SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO YÊN ĐỊNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY CÁC LOẠI TỨ GIÁC
TRONG MÔN HÌNH HỌC 8 THÔNG QUA PHƯƠNG
PHÁP THẢO LUẬN NHÓM
Người thực hiện: Lê Xuân Thường
Chức vụ:
Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường TH và THCS Yên Phú
SKKN thuộc lĩnh vực:
Toán học
YÊN ĐỊNH, NĂM 2017
Mục
I.
1.
2.
3.
4.
5.
II.
1.
2.
2.1.
2.2.
Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Thuận lợi
Khó khăn
Những kinh nghiệm và các giải pháp đã sử dụng để giải quyết
vấn đề.
Phương pháp dạy học thảo luận nhóm
Vai trò của giáo viên, nhóm trưởng, các thành viên
Những chuẩn bị cần thiết
Quá trình thực hiện
Vận dụng phương pháp thảo luận nhóm vào dạy học các loại tứ
giác
Dạy học định nghĩa, tính chất.
Dạy học dấu hiệu nhận biết.
Dạy học cũng cố, vận dụng
Dạy học hệ thống bài tập, khai thác, lấp lổ hổng kiến thức
Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với các hoạt động giáo
dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Đối với các hoạt động giáo dục; với đồng nghiệp và nhà trường
Số liệu thống kê thực tế
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
Kết luận.
Ưu điểm:
Nhược điểm:
Giải pháp để kích thích quá trình tham gia thảo luận
Kiến nghị và đề xuất.
Tài liệu tham khảo.
Trang
1
20
2
I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Sự phát triển xã hội và đổi mới đất nước đòi hỏi cấp bách phải nâng cao
chất lượng giáo dục và đào tạo. Do đó cần có sự đổi mới về nội dung và đổi mới
về phương pháp từ đó nâng cao được chất lượng giáo dục đào tạo, đáp ứng yêu
cầu của phát triển xã hội.
Trong các bộ môn ở THCS môn toán có vai trò rất quan trọng trong giáo
dục phổ thông nó góp phần phát triển các năng lực trí tuệ như: óc quan sát, khả
năng so sánh, tương tự, khái quát hóa..., ngoài ra nó còn rèn luyện tính cẩn thận,
tính khoa học tính kỷ luật và còn là công cụ góp phần dạy học các môn học
khác. Tuy nhiên do tính trừu tượng, tính logic nên trong thực tế nhiều học sinh
rất ngại học toán và đặc biệt là ngại học môn hình học từ đó dẫn đến tình trạng
học sinh học yếu hình học và ngại học môn hình học. Nhiều học sinh có tư
tưởng “sợ hình” nên không có hứng thú với bộ môn. Do tính trừu tượng cao kiến
thức nhiều cùng với các phương pháp dạy học truyền thống không làm cho học
sinh có hứng thú, cũng như nhiều giáo viên chỉ chú trọng đến lí thuyết trừu
tượng, chỉ chú trọng khả năng suy luận logic, khả năng chứng minh các bài toán,
mà chưa chú tâm đến các vấn đề khác như khả năng quan sát, dự đoán, so sánh...
và các liên hệ thực tế của bộ môn hình học nên làm học sinh chán nản không
thích hình học.
Để góp phần giải quyết phần nào những khó khăn nói trên, tôi xin trình
bày những nghiên cứu về “Nâng cao chất lượng dạy học các loại tứ giác trong
môn hình học 8 thông qua phương pháp thảo luận nhóm” của tôi và xin đề
xuất một số biện pháp bước đầu nhằm mục tiêu là góp phần nhỏ bé của mình với
đồng nghiệp còn đang trăn trở để tìm ra cho bản thân mình những phương pháp
dạy chương tứ giác” vào giảng dạy ở trường THCS, từ đó đã góp phần nâng
cao được chất lượng bộ môn. Tuy nhiên trong thực tế giảng dạy tôi thấy một số
học sinh còn chưa nhiệt tình, chưa hào hứng tham gia học tập, một số học sinh
yếu còn ỷ lại chưa chịu học, một số học sinh khá giỏi chưa được tạo điều kiện
để phát triển các năng lực tư duy, học sinh chưa giúp đỡ được nhau trong học
tập, không khí học tập còn chưa sôi nổi, để khắc phục các nhược điểm trên
những năm gần đây tôi đã nghiên cứu thêm và đưa ra ý tưởng đưa phương pháp
“thảo luận nhóm” vào dạy học các loại tứ giác. Do đó những nhược điểm trên
đã được khắc phục phần nào, các em hào hứng tham gia học tập, không khí lớp
học sôi nổi, các em được tạo điều kiện để phát triển, và giúp đỡ nhau từ đó tình
bạn được gắn kết.
4
II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
- Phương pháp thảo luận nhóm được hình thành từ môi trường đại học của
nhiều nước tiên tiến trong đầu thập niên 70 của thế kỉ trước. Dần dần, phương
pháp làm việc theo nhóm nhỏ được áp dụng rộng rãi như ngày nay.
- Khi thay sách giáo khoa lớp 6 (năm 2001) phương pháp thảo luận nhóm
được giới thiệu và bồi dưỡng cho giáo viên THCS.
- Trong số các phương pháp dạy học đang sử dụng, phương pháp thảo
luận nhóm có nhiều ưu thế trong thực hiện mục tiêu giáo dục hiện nay, tránh
được lối học thụ động trên lớp, giáo viên thường đưa ra nhiều biện pháp để kích
thích khả năng tư duy và sáng tạo của học sinh.
- Có thể nói, mô hình thảo luận nhóm sẽ giúp cho học sinh cố gắng tìm
hiểu và phát biểu trong nhóm của mình để trình bày cho cả lớp, đồng thời tinh
thần hợp tác trong nhóm sẽ được phát huy và hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành
viên trong nhóm.
2.2. Khó khăn
- Đây là phương pháp dạy mới áp dụng gần đây nên học sinh không tránh
khỏi lúng túng trong một số kĩ năng, nội dung kiến thức, …
- Nội dung kiến thức môn Toán bậc THCS khó, khô khan, đặc biệt là
nhiều khái niệm mới ở môn hình học lớp 8, nên giáo viên còn gặp nhiều khó
khăn bởi vì học sinh còn lúng túng chưa quen với phương pháp này.
- Là phương pháp đòi hỏi giáo viên phải có nhiều kĩ năng khác ngoài kĩ
năng sư phạm.
- Giáo viên khó khăn trong việc đánh giá cụ thể hiệu quả làm việc của
từng học sinh.
- Năng lực học sinh không đồng đều nên đôi khi việc thảo luận nhóm
mang tính máy móc và có hiệu quả chưa cao.
3. Những kinh nghiệm và các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
3.1 Phương pháp dạy học thảo luận nhóm
Phương pháp dạy học thảo luận nhóm hay còn gọi là hợp tác nhóm hay
PPDH hợp tác là một PPDH mà "học sinh được phân chia thành từng nhóm nhỏ
riêng biệt, chịu trách nghiệm về một mục tiêu duy nhất, được thực hiện thông
qua nhiệm vụ riêng biệt của từng người. Các hoạt động cá nhân riêng biệt được
tổ chức lại, liên kết hữu cơ với nhau nhằm thực hiện một mục tiêu chung".
Ưu điểm: Giúp cho mọi học sinh tham gia một cách chủ động vào quá
trình học tập, tạo cơ hội cho các em có thể chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý
kiến để giải quyết các vấn đề có liên quan đến nội dung bài học; tạo cơ hội cho
các em được giao lưu, học hỏi lẫn nhau; cùng nhau hợp tác giải quyết những
nhiệm vụ chung
Nhược điểm: Nếu sử dụng không khéo thì thảo luận nhóm cũng có rất
nhiều nhược điểm như: mất nhiều thời gian vào một vấn đề, một số thành viên ỷ
lại không hoạt động, hay lợi dụng thảo luận nhóm để làm việc riêng.
Đê thảo luận nhóm có hiệu quả trước hết chúng ta phải xác định được vai
trò của giáo viên, nhóm trưởng, các thành viên trong nhóm.
Phương pháp thảo luận nhóm thành công hay không còn tuỳ thuộc vào sự
chuẩn bị của giáo viên và học sinh. Nếu giáo viên chuẩn bị tốt, dự kiến được
tình huống xảy ra và có những biện pháp xứ lí kịp thời cũng như có sự hợp tác
từ học sinh thì phương pháp thảo luận nhóm sẽ mang lại kết quả cao.
Dựa vào mục tiêu nội dung bài học giáo viên có thể xem xét xem có thể
hoạt động nhóm được không? Chia theo cách nào? Cần chuẩn bị những gì để
nhóm hoạt động có hiệu quả? Dự đoán những tình huống có thể xãy ra, và quan
trọng hơn là "học sinh thu được lợi ích gì từ hoạt động này"
Về phí học sinh cần chuẩn bị tốt những gì mà giáo viên yêu cầu: như
chuân bị bài củ, kiến thức thực tế liên quan và đồ dùng cần thiết nếu
3.1.3 Quá trình thực hiện
Khi sử dụng PPDH này, lớp học được chia thành những nhóm từ 4 đến 6
người. Tùy mục đích sư phạm và yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được
phân chia ngẫu nhiên hoặc có chủ định, được duy trì ổn định trong cả tiết học
hoặc thay đổi theo từng hoạt động, từng phần của tiết học, các nhóm được giao
nhiệm vụ giống nhau hoặc mỗi nhóm nhận một nhiệm vụ khác nhau, là các phần
trong một chủ đề chung.
Để thực hiện việc dạy học thảo luận nhóm ta có thể tiến hành qua 3 bước:
Bước 1: Làm việc chung, chia nhóm
Bước 2. Làm việc theo nhóm
Bước 3. Đánh giá kết quả nhóm thảo luận và tổng kết trước toàn lớp.
Căn cứ vào mục tiêu bài học, đặc điểm lớp học, và các điều kiện cụ thể
mà ta có thể chia nhóm cho hợp lí, với mổi cách chia ta hướng dẫn học sinh hoạt
động cho phù hợp, và có cách đánh giá phù hợp nhằm phát huy được ưu điểm và
hạn chế các nhược điểm của thảo luận nhóm.
Có rất nhiều cách chia nhóm, do khuôn khổ của đề tài tôi xin trình bày
một số cách chia mà tôi đã áp dụng tại trường THCS mà tôi đang dạy.
7
thành viên có năng lực tốt bổ sung góp ý và hướng dẫn những vấn đề mà còn sai
hoặc còn thiếu.
- Khi trình bày kết quả thảo luận: Tùy theo nội dung bài học và mục đích
của hoạt động nhóm tôi chó thể cho học sinh trình bày kết quả thảo luận bằng
hai cách:
Cách 1: Tổ cử một đại diện trình bày lại kết quả thảo luận dưới dạng
ngôn ngữ nói hoặc viết lại. Để khắc phục sự ỷ lại của học sinh yếu và khuyến
khích học sinh khá giỏi hướng dẫn học sinh yếu trong nhóm tôi sẽ yêu cầu một
thành viên trong nhóm trình bày dựa trên nguyên tắc "lấy ngẫu nhiên một thành
viên bất kì trong nhóm” (dựa vào số ngẫu nhiên trong máy tính). Với cách làm
này học sinh yếu kém bắt buộc phải hoạt động mới tiếp thu được bài, từ đó mới
trình bày được kết quả, học sinh khá giỏi phải tích cực hướng dẫn cho bạn để
đảm bảo lợi ích nhóm, đồng thời từ đó cũng cố kiến thức cho mình. Tuy nhiên
theo cách làm này khi đánh giá cho điểm nếu chọn theo nguyên tắc ngẫu nhiên
8
mà rơi vào những bạn có năng lực yếu thì thường không trình bày hết được kiến
thức và kết quả không thể cao bằng những học sinh khá giỏi trình bày bày từ đó
tạo nên tính tự ti đối với học sinh học yếu và sự không hài lòng đối với học sinh
học tốt. Để khác phục tôi đưa ra giải pháp cộng điểm theo số thứ tự cho những
học sinh học yếu nếu điểm dưới 10. Ví dụ : thành viên số 1 cộng 0,5; số 2 cộng
1 điêm; số 3 cộng 1,5 ... Trong thực tế khi tiến hành theo cách này có nhiều học
sinh yếu đã đem lại điểm cao cho toàn nhóm và từ đó các em thấy mình có giá
trị trong nhóm, không còn tự ti từ đó mạnh dạn và cố gắng học tập. Các thành
viên khá giỏi không xem thường học sinh yếu nữa mà ra sức giúp đở để đem lại
lợi ích cao cho nhóm.
Sau khi đánh giá song một nhóm giáo viên có thể cho các nhóm khác
nhận xét, cuối cùng chốt lại nội dung quan trọng của hoạt động.
+ Cách 2: Trình bày dưới dạng hoàn thành phiếu hoặc viết ra giấy. Với
9
những kiến thức còn hổng cho học sinh yếu, mà vẫn có thời gian đảm bảo kiến
thức cho học sinh khác theo chuẩn kiến thức kỷ năng.
Nhược điểm
Học sinh không cùng tập trung vào một vấn đề nên đánh giá mất nhiều
thời gian và khó khăn hơn.
Một số nhóm yếu kém chỉ làm những bài tập để lấp lỗ hổng kiến thức nên
các em có phần nào tự ái, tự ti so với bạn bè.
Những điểm cần lưu ý:
- Số lượng học sinh có học lực trung bình và khá vẫn chiếm phần lớn nên
số học này sẽ chia đều theo các nhóm (nhóm cơ bản) và giao nhiệm vụ cho các
em thảo luận theo kiến thức cơ bản, một bộ phận khác năng lực yếu hơn thì chia
thành một nhóm (nhóm lấp lỗ hổng) và giao nhiệm vụ cho các em thảo luận
nhằm mục đích lấp lổ hổng kiến thức, bộ phận còn lại có năng lực tốt hơn chia
vào một nhóm (nhóm khai thác) và giao nhiệm vụ cơ bản các em ngoài ra các
em còn được giao thêm phần khai thác nâng cao.
- Do thảo luận các nội dung khác nhau nên học sinh chỉ tập trung tư tưởng
vào phần kiến thức mà mình được thảo luận, nên khi đánh giá giáo viên chỉ tập
trung đánh giá những phần trọng tâm cơ bản của kiến thức, phần khai thác nâng
cao hay lấp lỗ hổng kiến thức nên đánh giá riêng cho từng nhóm riêng biệt này.
- Phần bài tập cho nhóm khá giỏi cũng phải có những bài cơ bản song cơ
bản mới đến những bài khó và khai thác. Tương tự phần bài tập cho nhóm yếu
kém ngoài việc lấp lổ cũng phải từng bước một đưa những bài tập theo yêu cầu
cơ bản. Đồng thời trong quá trình dạy học phải động viên các nhóm có năng lực
yếu hơn, đưa dần những thành viên tiến bộ ra khỏi nhóm “lấp lỗ hổng”, vào
“nhóm cơ bản” và “nhóm khai thác”.
- Đây là cách chia nhóm cũng có khá nhiều ưu điểm, đặc biệt là khai thác
được kiến thức cho học sinh khá giỏi, lấp lỗ hổng được kiến thức. Các bài tập
Là giáo viên thường xuyên dạy các khối 8 và 9 tôi nhận thấy các em rất
yếu môn hình học và “sợ hình”. Để giúp các em có tự tin khi học sinh từ đó có
niềm đam mê vào bộ môn, và học tốt môn hình tôi mạnh dạn áp dụng toàn bộ
những ý tưởng trên vào dạy phần đầu tiên của hình học 8 “dạy học các loại tứ
giác”
3.2 Vận dụng phương pháp thảo luận nhóm vào dạy học các loại tứ
giác.
3.2.1 Dạy định nghĩa, tính chất các loại tứ giác.
+ Mục tiêu:
Học sinh đã biết về các loại tứ giác từ khi còn học tiểu học do đó cần giúp
các em nhận biết nó trong thực tế và định nghĩa nó. Đồng thời phải biết quan sát
đặc điểm của loại tứ giác này, dự đoán những tính chất về cạnh, về góc, về
đường chéo, tìm ra những tính chất chung và riêng của các loại tứ giác này.
+ Giải pháp:
Nhằm giảm áp lực suy luận cho học sinh, gây hứng thú và sự tự tin cho
học sinh tôi mạnh dạn đưa phương pháp thảo luận nhóm vào phần này.
Đầu tiên tôi sử dụng kết quả của việc chia nhóm theo khu vực địa lí giao
cho các em tìm hiểu về các loại tứ giác ở nhà trong tiết trước. với nội dung yêu
cầu các em tìm ví dụ về loại tứ giác này. Từ đó quan sát dự đoán các tính chất.
Sau đó, tại lớp cho nhóm trình bày kết quả thảo luận rút ra định nghĩa, và
tính chất.
Tiếp theo chia nhóm theo cách 1, yêu cầu học sinh thảo luận trực tiếp rồi
trình bày kết quả về những tính chất riêng biệt của loại tứ giác mới và những
tính chất chung với các tứ giác trước đó.
VD: Khi dạy bài hình chữ nhật.
Ở tiết trước, tôi chia lớp 8A thành các nhóm dựa trên khu vực địa lí. Sau
đó dùng máy chiếu hoặc bảng phụ đưa ra yêu cầu thảo luận ở nhà cho các nhóm:
+ Tìm các ví dụ trong thực tế hình có dạng hình chữ nhật?
+ Hình chữ nhật có những đặc điểm gì? Mô tả các đặc điểm đó?
+ Em hãy định nghĩa hình chữ nhật theo cách hiểu của em?
các em thấy được hình học không khó như mình nghĩ và không còn sợ hình,
thấy được các khái niệm hình học, tính chất các hình đều xuất phát từ thực tế, từ
quá trình quan sát, và dự đoán, suy luận.
- Khái niệm các loại tứ giác có thể được trình bày nhiều cách khác nhau
dựa trên sự quan sát của học sinh do đó học sinh có thể định nghĩa các hình này
từ tứ giác hay từ các hình có từ trước mà các em đã học.
- Về tính chất học sinh chỉ cần quan sát vào tứ giác sau đó dự đoán các
tính chất về cạnh, về góc, về đường chéo theo cách liệt kê.
- Học sinh được quan sát sơ đồ tứ giác ở hoạt động 2 nên dễ dàng phát
triển các thao tác tư duy như so sánh, đặc biệt hóa, khái quát hóa… từ đó rút ra
được các tính chất đặc trưng riêng của hình đang học và tính chất chung của
những hình đã học trước, cũng dựa trên sơ đồ tứ giác và việc trả lời các câu hỏi
phần này học sinh dễ dàng suy ra dấu hiệu nhận biết các hình.
3.2.2 Dạy dấu hiệu nhận biết tứ giác.
+ Mục tiêu:
Qua phần này học sinh cần nhận biết được các loại từ giác, cách chứng
minh các loại tứ giác. Đây cũng là phần đầu tiên hay xuất hiện trong các bài tập,
các đề thi nên giáo viên cần hướng dẫn tốt cho học sinh học tốt phần này.
+ Giải pháp:
Dựa trên mục tiêu và những gợi ý ở hoạt động trước tôi tiếp tục sử dụng
phương pháp thảo luận nhóm chia nhóm theo cách 1(có đầy đủ các mức năng
lực tư duy), Sau đó cho học sinh quan sát sơ đồ rồi thảo luận để trả lời các câu
hỏi về dấu hiệu nhận biết của tứ giác ngay tại lớp.
VD: Khi dạy dấu hiệu nhận biết hình chữ nhật tôi giáo viên dùng bảng
phụ hoặc máy chiếu đưa ra câu hỏi và nội dung thảo luận, cụ thể:
Dựa vào sơ đồ tứ giác, nhận xét về tính chất của các tứ giác em hãy đưa ra
dấu hiệu nhận biết hình chữ nhật xuất phát từ :
- Tứ giác? Hình bình hành?Hình thang cân?Hình thang vuông?
Sau đó gọi một nhóm ngẫu nhiên, yêu cầu 1 học (theo số ngẫu nhiên trình
bày lại kết quả), cho các nhóm khác nhận xét rồi kết luận phần học.
sinh tự tin hơn với bộ môn hình học.
- Bài tập vận dụng đưa ra phải nhằm giúp học sinh cũng cố được kiến
thức từ sơ đồ tư duy và phải đủ 3 cấp độ nhận biết, thông hiểu và vận dụng. Ví
dụ như bài trên học sinh phải nhận biết được hình chữ nhật, hiểu tính chất hình
chữ nhật để chứng minh đoạn thẳng bằng nhau và vận dụng suy luận cao hơn.
- Giáo viên dùng máy chiếu, hoặc lấy một phiếu nhóm làm cơ sở cũng cố
lại toàn bài nội dung bài học đồng thời hướng dẫn chấm kết quả nhóm cho cả
lớp và yêu cầu các nhóm đổi chéo bài cho nhau để chấm chéo. Sau đó nhận xét
bài.
3.2.4 Dạy học hệ thống bài tập, khai thác, lấp lỗ hổng kiến thức.
Mục tiêu
Qua phần này học sinh cần sử dụng được các kiến thức về lí thuyết đã học
từ đó vận dụng làm được các bài tập liên quan
Giải pháp.
Tùy từng loại bài tập giáo viên có thể chia nhóm theo cách 1 (có đầy đủ
các mức năng lực tư duy) hay cách 2 (nhóm có mức năng lực tư duy riêng biệt)
để hoặt động sao cho đạt được mục tiêu đề ra.
VD: Sau khi dạy song bài hình chữ nhật trong các giờ luyện tập, giờ học
bồi dưỡng giáo viên chia nhóm theo cách 1 và cho học sinh hoàn thiện phiếu học
tập với việc giải bài tập sau:
BT1: Cho hình thang vuông ABCD có góc A = góc D = 90 0 và CD =2AB.
Vẽ BI vuông góc với CD (I thuộc CD).
a) chứng minh ABID là hình chữ nhật.
b) c/m ABCI là hình bình hành.
c) Biết AD = 6cm, CD =10cm tính diện tích hình chữ nhật ABCD.
Sau đó giáo viên lấy bài của một nhóm làm mẫu hướng dẫn lại bài tập và
hướng dẫn cho các nhóm chấm bài của nhóm bạn.
Kế tiếp giáo viên có thể chia nhóm theo cách 2 giao thêm bài tập cho
nhóm khá giỏi, giảm bớt bài tập cho nhóm yếu kém thay vào đó là những câu
hỏi đơn giản nhằm lấp lỗ hổng kiến thức. Giáo viên tranh thủ nhận xét hai nhóm
nhóm bài tập sau: Trong tam giác tạo thêm hình bình hành, trong tứ giác tạo
thêm hình bình hành, trong hình thang tạo thêm hình bình hành, … mổi bài có từ
3 đến 4 câu hỏi với mục tiêu: nhận biết ra hình bình hành, vận dụng được tính
chất hình bình hành để chứng minh các quan hệ khác, khai thác được bài toán….
Tương tự sau khi dạy song hình thoi, hình chữ nhật, hình vuông tôi cũng làm
như vậy.
VD: Cho tam giác ABC vuông tại A. Gọi M là điểm tùy ý thuộc BC, I và K là
hình chiếu của M trên AB và AC.
a) Chứng minh AIMK là hình chữ nhật. (nhận biết ra hình chữ nhật)
b) Chứng minh IK = AM. (vận dụng tính chất để c/m quan hệ bằng nhau)
c) Vẽ đường cao AH. Tính góc IHK (Khai thác tính chất đường trung
tuyến trong tam giác vuông, kết hợp với hình chữ nhật)
Do trong khuôn khổ đề tài có hạn và năng lực bản thân còn nhiều hạn chế
nên tôi chỉ trình bày được một số giải pháp, và một số ví dụ mà tôi đã tiến hành
áp dụng trong việc giảng dạy ở trường THCS. Rất mong được sự góp ý của các
quý thầy cô, và đồng nghiệm để tôi nâng cao được chất lượng dạy học hơn nữa.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với các hoạt động giáo dục,
với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
4.1. Đối với các hoạt động giáo dục, đồng nghiệp và nhà trường.
Phương pháp thảo luận nhóm là một trong những phương pháp giảng dạy
có hiệu quả nhằm khơi dậy sự nhiệt tình, tính năng động sáng tạo của học sinh,
khuyến khích học sinh tham gia thảo luận nhóm và học sinh đó có cơ hội trao
đổi, học tập lẫn nhau. Đồng thời, học sinh cũng dần dần làm quen với những
tình huống phức tạp và có thật sẽ gặp trong cuộc sống sau này. Cụ thể:
16
+ Xây dựng cho học sinh có lối sống hoà nhập với cộng đồng, tinh thần
hợp tác, kĩ năng giao tiếp, tinh thần đoàn kết, sự phối hợp, hiểu biết về tinh thần
trách nhiệm và hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên từ đó tạo ra những giải pháp
5
21.4
Khá
SL %
15
53.6
20.0 12 48.0
TB
SL %
7
8
25.0
32.0
Yếu
SL %
Kém
SL %
0
0
Khá
SL %
8
TB
SL %
33.4 12 50.0
Yếu
SL %
2
8.3
Kém
SL %
0
0,0
Như vậy lớp được áp dụng luôn có tỉ lệ học sinh khá giỏi cao, tỉ lệ học
sinh yếu kém giảm hẳn.
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
17
1. Kết luận.
- Sau đây là một số gợi ý về phương tiện dạy học kích thích hoạt động
thảo luận của học sinh mà giáo viên có thể sử dụng:bài kiểm tra trắc nghiệm
ngắn, các tài liệu trực quan như hình ảnh, mô hình, các bản tóm tắt về nội dung
theo trọng tâm bài học. Bên cạnh đó có thể sử dụng máy ảnh máy chiếu để trình
chiếu kết quả nhóm cho sinh động.
2. Kiến nghị.
- Việc vận dụng phương pháp thảo luận nhóm đã được giáo viên thực hiện
rộng rãi trong các trường và cũng tạo ra được những chuyển biến tích cực trong
nhà trường đồng thời cũng góp phần việc thực hiện đổi mới phương pháp giảng
dạy; phát huy được tính tích cực, chủ động, gây hứng thú trong học tập của học
sinh đồng thời nó mang lại hiệu quả cao trong giảng dạy. Tuy nhiên, khi vận
dụng phương pháp này giáo viên và học sinh cũng gặp không ít khó khăn nhất
18
định và để dung hoà giáo viên có thể thảo luận với nhóm để tìm ra cách làm tốt
nhất.
- Đối với bản thân tôi sẽ tự nhân rộng sáng kiến kinh nghiệm này cho các
lớp mình đang giảng dạy
- Đối với nhà trường có thể phổ biến nhân rộng sáng kiến này cho các
giáo viên khác cùng bộ môn ở các khối lớp khác.
- Tiếp tục kiến nghị với nhà trường tạo điều kiện thuận lợi hơn về cơ sở
vật chất, cách bố trí bàn ghế, trang thiết bị dạy học phù hợp hơn, thuận lợi hơn
cho việc thảo luận nhóm.
Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân tôi được rút ra từ thực tế
giảng dạy, nhằm mục đích “Nâng cao chất lượng dạy học các loại tứ giác
trong môn hình học 8 thông qua phương pháp thảo luận nhóm”.
Vì kinh nghiệm của bản thân còn nhiều hạn chế. Quá trình tích lũy kinh
nghiệm chưa nhiều và còn chưa được sâu sắc. Do đó, tôi kính mong được sự góp
ý kiến của các đồng nghiệp, của những thầy cô đi trước với kinh nghiệm phong
mô hình trường học mới
phạm Hà Nội
Việt Nam (VNEN)
VưGôtxKi
Người dịch: Phạm Minh Hạc
- NXB giáo dục, Hà Nội 1997
2
Tâm Lý Học
3
ROBERTJ.
MARZANO
DEBRAJ.
Các phương pháp dạy học PICKERING và JANE E. POLLOCK
hiệu quả
- Người dịch: Nguyễn Hồng Vân
- NXB giáo dục, Hà Nội 2011.
Đa trí tuệ trong lớp học
THO MAS ARMSTRONG”
- Người dịch: Lê Quang Long
- NXB giáo dục, Hà Nội 2011.
5
Quản lí hiệu quả lớp học