vong hơn, trong khi thang phân loại WFNS dựa trên GOS tiên
lượng chức năng tốt hơn và chủ yếu đánh giá hồi phục. Thang phân độ
Hunt&Hess I - III có tiên lượng tốt hơn, tuy nhiên giữa độ III và IV không có
sự khác biệt có ý nghĩa, đó là điểm yếu của thang phân loại này [28].
1.4.1.3. Biến chứng sau vỡ phình động mạch não và biểu hiện lâm sàng
12
Tràn dịch não thất, chảy máu tái phát và co thắt mạch kèm nhồi máu là ba
biến chứng chính sau chảy máu dưới nhện.
Tràn dịch não thất (Hydrocephalus) [1],[3]:
Sau CMDN có thể gây tràn dịch não thất cấp và mạn tính
đến 21 ngày). Co thắt mạch được phát hiện tốt nhất dựa trên phim chụp mạch.
Mức độ co thắt được đánh giá là co thắt nhẹ 67%. Mức độ co thắt mạch trong
phẫu thuật là 22,2% cao hơn so với can thiệp nội mạch là 17,2% [33],[34].
Nhồi máu và nhũn não: là biến chứng nặng sau CMDN. Trên lâm sàng,
bệnh nhân nhồi máu vùng hố sau có biểu hiện dấu hiệu thần kinh khu trú là
hội chứng tiểu não, rối loạn thị giác và thiếu hụt vận nhãn hố sau, nặng nhất là
nhồi máu thân não dẫn đến tử vong hoặc liệt hầu họng [35].
1.4.2. Chẩn đoán PĐMN tuần hoàn sau bằng hình ảnh
1.4.2.1. Chụp CLVT
Khi lâm sàng nghi ngờ CMDN, chỉ định chụp CLVT là lựa chọn thăm
khám hình ảnh đầu tiên để xác định, định khu và ước lượng mức độ chảy máu.
- Trên phim chụp CLVT không tiêm thuốc:
+ CMDN có dạng hình ảnh tăng tỷ trọng tự nhiên dạng máu trong
khoang dưới nhện: bể não, rãnh cuộn não, các khe liên bán cầu, khe Sylvius.
Vùng tập trung máu trong khoang dưới nhện gợi ý vị trí PĐMN. PĐMN vị trí
đỉnh thân nền vỡ thường có nhiều máu quanh cuống, góc cầu tiểu não hay
kèm chảy máu trong não thất IV và gây tràn dịch não thất cấp [4].
+ Chảy máu trong nhu mô não: PĐMN vị trí tuần hoàn sau vỡ gây chảy
máu nhu mô thường nặng và có nguy cơ tử vong cao vì liên quan đến thân
14
não, gặp chảy máu nhu mô thùy chẩm các trường hợp vỡ túi phình vị trí đoạn
xa ĐM não sau [29].
+ Chảy máu dưới màng cứng: gần như không gặp trong vỡ PĐMN tuần
hoàn sau, có thể gặp vỡ đoạn nội màng cứng của ĐM đốt sống (V3).
+ Chảy máu trong não thất: Nếu lượng máu ít, thấy đọng máu ở phần
thấp của sừng chẩm tạo mức ngang ngăn cách giữa máu và DNT ở trên. Nếu
chảy máu nhiều, lượng máu chiếm toàn bộ trong các não thất IV, III và não
Chảy máu trong nhu mô hoặc máu trong não thất có hoặc
không kèm theo chảy máu dưới nhện
Hình 1.8 Minh họa CMDN theo Fisher. Nguồn trích dẫn [24]
- Trên ảnh CLVT có thể thấy vôi hóa trên thành túi PĐMN hoặc dấu
hiệu chèn ép của PĐMN với nhu mô não lân cận.
- Phân biệt CMDN do vỡ PĐMN với nguyên nhân khác
+ Do chấn thương: thường thấy máu khoang dưới nhện vùng bán cầu
vòm sọ. Với các trường hợp không thể loại trừ CMDN do vỡ PĐMN hay hậu
quả sau chấn thương thì cần chỉ định chụp mạch.
+ Huyết khối tắc xoang tĩnh mạch: có dấu hiệu nhồi máu tĩnh mạch
kèm chảy máu và dấu hiệu tắc xoang tĩnh mạch.
+ Hình giả chảy máu khoang dưới nhện do phù não và viêm màng não.
1.4.2.2. Chụp mạch não cắt lớp vi tính (MDCTA)
- Chụp mạch não CLVT trên máy đa dãy (MDCTA): đã tạo ra bước
tiến nhảy vọt trong chẩn đoán PĐMN nói chung và nhất là PĐMN có kích
thước nhỏ do thực hiện rất nhanh, với độ phân giải không gian và thời gian rất
cao. Theo Trần Anh Tuấn (2008) MDCTA 64 dãy phát hiện PĐMN có độ
nhạy, độ đặc hiệu và độ chính xác lần lượt là 94,5%, 97,6% và 95,5% [37].
Chụp MDCTA dễ dàng thực hiện được trong cấp cứu để giúp chẩn đoán
nhanh và đủ để loại trừ PĐMN, khi đó chụp mạch DSA có thể không cần chỉ
định thêm. Hơn nữa chụp MDCTA rất có ích xác định vôi hóa, huyết khối
trong PĐMN và giúp quyết định hướng điều trị tốt nhất.
16
1.4.2.3. Chụp cộng hưởng từ
Chụp cộng hưởng từ não (CHT) và mạch não (CHTMN) được sử dụng
ngày càng nhiều trong chẩn đoán PĐMN. Tuy nhiên chụp CHT không phải là
lựa chọn ưu tiên đối với các trường hợp cấp có CMDN, vì khi đó bệnh nhân
Các tư thế khác có thể bổ sung để bộc lộ cổ túi PĐMN rõ nhất. Trước khi chụp
DSA, tất cả các bệnh nhân phải được xét nghiệm đánh giá chức năng thận và các
yếu tố đông máu.
Trên phim chụp mạch não có thể định vị hình dáng, số lượng, xác định
giải phẫu liên quan PĐMN và vòng nối, đường vào can thiệp và đánh giá mức
độ co thắt mạch. Đánh giá tuần hoàn bàng hệ từ ĐM đốt sống thân nền bằng
cách chụp bơm thuốc vào ĐM đốt sống kết hợp ép ĐM cảnh trong quá trình
chụp (Allcock Test), qua đó đánh giá kích thước và tuần hoàn nối từ đoạn P1 của
ĐM não sau và nhánh ĐM thông sau cùng bên với ĐM cảnh được ép. Chẩn
đoán co thắt mạch trên DSA là tiêu chuẩn vàng. Hình ảnh co thắt mạch có đặc
điểm gồm đường kính lòng mạch nhỏ so với đoạn trước và sau nó, thành đều,
vị trí thường ở các mạch lân cận quanh PĐMN, đôi khi thấy co thắt mạch nhỏ
ở phía ngoại vi. [34].
Hình 1.9: Ảnh túi phình đỉnh thân nền trên chụp mạch DSA [3].
18
Tỉ lệ tai biến đột quỵ não khi chụp mạch khoảng dưới 0,5%. Các tai
biến khác gồm: dị ứng thuốc cản quang, suy thận, chảy máu tại nơi chọc. Tai
biến vỡ PĐMN trong quá trình chụp mạch khoảng dưới 3% với các bệnh nhân
có CMDN. Nguy cơ vỡ PĐMN có thể liên quan đầu ống thông trong túi
PĐMN và khi chụp bơm thuốc cản quang qua vi ống thông để đánh giá giải
phẫu mạch đi ra từ túi PĐMN [1].
1.4.2.5. Siêu âm Doppler xuyên sọ
Siêu âm Doppler xuyên sọ ( TCD) là một kỹ thuật không xâm nhập để
đo lường tốc độ dòng chảy của các mạch lớn trong sọ, được áp dụng từ năm
1982 bởi R Aaslid và H Nornes.
Vai trò của TCD được khẳng định để theo dõi và phát hiện co thắt
mạch nội sọ trên bệnh nhân có CMDN. Hình ảnh co thắt mạch có đặc điểm là
̣ điề u tri ̣ có thể bằ ng can thiêp̣ nô ̣i ma ̣ch hoă ̣c
phẫu thuâ ̣t tùy theo tình tra ̣ng cu ̣ thể của mỗi bê ̣nh nhân cũng như kinh
nghiê ̣m và trung tâm chuyên sâu của các bê ̣nh viê ̣n khác nhau.
1.5.2. Điều trị phình động mạch não vỡ [1],[7],[20],[41],[42].
Ngoài các biến chứng do CMDN gây nên, khi PĐMN đã vỡ thì nguy cơ
vỡ tái phát trong 2 tuần đầu rất cao, làm tăng tỉ lệ tử vong và tàn tật lên đến 50%.
Do đó chiến lược điều trị với các PĐMN vỡ là loại trừ PĐMN khỏi vòng tuần
hoàn càng sớm càng tốt bằng can thiệp nội mạch hoặc phẫu thuật kẹp cổ túi
phình, song song với đó việc điều trị nội khoa hồi sức hết sức quan trọng nhằm
điều trị CMDN và giảm biến chứng của nó gây ra.
1.5.2.1. Điều trị nội khoa
Chỉ định
- Điều trị khi nghi ngờ có PĐMN (chưa có bằng chứng PĐMN trên
chụp mạch CLVT, chụp mạch não DSA, chụp mạch CHT).
- Điều trị trong quá trình chờ phẫu thuật, can thiệp nội mạch và sau quá
trình can thiệp nội mạch hoặc phẫu thuật
20
- Điều trị duy trì trong trường hợp bệnh nhân quá nặng không thể can
thiệp hoặc phẫu thuật (Bệnh nhân hôn mê sâu, người già và bệnh phối hợp..)
Phương pháp chung
- Nghỉ ngơi tuyệt đối tại giường, tránh kích thích ánh sáng, tiếng động.
- Điều trị giảm đau, chống phù não (dùng manitol 20% truyền đường
tĩnh mạch), chống vật vã kích thích.
- Kiểm soát thể tích tuần hoàn, chức năng sống còn: truyền dịch, đặt nội
khí quản, thở máy…
- Dự phòng co thắt mạch: dùng Nimotop (Nimodipin) truyền tĩnh mạch.
Thuốc làm giảm nguy cơ co thắt mạch là nguyên nhân gây thiếu hụt thần kinh
khu trú do nhồi máu.
- Mục đích là loại bỏ hoàn toàn PĐMN ra khỏi vòng tuần hoàn hoặc tối
thiểu làm tăng cường độ vững chắc của thành túi PĐMN
- Có 3 phương pháp chính
+ Kẹp cổ túi PĐMN: đây là phương pháp được lựa chọn trước tiên.
Bằng cách đặt 1 hoặc đôi khi nhiều kẹp kim loại để kẹp cổ túi phình.
+ Thắt động mạch mang: chỉ định với các túi PĐMN khổng lồ, túi
PĐMN cổ rộng, và phình hình thoi.
+ Bọc túi PĐMN: khi không kẹp được PĐMN. Mục đích để làm tăng
cường độ vững chắc của thành túi từ đó hạn chế chảy máu tái phát.
- Ưu điểm của phương pháp này cho tỉ lệ tái thông thấp, có thể loại bỏ
phần lớn máu trong khoang dưới nhện bằng cách rửa trong quá trình phẫu
thuật làm giảm tỷ lệ co thắt mạch và tràn dịch não thất, dẫn lưu não thất
khi có tràn dịch não thất trong cùng một thì.
- Nhược điểm: Đây là một phương pháp xâm lấn rộng có ảnh hưởng
nhu mô não nên có tỉ lệ hồi phục thấp và di chứng cao, đặc biệt nếu phẫu
22
thuật sớm trong vòng 4 ngày kể từ khi PĐMN vỡ chảy máu, thường khó khăn
do tình trạng lâm sàng nặng, phù não và có co thắt mạch. Gần đây phẫu thuật
kẹp mạch vi phẫu, mở sọ tối thiểu cũng đã hạn chế nhiều các tổn thương nhu
mô não do phẫu thuật. Tuy nhiên phương pháp phẫu thuật này khó thực hiện
kẹp được cổ túi với các PĐMN có cổ rộng, PĐMN hình thoi hoặc khổng lồ và
PĐMN tại vị trí sâu như tuần hoàn sau.
1.5.2.3. Điều trị can thiệp nội mạch PĐMN vỡ [4],[6],[21],[43].
Các vật liệu can thiệp nội mạch hiện tại
Các vật liệu chính có thể dùng can thiệp nút PĐMN gồm: bóng, VXKL,
giá đỡ lòng mạch (stent).
- Bóng
+ Dùng bóng có thể tách rời được chỉ định chính làm tắc mạch mang.
điều trị các PĐMN đã được mở rộng.
a
b
c
Hình 1.10: Các vật liệu
nút mạch. VXKL hình 2
chiều (A) và hình 3
e
chiều (B). (C) Web, (D)
Bóng tách rời. (E)
GĐNM (Stent) [6]
d
Chỉ định
Đánh giá chỉ định điều trị can thiệp phình động mạch não
Sự kết hợp giữa các nhà điện quang can thiệp, phẫu thuật thần kinh và hồi
sức là rất quan trọng khi đánh giá trước điều trị với các PĐMN. Cần cân nhắc kỹ
tới kỹ năng, kinh nghiệm của các nhà điện quang can thiệp và phẫu thuật thần
kinh, cũng như các lợi ích, rủi ro và khả năng của mỗi giải pháp.
24
- Khả năng can thiệp dựa trên giải phẫu mạch, vị trí PĐMN, hình dáng
phẫu thuật.
Các yếu tố hạn chế can thiệp nội mạch PĐMN.
Hạn chế của can thiệp nội mạch cơ bản liên quan đến hình thái mạch ngoằn
ngoèo và xơ vữa, hướng cổ túi gập đảo ngược với mạch mang, khó xác định cổ túi
với nhánh mạch lân cận hoặc mạch đi ra từ túi, PĐMN nằm vị trí rất xa.
Không can thiệp nội mạch với các bệnh nhân: rối loạn đông máu, dị
ứng hoặc phản ứng nghiêm trọng với thuốc cản quang, suy thận khi có chống
chỉ định dùng thuốc cản quang.
Các phương pháp điều trị can thiệp nội mạch [4], [6], [44], [45],[46]
Điều trị nút trực tiếp PĐMN bằng VXKL
- Chỉ định: các túi PĐMN có cổ hẹp hoặc trung bình với tỉ lệ kích
thước túi/cổ ≥1,5 hoặc từ 1,2-1,5.
- VXKL được đưa vào trong túi PĐMN qua vi ống thông, cho đến khi
túi phình tắc hoàn toàn không còn dòng chảy bên trong. VXKL ban đầu như
là khung giá bao phủ thành và cổ túi PĐMN, các vòng xoắn kim loại tiếp theo
được chọn nhỏ dần để lấp đầy PĐMN.
Tránh chọn các VXKL có kích thước to quá nhiều so với túi PĐMN vì
sẽ khó cuộn trong túi và dễ gây các tai biến như rách túi phình.
Trước khi tiến hành cắt VXKL nên kiểm tra kỹ trên chụp mạch để tránh
thò VXKL vào trong lòng mạch gây tai biến tắc mạch.
Điều trị nút PĐMN bằng VXKL có đặt bóng bảo vệ.
- Chỉ định: với các túi PĐMN có cổ rộng với tỉ lệ kích thước túi/cổ