SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GD&ĐT THỌ XUÂN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO
GIÚP ĐỠ HỌC SINH CHƯA HOÀN THÀNH MÔN TOÁN LỚP 4
Người thực hiện :
Lê Thị Tuyết
Chức vụ
:
Phó Hiệu trưởng
Đơn vị công tác : Trường Tiểu học Xuân Bái - Thọ Xuân
SKKN thuộc lĩnh vực(môn): Toán
THANH HÓA NĂM 2017
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.
LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong chương trình Giáo dục Tiểu học, các môn học nói chung và môn Toán nói
riêng có vai trò hết sức quan trọng trong việc hình thành trí tuệ và nhân cách con
người. Các kiến thức, kĩ năng của môn Toán ở Tiểu học có nhiều ứng dụng
trong đời sống; rất cần thiết để học tốt các môn học khác ở Tiểu học và chuẩn bị
cho việc học tốt môn Toán ở bậc trung học. Môn Toán góp phần rất quan trọng
trong việc rèn luyện cho học sinh tính độc lập, linh hoạt, sáng tạo cùng với
phương pháp suy nghĩ, giải quyết vấn đề, góp phần phát triển trí thông minh. Ở
bậc học tiểu học được chia thành 5 khối lớp, các kiến thức Toán học được làm
quen và nâng cao dần về độ khó về kiến thức cũng như kĩ năng. Có thể nói,
lí giáo dục các cấp kịp thời chỉ đạo các hoạt động giáo dục, đổi mới phương
pháp dạy học, phương pháp đánh giá nhằm đạt hiệu quả giáo dục. Với tinh thần
2
của thông tư và trách nhiệm của người thầy bản thân tôi luôn trăn trở, suy nghĩ
làm sao để nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh Tiểu học nói chung và
học sinh lớp 4 nói riêng. Là một phó Hiệu trưởng phụ trách chuyên môn, tôi đã
tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân vấn đề và đưa ra những giải pháp góp phần
nâng cao chất lượng môn Toán lớp 4, đồng thời giảm tối thiểu học sinh chưa
hoàn thành môn Toán ở khối lớp này với đề tài nghiên cứu: “Một số biện pháp
chỉ đạo giúp đỡ học sinh chưa hoàn thành môn Toán lớp 4”
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Nghiên cứu SGK để nắm được nội dung chương trình trên cơ sở lí luận thực
tiễn nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy môn Toán lớp 4.
- Từ đó tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân làm cho chất lượng hoàn thành
môn học của học sinh chưa cao.
- Đưa ra một số biện pháp khắc phục những hạn chế khi nắm kiến thức
chuẩn của học sinh khi học môn Toán .
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
- Đối tượng: Học sinh lớp 4 trường Tiểu học.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1. Phương pháp chính.
- Nghiên cứu lý luận
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp thu thập thông tin
- Phương pháp khảo sát, thống kê
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp thực nghiệm.
trúc chương trình môn Toán tập trung vào các nội dung có tính khái quát, tính hệ
thống cao hơn, khá trừu tượng hơn. Đòi hỏi học sinh phải nỗ lực rất nhiều mới
có thể lĩnh hội được kiến thức. Mặt khác, thực tiễn còn cho thấy việc lĩnh hội
kiến thức Toán học của học sinh ở lớp 4 chưa hiệu quả vì đa số học sinh lớp 4
nói riêng và học sinh cuối Tiểu học nói chung chưa thực sự hứng thú với môn
Toán. Hơn nữa việc học Toán chỉ gói gọn trong chương trình học trên lớp, trong
những bài toán cơ bản của sách giáo khoa khiến cho các em thấy môn học này
còn quá gò bó và khô khan,chưa khơi gợi hứng thú học tập và kích thích được
tính sáng tạo của các em.
2.2 THỰC TRẠNG VẪN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
Qua quá trình quản lí và theo dõi chất lượng đại trà của toàn trường, tôi nhận
thấy rằng, cũng lứa, đối tượng học sinh đó nhưng chất lượng môn Toán lớp giảm
nhiều so với khi các em học lớp 2, lớp 3. Năm học 2013- 2014, kết quả bài kiểm
tra định kỳ các em ( 96 em) ở khối lớp 3 như sau:
Bài kiểm tra kỳ I( lần 2) khối lớp 3
9-10
7-8
5-6
chưa chú ý và tập trung vào bài giảng của giáo viên. Một số em thì học vẹt,
không có khả năng vận dụng kiến thức để thực hành tính, kĩ năng giải toán.
Đối tượng các em này thường không thực hiện được kĩ năng tính, nhất là
gặp rất nhiều khó khăn khi nhân ( chia ) với ( cho ) số có nhiều chữ số, hay lẫn
dạng và chưa phân được cách giải các dạng toán có lời văn mới được dạy trong
chương trình (Toán TBC, Toán về Tìm hai số khi biết Tổng và Hiệu , Tổng và tỉ
số, Hiệu và Tỉ số), vệc nhận dạng các hình hình học hay kĩ năng chuyển đổi các
đơn vị đo lường còn chậm...
c. Về phía giáo viên
Với 3GV/3 lớp , BGH đã chọn các đồng chí có trình độ trên chuẩn và đã đạt
giáo viên giỏi cấp huyện trở lên, các giáo viên được phân công dạy lớp 4 đa số
có kiến thức và kĩ năng sư phạm tương đối tốt. Tuy nhiên, về phía giáo viên, tôi
thấy còn một số hạn chế như sau:
+ Do khối lượng kiến thức môn Toán lớp 4 khá nặng bởi nhiều dạng kiến thức
mới được đưa vào chương trình, nên việc hiểu sách và truyền đạt lại cho tất cả
học sinh nắm được kiến thức thì không phải giáo viên nào cũng làm được, đặc
biệt là hình thành cho các em chia cho số có nhiều chữ số, hay giúp các em phân
biệt được các dạng toán có lời văn và giải tốt các dạng toán đó.
+ Có giáo viên với đối tượng học sinh chưa hoàn thành đôi lúc chưa sát
sao và phối hợp với gia đình trong việc hướng dẫn ôn bài cho các em còn hạn
chế.
+ Giải pháp tâm lí cũng như sự động viên, khuyến khích, tuyên dương kịp
thời những học sinh có kết quả môn Toán chưa tốt nên tiết toán trở nên nặng nề
với các em..
d. Về phía phụ huynh học sinh.
Qua tìm hiểu, nghiên cứu, ngoài những học sinh còn chưa hoàn thành
môn Toán lớp 4 có 1 em khiếm khuyết về trí tuệ, còn đa số các em còn lại đều
thuộc vào những gia đình có hoàn cảnh khó khăn, không quan tâm đến việc học
của con, hoặc những gia đình quan tâm thì bố mẹ lại không có kiến thức để giúp
học sinh cảm thấy rằng nếu mình tập trung, chịu khó học tập thì sẽ thu lượm
được những kết quả tốt đẹp có ích cho bản thân, vừa lòng thầy cô, cha mẹ. Đặc
thù của việc học môn toán đòi hỏi có các đức tính cần cù, chịu khó, tỉ mỉ, nhẫn
nại, thẩm mĩ,… nhưng học sinh tiểu học do tâm lý lứa tuổi thường hay phân tán
sự tập trung, chóng chán. Hoạt động gợi nhu cầu nhận thức, gây hứng thú môn
học có thể được sử dụng linh hoạt trong quá trình giảng dạy. Không nhất thiết,
đơn thuần chỉ sử dụng ngay đầu tiết dạy.
Thứ ba: Cá biệt hoá từng đối tượng học sinh cần giúp đỡ :
Nhận thức là hoạt động trí tuệ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố mà hình
thức thể hiện của nó là khả năng tiếp thu. Khả năng tiếp thu lại phụ thuộc vào
nhiều yếu tố môi trường. Xây dựng môi trường riêng cho mỗi cá nhân trong giờ
học có vai trò quan trọng trong việc giúp các em lĩnh hội các kiến thức bài học.
Ta đã biết học là hoạt động đơn phức của hoạt động trí óc. Do đó giáo viên cần
nắm thật vững, thật cụ thể lực học của từng cá nhân trong tập thể lớp để từ đó
xây dựng môi trường riêng, cách hướng dẫn riêng cho cá nhân trong hoạt động
nhận thức tiếp thu bài.
Ví dụ: + Học sinh K có thị lực yếu, cần bố trí vị trí ngồi hợp lý trong lớp để em
nhìn rõ thuận tiện cho quá trình học tập.
+ Học sinh S ham chơi, khả năng tiếp thu chậm thì cần bố trí chỗ ngồi
gần bảng gần bàn giáo viên ở dãy trong để giáo viên thuận lợi hơn trong việc
kèm cặp, giúp đỡ.
Bên cạnh đó giáo viên phải chuẩn bị hệ thống câu hỏi phụ nhiều hơn, chi
tiết hơn để gợi ý hướng dẫn các em từng bước khi thực hiện để hoàn thành bài
tập nên những em trong diện được chú ý đặc biệt cần được sắp xếp chỗ ngồi
thuận lợi phù hợp cho cả thầy và trò..
Thứ tư: Nâng cao ý thức trách nhiệm cho giáo viên trong việc nâng bậc học
sinh chưa hoàn thành môn học nói chung và môn Toán 4 nói riêng.
Việc bồi dưỡng học sinh có năng khiếu môn học hay giúp đỡ học sinh
chưa hoàn thành là việc làm thường xuyên của mỗi giáo viên trong trường song
việc bồi dưỡng học sinh năng khiếu nhất là môn Toán lại được giáo viên và gia
môn Toán, đa số các em quên kiến thức ở lớp dưới . Vì vậy giáo viên
cần quan tâm, phát hiện , phân loại những kiến thức đã mất của các
em. Có học sinh chưa thuộc bảng cửu chương, nhân (chia) chưa
thành thạo với (cho) số có một chữ số, cũng có học sinh kĩ năng trừ
nhẩm chưa tốt, hay có em hay mắc lỗi về giải toán có lời văn, nhất là
bài toán có nhiều lời giải....
Phát hiện những thiếu hụt kiến thức đó, giáo viên tập trung xây dựng
những bài tập phù hợp để cho các em luyện tập thêm trong các buổi
tăng. Các bài tập này cần thiết cho học sinh vì vậy phải kịp thời,
đúng thời điểm và chủ yếu trong thời gian đầu năm học.
Trước khi dạy cho các em kĩ năng nhân (chia) với ( cho ) số có hai, ba
chữ số thì giáo viên cần xem trong lớp những em nào còn chưa thuộc
bảng cửu chương, chưa nhân ( chia ) thành thạo với ( cho ) số có một
chữ số hay chưa trừ nhẩm thành thạo thì cần có bài tập để lấp những
lỗ hổng kiến thức này. Vì vậy với những em chưa hoàn thành giáo
viên chuẩn bị thêm một số bài nhằm ôn lại kiến thức cũ của lớp dưới :
Ví dụ1 :
Bài 1: Tính nhẩm:
8
8 × 8 = ............
6 × 8 = ............
54 : 9 = ...............
56 : 7 = ............
42 : 7 = ...........
64 : 8 = ................
Bài 2: Đặt tính rồi tính
653 + 46
thời cần quan sát, linh hoạt trong việc tìm thừa số chia hết cho số chia. Những
học sinh có tư duy tốt, các em sẽ làm rất nhanh dạng này. Nhưng với học sinh
chưa hoàn thành, học sinh sẽ vận dụng cách làm đơn thuần là: nhân hai thừa số
với nhau được kết quả chia cho số chia. Vì vậy giáo viên các em hoàn thành
được bài tập trên sự định hướng ban đầu của giáo viên như sau:
+ Yêu cầu học sinh nêu lại ghi nhớ khi chia một tích hai thừa số cho một số ta làm
thế nào?
+ Giúp học sinh nhận diện thừa số nào chia hết được cho 9.
+ HS lúc này sẽ làm hiểu và làm được :
(25 x 36) : 9 = 25 x (36 : 9) = 25 x 4 = 100
9
* Khi học về phép cộng phân số có vận dụng tính chất kết hợp vào cách tính
thuận tiện của bài 4 trang 132 phần luyện tập.
Bài 4: Tính bằng cách thuận tiện:
12
19
8
+
+
17
17
17
12
8
19
= (
+
. Tìm hai số đó.
7
Đối với đa số học sinh, chỉ cần dựa vào bài giảng của giáo viên các em có
thể hoàn thành ngay được bài giải. Song thực tế, vì đây là bài thực hành đâu
tiên, nên để học sinh chưa hoàn thành hiểu rõ bản chất và giải luôn được các bài
tập này là việc làm rất khó khăn. Chính vì vậy, để giúp các em hoàn thành được,
giáo viên cần biến đổi thành các bài tập phù hợp vào phiếu như sau:
Bài 1: Tổng của hai số là 333, Tỉ số của hai số là
2
. Tìm hai số đó.
7
Hãy điền vào chỗ trống để hoàn thiện bài giải:
?
Bài giải
Ta có sơ đồ: Số bé:
Số lớn:
?
.......
Tổng số phần bằng nhau là:
..................................................
.................................................
.................................................
..................................................
.................................................
................................................
năng này, học sinh được học chia một tổng cho một số trước, với cách
tính được hướng dẫn như sau: Khi chia một tổng cho một số, nếu các số
hạng của tổng chia hết cho số chia thì ta có thể chia từng số hạng cho số
chia, rồi cộng các kết quả tìm được với nhau.
Ví dụ : Tính: ( 15 + 35 ) : 5
Ngoài cách tính thông thường là trong ngoặc trước, học sinh thực hiện cách thứ
hai như sau:
(15 + 35 ) : 5 = 15 : 5 + 35 : 5 = 3 + 7 = 10
Nhưng đến khi học bài Chia một tích cho một số, nếu học sinh gặp dạng toán :
Tính theo hai cách : ( 15 × 35 ) : 5 thì không chỉ học sinh chưa hoàn thành đã làm
cách thứ hai như sau:
( 15 × 35 ) : 5 = 15 : 5 × 35 : 5 = 3 × 7 = 35 ( sai)
Như vậy, học sinh đã nhầm lẫn hai kiến thức này với nhau, áp dụng sai
kiến thức này cho kiến thức kia. Chính vì vậy, giáo viên cần linh hoạt,
ngoài ôn tập riêng mỗi dạng, giáo viên còn nên ra thêm hai dạng này cùng
một lúc để các em nhận biết, phân biệt rõ hơn hai dạng kiến thức này. Để
giải quyết việc lẫn dạng ba dạng toán quan trọng của chương trình Toán 4
đó Tìm hai số khi biết Tổng và Hiệu, Tổng và tỉ số, Hiệu và Tỉ số, giáo
viên cũng nên đưa ra cả ba dạng bài trong một tiết học (ở các tiết ôn tập
chung, buổi 2). Yêu cầu các em đọc kĩ từng bài, phân biệt từng dạng rồi
mới cho các em giải.
11
5.3. Vận dụng linh hoạt các kiến thức, kĩ năng trong chương trình để
học sinh chưa hoàn thành đạt được yêu cầu tối thiểu.
Trong chương trình Toán 4, các mạch kiến thức thức được mở rộng dần và
ngày càng nâng cao về độ khó. Chính vì vậy, đối với những học sinh chưa
hoàn thành, rất cần sự linh hoạt của giáo viên khi hình thành kiến thức và
...? tuổi
Bài giải
Hai lần tuổi con là: 58 - 38 = 20 ( tuổi)
Số tuổi của con là: 20: 2 = 10 ( tuổi)
Số tuổi của bố là: 58 - 10 = 48 ( tuổi )
Đáp số : Con: 10 tuổi
Bố: 48 tuổi
( Hoặc hs có thể tính 2 lần tuổi bố trước )
Như vậy, so với cách thông thường, ta đã thêm bước giải ( Tính hai lần số
bé hoặc 2 lần số lớn ) để học sinh chưa hoàn thành hình dung rõ ràng từng
12
bước giải. Đến khi các em thành thạo, hiểu vấn đề thì giáo viên mới cho
học sinh làm gọn lại như cách của các bạn học sinh khác.
Với mỗi đối tượng học sinh, giáo viên có những định hướng khác nhau
khi làm bài tập. Nhất là với học sinh chưa hoàn thành, cần chọn hướng
tìm cách giải mà các em dễ hiểu nhất ( dù cách giải có hơi dài dòng), để
các em có thể giải quyết được các bài tập theo yêu cầu của tiết học.
Ví dụ 2: Một mảnh đất hình chữ nhật có tổng độ dài hai cạnh liên tiếp bằng
307m, chiều dài hơn chiều rộng 97m.
a,Tính chu vi mảnh đất đó?
b, Tính diện tích mảnh đất đó? (Bài tập 3 trang 85 Toán lớp 4).
Với dạng này cần hướng dẫn học sinh từng bước như sau:
Bước 1: Học sinh đọc kĩ để toán và trả lời:
- Bài toán cho biết gì? Bài toán yêu cầu tìm gì?
- Tính được chu vi và diện tích mảnh đất hình chữ nhật đó ta cần phải biết điều
kiện nào?
Bước 2: Tìm tòi cách giải của bài toán:
Diện tích hình chữ nhật
=
chiều dài
× chiều rộng
↓
Chu vi hình chữ nhật
=
(chiều dài + chiều rộng)
×
2
↓
||
||
Cạnh
=
307
(307 - 97) : 2
Sau khi học sinh đã biết cách phân tích bài toán trước lúc giải một bài toán có
lời văn giáo viên yêu cầu mỗi học sinh tự lập sơ đồ cách giải vào giấy nháp rồi
giải bài toán.
Bước 3: Hướng dẫn thực hiện cách giải bài toán:
Hướng dẫn học sinh nhìn sơ đồ để trình bày hoàn chỉnh bài giải: Tìm đủ điều
kiện bài toán rồi mới tìm yêu cầu)
Bài giải:
a, Chiều rộng của mảnh đất là:
(307 – 97) : 2 = 105 (m)
Chiều dài của mảnh đất là:
307 – 105 = 202 (m)
tha và độ lương nhất là sự bình tĩnh mỗi thầy cô giáo đứng trên bục giảng.
Với đa số học sinh, chỉ cần giảng bài mới, quan sát thầy cô thực
hiện là các em có thể tự độc lập làm bài. Song đối với học sinh này, mất
nhiều thời gian hơn thế. Qua nghiên cứu, tham khảo, rút kinh nghiệm từ
chính quá trình dạy học của mình trước kia, tôi đã trao đổi với giáo viên
dạy khối 4 về các bước, các giai đoạn để một học sinh chưa hoàn thành
nắm bắt dược kiến thức và hình thành các kĩ năng cần phải thực hiện , đó
là:
- Giai đoạn 1: Lắng nghe, quan sát, tiếp thu kiến thức: Đây là giai đoạn quan
trọng, qua ví dụ cụ thể, học sinh rút ra cách tính, cách giải chung. Với học
sinh chưa hoàn thành, việc lắng nghe, quan sát một lần chưa đủ. Các kiến
thức cần chốt, cần hình thành ở tiết học nên cho học sinh chưa hoàn thành
nhắc lại ( thậm chí nhiều lần) để đánh thức ghi nhớ, để áp dụng vào thực
hành luyện tập.
- Giai đoạn 2: Làm theo hướng dẫn của giáo viên hoặc của bạn: Phần này.
học sinh bước đầu vận dụng hiểu biết của mình vào thực hiện tính hoặc
giải toán. Đối với học sinh chưa hoàn thành, các em thường vẫn còn lúng
túng, do học sinh chưa nhớ, chưa hiểu sâu sắc. Chính vì vậy, rất cần sự
tiếp sức của giáo viên hay sự giúp đỡ của bạn cùng nhóm. Hướng dẫn ở
đây không phải là làm thay, mà là gợi ý, định hướng để các em có thể tự
tin làm bài tập. Tùy theo dạng bài tập, sự nắm bắt kiến thức của học sinh
trong tiết học đó mà giáo viên có sự hỗ trợ phù hợp.
- Giai đoạn 3: Tự làm theo mẫu
Các bài tập làm theo mẫu ở Tiểu học nói chung và Môn Toán lớp 4 nói
riêng không phải ít. Những bài tập này, giáo viên tạm đứng ngoài cuộc để quan
sát học sinh độc lập thao tác. Học sinh nào hiểu bài thì có thể hoàn thành được
bài tập, học sinh nào chưa hiểu bài sẽ còn lúng túng. Thông qua giai đoạn này,
giáo viên có thể nắm bắt được việc học tập cũng như mức độ hiểu bài của cả lớp
và từng cá nhân, từ đó đề ra biện pháp thích hợp cho từng đối tượng.
- Giai đoạn 4: Độc lập làm bài tập.
- Những học sinh chưa hoàn thành do gia đình không quan tâm, không có đủ
sách vở, đồ dùng học tập thì lại rất cần đến sự phối hợp giữa nhà trường
và gia đình nhiều hơn, sự hỗ trợ của nhà trường, của giáo viên tạo điều
kiện tốt nhất cho các em học tập.
6.2. Về đổi mới phương pháp học của học sinh.
Một trong những lí do dẫn đến nhiều học sinh hiệu quả học chưa cao là
phương pháp học chưa tốt, chưa khoa học. Với riêng môn Toán lớp 4, qua
tìm hiểu, với những đối tượng học sinh chưa hoàn thành, thường vấp ngay
từ những bước đầu tiên. Ví dụ khi thực hiện cộng , trừ số có nhiều chữ số,
các em đã sai ngay từ bước đặt tính. Hay thực hiện phép nhân, chia thì
ước lượng thương không đúng. Khi thực hành giải toán thì kĩ năng phân
biệt giữa các dạng toán ( Tìm hai số khi biết Tổng và Hiệu, Tổng và tỉ số,
Hiệu và Tỉ số), kĩ năng phân tích đề bài cũng chậm). Đa số học sinh chưa
hoàn thành thường không đọc kỹ yêu cầu cũng như các dữ kiện của bài
toán đã cho, vội vàng làm bài khi chưa xác định được bài toán cần tìm
gì... Số học sinh của đối tượng này lại không chăm học, thiếu ý chí..
Muốn các em tiến bộ, điều đầu tiên, giáo viên phải làm cho các em hứng
thú với môn học. Điều này tùy thuộc vào phương pháp và định hướng của
giáo viên ( như đã trình bày ở các mục trên). Tiếp đến là dạy cho các em
cách học như thế nào cho hiệu quả. Khi chỉ đạo họp tổ chuyên môn với
khối 4, bàn về việc nâng bậc học sinh , tôi đã chỉ đạo cho các giáo viên có
học sinh chưa hoàn thành môn Toán cần dạy cho các em cách học phù
hơp:
- Trước khi thực hành làm bài tập, các em cần nhớ được các bước thực hiện
phép tính, các bước giải từng dạng toán, các công thức tổng quát thể hiện
tính chất giao hoán, tính chất kết hợp...
- Khi thực hành, cần đọc kĩ yêu cầu, nhất là với toán có lời văn, phải phân biệt
được dạng toán, xác định cái gì đã cho, cái gì cần tìm.
16
chất được giáo viên giới thiệu và tập thể công nhận. Đổi mới của thông tư
đã khuyến khích, động viên các em luôn cố gắng học tâp. Đồng thời giúp
các thầy cô mạnh dạn , tự tin, nhiệt huyết hơn trong hành trình giúp các
em chưa hoàn thành khám phá, ghi nhớ tri thức môn Toán nói chung và
Toán lớp 4 nói riêng ngày một tiến bộ nâng bậc.
Thứ tám:Ban giám hiệu thực hiện nghiêm túc việc chỉ đạo, triển khai, kiểm
tra, đánh giá kết quả giúp đỡ học sinh chưa hoàn thành.
- Đối với học sinh khối 4, là khối mà Ban giám hiêu nhà trường nhìn thấy rõ
chất lượng nói chung và chất lượng môn Toán nói riêng nên luôn giám sát
và quan tâm hơn.Tôi đã dự sinh hoạt chuyên môn cùng với khối, nắm số
lượng học sinh chưa hoàn thành, lập kế hoạch và định hướng cho giáo
viên về việc lập kế hoạch giúp đỡ, xây dựng các bài tập, hệ thống câu hỏi
tìm bước giải phù hợp với đối tượng học sinh này, các giải pháp tâm lí,
phương pháp dạy học phù hợp, việc xây dựng các đôi bạn cùng tiến ... để
giáo viên tiến hành thực hiện giúp đỡ học sinh một cách hiệu quả.
17
- Việc kiểm tra chất lượng học sinh chưa hoàn thành hàng tháng diễn ra thường
xuyên và nhiều hình thức: làm bài kiểm tra kiến thức; dự giờ quan sát các
họat động của các em trong các tiết học Toán. Nhà trường trường cũng
đánh giá sự tiến bộ của các em thông qua các bài kiểm tra định kì. Kết quả
kiểm tra cũng là sự phản hồi, đánh giá sự cố gắng của giáo viên trong
công tác giúp đỡ các em, góp phần hạn chế tối đa học sinh chưa hoàn
thành môn Toán lớp 4.
Thứ chín: Phối hợp với phụ huynh học sinh để cùng kèm cặp, giúp đỡ con
em.
- Sự phối hợp với phụ huynh học sinh trong tất cả các hoạt động của nhà trường
nói chung, giúp đỡ học sinh chưa hoàn thành nói riêng là việc làm thường
7-8
5-6
học sinh chưa hoàn thành môn Toán lớp 4 đã có nhiều tiến bộ. Tất nhiên,
không phải toàn bộ học sinh chưa hoàn thành đều được nâng bậc, nhưng
các em đã nhanh hơn, tự tin hơn các khóa học trước và một điều mừng đó
là chất lượng môn Toán đạt được ở lớp 3 khi lên lớp 4 đã được duy trì và
từng bước được phát huy nâng dần mức độ. Hơn thế nữa, giáo viên dạy
khối 4 cũng đã có một định hướng phù hợp để giúp học sinh chưa hoàn
thành môn Toán 4 nắm được kiến thức của chương trình, giúp các em
hoàn thành môn học một cách thuyết phục. Tôi thiết nghĩ, việc dạy học
nói chung và việc dạy đối tượng học sinh chưa hoàn thành nói riêng, cần
đến cái tâm của người làm thầy hơn bao giờ hết. Bản thân tôi, tuy không
trực tiếp đứng lớp, song tôi đã luôn đồng hành với các giáo viên trong nhà
trường trong các hoạt động dạy học, nhất là trong việc giúp đỡ học sinh
năng khiếu cũng như học sinh chưa hoàn thành môn học. Có thể, các giải
pháp mà tôi đưa ra chưa thực sự tối ưu, nhưng qua quá trình chỉ đạo và
triển khai, các giải pháp trên đã phần nào đã định hướng được cho giáo
viên hướng nâng bậc học sinh chưa hoàn thành môn Toán lớp 4 và đã có
những kết quả bước đầu.
PHẦN III: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Qua quá trình giảng dạy, trao đổi kinh nghiệm, nghiên cứu lý luận và tìm
hiểu thực tiễn. Tôi đã đề xuất một số giải pháp phù hợp với đặc điểm nhận thức
của học sinh Tiểu học để giúp đỡ các em chưa hoàn thành môn toán lớp 4 đạt
hiệu quả môn học. Tôi đã rút ra những bài học kinh nghiệm cho chính bản thân
mình khi chỉ đạo, triển khai các biện pháp giúp học sinh chưa hoàn thành môn
Toán lớp 4, đó là:
+ Mỗi một môn học, mỗi một bài học, mỗi một tiết học đều có một sắc thái, một
đặc điểm riêng, đòi hỏi một phương pháp riêng phù hợp với nó. Vì vậy, ngoài
những phương pháp chung đã được sách in thành chương, thành mục, mỗi thầy
cô cần xây dựng cho mình một phương pháp dạy học riêng.
Để nâng cao hiệu quả giảng dạy của giáo viên, đồng thời nâng cao chất
lượng học tập của học sinh, giúp các em nắm vững phương pháp giải toán nói
chung và phương pháp giải toán hợp nói riêng, tôi xin đề xuất một số ý kiến sau:
Đối với giáo viên:
+ Người giáo viên phải tìm ra những phương pháp dạy tích cực, phù hợp với
năng lực của học sinh. Giáo viên không nên làm thay, nói thay cho học sinh.
+ Giáo viên phải phân loại được đối tượng học sinh trong lớp, đặc biệt quan tâm
đến học sinh chưa hoàn thành, phải làm cho mọi học sinh trong lớp đạt chuẩn
kiến thức, kĩ năng cơ bản đồng thời chú ý đến đối tượng học sinh thường hoàn
thành Tốt để các em không thấy nhàm chán vì bài học quá dễ. Giáo viên chỉ là
người hướng dẫn, giúp đỡ học sinh tự đi tìm kiến thức và lĩnh hội kiến thức đó
dưới những phương pháp tích cực nhất của mình, có như thế giờ học toán mới
đem lại hiệu quả như mong muốn.
Đối với lãnh đạo:
- Ban giám hiệu nhà trường nên tổ chức cho giáo viên được dự nhiều tiết dạy
Toán, Chuyên đề môn Toán ở những buổi thao giảng, sinh hoạt chuyên môn phát
huy hiệu quả việc học hỏi trao đổi kinh nghiệm trong giảng dạy trong đồng
nghiệp.
- Những sáng kiến kinh nghiệm được đánh giá cao ở các cấp nên được phổ biến,
áp dụng rộng rãi để phát huy tích cực về hiệu quả áp dụng thực tiễn. Qua đó
giúp thầy cô học tập vân dụng vào quá trình giảng dạy, từng bước nâng cao
20
chuyên môn nghiệp vụ cũng như phương pháp dạy học toán Tiểu học nói chung
và môn Toán lớp 4 nói riêng.
Trên đây là một số biện pháp mà tôi đã thực hiện thành công chỉ đạo giáo
viên thực hiện trong quá trình giảng dạy môn Toán ở lớp 4. Tôi kính mong được
Hội đồng Khoa học các cấp đánh giá và góp ý để đề tài được hoàn chỉnh hơn.
4. Phương pháp nghiên cứu
2
PHẦN II :
NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
3
2.2 Thực trạng của vấn đề.
3
2.3. Các giải pháp thực hiện
5
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
17
21
PHẦN III : KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
18
TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả:
Lê Thị Tuyết
Chức vụ và đơn vị công tác:
Phó hiệu trưởng trường Tiểu học Xuân Bái.
TT
1.
2.
3.
4.
5.
6
Tên đề tài SKKN
Một số biện pháp giúp HS luyện
Cấp đánh
Kết quả
Năm học
giá xếp loại đánh giá xếp
đánh giá
(Phòng, Sở, loại (A, B,
xếp loại
Tỉnh...)
hoặc C)
PGD huyện
2005- 2006
C
2010- 2011
B
2012- 2013
C
2012- 2013
23
7
dự giờ lên lớp.
Một số biện pháp chỉ đạo giáo
viên hướng dẫn học sinh lớp 2 giải
8
toán bằng sơ đồ đoạn thẳng.
Một số biện pháp chỉ đạo giúp đỡ
học sinh chưa hoàn thành môn