1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Ngoài việc trang bị kiến thức làm nền tảng, cơ sở đề các em học sinh
bước vào đời, tiếp xúc với xã hội hoặc tiếp tục học lên cao hơn; học văn các em
sẽ hoàn thiện hơn về phẩm chất đạo đức, có lối sống nhân văn hơn; học văn còn
luyện cho các em cảm thụ thơ văn và biết cách nói, viết “văn hơn”. Vì vậy, giáo
viên không chỉ hướng dẫn các em biết chủ động lĩnh hội kiến thức, biết vận
dụng kiến thức đã học cùng với hiểu biết của bản thân về cuộc sống để chuyển
tải thành sản phẩm - bài văn (kĩ năng làm bài). Từ đó giúp các em có sự phát
triển toàn diện về tâm hồn, về trí tuệ, về tri thức thẩm mĩ.
Văn nghị luận gồm: nghị luận về một đoạn thơ (bài thơ); nghị luận xã hội
và nghị luận về một tác phẩm truyện (đoạn trích). Nghị luận lâu nay vẫn được
coi là kiểu văn bản khó viết đối với nhiều học sinh. Vì nó không chỉ đòi hỏi
người viết phải có kiến thức chính xác, sâu rộng về đời sống xã hội, về tác phẩm
văn học mà còn phải có sự tư duy lô gíc chặt chẽ với những lập luận sâu sắc thấu
tình đạt lí bài văn mới có thể hấp dẫn người đọc, người nghe. Tác phẩm bao giờ
cũng là một tổng thể giữa nội dung và phương thức (nghệ thuật - hình thức) biểu
đạt. “Nghị luận về một tác phẩm truyện (đoạn trích) là trình bày những nhận xét,
đánh giá của mình về nhân vật, sự kiện, chủ đề hay nghệ thuật của một tác phẩm
cụ thể” [7]. “Những nhận xét, đánh giá về truyện phải xuất phát từ ý nghĩa của
cốt truyện, tính cách, số phận của nhân vật và nghệ thuật trong tác phẩm được
người viết phát hiện và khái quát” [3]. Nhưng trong thực tế giảng dạy, tôi nhận
thấy việc giảng dạy của giáo viên ở kiểu bài này chưa phong phú và mang lại
hiệu quả cao, dẫn đến việc nắm bắt kiến thức và làm bài của học sinh chưa được
tốt. Nhiều em chưa biết xác định đề đúng hướng, làm bài thường sa vào kể
nhiều, chưa kết hợp hài hòa giữa các tình tiết, sự việc...với những nhận xét đánh
giá khi viết khiến bài viết chưa sâu.
Trong khi đó, số tiết dạy và luyện tập trong chương trình quá ít (3 tiết)
nên nhiều em còn tràng màng. Tài liệu tham khảo nhiều nhưng hướng dẫn cụ thể
về các dạng đề lại chưa có. Thực tế kiểu bài thường có trong các kỳ thi từ khảo
sát học kỳ cho đến kỳ thi học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh, thi vào THPT.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên sau :
+ Phương pháp nghiên cứu khoa học
+ Phương pháp điều tra, khảo sát
+ Phương pháp thực nghiệm
+ Phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh số liệu...
2
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Trong cuộc sống, khi cần trình bày ý kiến ở cuộc họp, trên báo chí, khi
trao đổi, tranh luận với mọi người xung quanh...ta dùng phương thức nghị luận.
“Nghị luận là văn bản trình bày ý kiến bàn luận, đánh giá theo một quan điểm
nhất định những sự kiện, vấn đề chính trị, xã hội, lịch sử, văn hóa, tư tưởng
...nhằm thuyết phục người đọc (người nghe) theo quan điểm nào đó”[6].
“Nghị luận về tác phẩm truyện là trình bày những nhận xét, đánh giá của
mình về nhân vật, sự kiện chủ đề hay nghệ thuật của một tác phẩm cụ thể phải
xuất phát từ ý nghĩa của cốt truyện, tính cách, số phận của nhân vật và nghệ
thuật trong tác phẩm được người viết phát hiện và khái quát”[7].
Kỹ năng làm bài văn nghị luận về tác phẩm truyện (đoạn trích): trước hết
cần giúp học sinh củng cố và khắc sâu kiến thức lí thuyết của kiểu bài này. Từ
việc nắm chắc khái niệm đến cách trình bày dàn ý của bài văn. Đây là kiến thức
cơ bản nhưng lại rất cần thiết cho quá trình học và làm bài. Tiếp đến hướng dẫn
học sinh cách làm bài cụ thể như: đọc kỹ đề, xác định xem mệnh đề yêu cầu gì.
Ví dụ: các em phân biệt các từ trong đề có từ “suy nghĩ” khác yêu cầu phân tích
như thế nào?. Hướng dẫn học sinh tìm ý bằng cách đặt câu hỏi. Khâu quan trọng
để giúp các em làm bài được tốt cần biết cách lập dàn ý theo từng dạng đề như:
nghị luận về nhân vật hoặc khía cạnh về nhân vật trong tác phẩm; nghị luận về
Yếu
SL
%
3
9A
9B
24
24
3
2
12.5
8.3
5
5
20.8
20.8
13
13
54.2
mắc, nhiều em chưa biết nghị luận vấn đề theo yêu cầu đề bài quy định, thường
làm chung chung theo một kiểu là phân tích tác phẩm, phân tích nhân vật. Nhiều
em còn sa vào tình trạng kể lại tác phẩm (đoạn trích) mà không dừng lại ở sự
việc, tình tiết để nhận xét, đáng giá, thẩm bình làm toát lên nội dung và nghệ
thuật - cái “thần” trong tác phẩm.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1. Củng cố và khắc sâu kiến thức lí thuyết kiểu bài nghị luận về
tác phẩm truyện (đoạn trích)
Phần này các em thường chủ quan, một phần do thói quen ngại lập dàn ý
dẫn đến khi làm bài thường thiếu ý (thiếu luận điểm), ngay cả phần mở bài cũng
thiếu ý mới chỉ giới thiệu được tác giả, tác phẩm mà chưa có phần nhận định
khái quát về tác phẩm.
2.3.1.1. Yêu cầu học sinh nắm chắc khái niệm:
4
“Nghị luận về tác phẩm truyện (đoạn trích) là trình bày những nhận xét,
đánh giá của mình về nhân vật, sự kiện, chủ đề hoặc nghệ thuật của một tác
phẩm cụ thể” [6].
- Lời văn: “Những nhận xét, đánh giá về truyện mà người viết phát hiện và khái
quát nên phải xuất phát từ cốt truyện, tính cách số phận nhân vật và nghệ thuật
của tác phẩm” [2].
- Bố cục: “Bài viết phải có bố cục mạch lạc; nhận xét về tác phẩm phải đúng đắn,
rõ ràng; có luận cứ và lập luận thuyết phục, lời văn chuẩn xác và gợi cảm” [2].
2.3.1.2. Dàn ý chung
a. Mở bài: - Nêu tác giả, tác phẩm
- Bước đầu nêu nhận định, đánh giá sơ lược về tác phẩm
b. Thân bài:
- Nhận xét, đánh giá về nội dung (sử dụng các thao tác phân tích - tổng hợp, lí
Ví dụ: Đề bài: Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn “Làng”Kim Lân [1].
Giáo viên hướng dẫn học sinh cảm nhận, suy nghĩ về nét nổi bật của nhân
vật này là tình yêu làng quyện với lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến được
bộc lộ trong hoàn cảnh nào? Tình cảm ấy có đặc điểm gì ở hoàn cảnh cụ thể lúc
bấy giờ? (Thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp) Những chi
tiết nghệ thuật nào chứng tỏ một cách sinh động, thú vị về tình yêu làng và lòng
yêu nước ấy (về tâm trạng, cử chỉ, lời nói...)
Với dạng đề này, yêu cầu học sinh phải đọc kĩ tác phẩm, nếu không đọc
kĩ, thì không thể tìm ra được những ý hay, đặc sắc. Các em sẽ dễ rơi vào công
thức chung chung, suy nghĩ hời hợt không khám phá ra nét mới trong tình cảm
đối với làng quê của nhân vật ông Hai. Đó là một trường hợp tiêu biểu cho
những chuyển biến mới trong đời sống tình cảm của người nông dân Việt Nam
thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Tình cảm gắn bó sâu nặng với quê
hương là đặc điểm có truyền thống nhưng nét đặc sắc ở đây là nhà văn Kim Lân,
bằng vốn sống, vốn am hiểu tâm lí của người nông dân đã đặt ông Hai vào một
tình huống gay cấn, thử thách lòng yêu nước tuyệt đối của nhân vật, để buộc
nhân vật phải đấu tranh gay go, quyết liệt để lựa chọn một trong hai: giữa tình
yêu làng và lòng yêu nước, trung thành với kháng chiến, với cụ Hồ.
Nếu học sinh không đọc kĩ từng trang truyện, thì làm sao thấu hiểu được
nỗi lòng của ông Hai với cuộc đấu tranh nội tâm đau đớn và vật vã...để cuối
cùng nhân vật mới đi đến quyết định dứt khoát: “Làng thì yêu thật, nhưng làng
theo Tây thì phải thù”.
- Dạng đề có từ “Phân tích......”
Yêu cầu người viết tìm hiểu, đánh giá và nhận xét đầy đủ từng đặc điểm
nhân vật, từng giá trị nội dung nghệ thật của tác phẩm.Với dạng đề này, đôi khi
học sinh cho là dễ, song giáo viên cần lưu ý khi làm bài tránh sa vào kể lể nhiều
mà không kết hợp với nhận xét, đánh giá của người viết. (Thông qua các tình tiết
liên quan đến nhân vật để bộc lộ cảm xúc của mình)
Tác phẩm được đánh giá như thế nào? Có phải là tác phẩm tiêu biểu cho sáng
tác văn chương của tác giả không?
- Câu hỏi tìm hiểu giá trị nội dung:
+ Đề tài bao gồm mấy ý? Ý nghĩa cụ thể? Ý nghĩa khái quát là gì? Những ý nào
tập trung biểu hiện chủ đề, tư tưởng của truyện? Nội dung có thể hiện được
những vấn đề lớn, bức xúc mà xã hội quan tâm hay không? Có giá trị nhân văn
như thế nào?
+ Nhân vật chính của truyện là ai? Đại diện cho tầng lớp con người nào trong
xã hội?
Có những tính cách như thế nào? Nét tính cách nào là tiêu biểu nhất? Nét tính
cách đó được biểu hiện qua những chi tiết nào? (Diện mạo, cử chỉ, lời nói, hành
động, tư tưởng, tình cảm, nội tâm…?)
- Câu hỏi tìm hiểu giá trị nghệ thuật:
+ Tác phẩm truyện được viết theo phong cách nào? Có nét gì sáng tạo riêng
trong nghệ thuật tạo tình huống ? Có hình tượng nghệ thuật nào độc đáo? Ngôn
ngữ diễn đạt, cấu trúc bố cục của truyện có đặc sắc gì?
+ Tác phẩm truyện trên có tiêu biểu trong phong cách nghệ thuật của tác giả
không? Có thể hiện được bản lĩnh sáng tạo của một nhà văn đầy tài năng và tâm
huyết cho một thời đại, một trào lưu văn học không?
- Câu hỏi gợi mở:
+ Có thể so sánh, đối chiếu với tác giả, tác phẩm nào để phân tích tác phẩm
được sâu rộng, toàn diện hơn?
+ Tác phẩm truyện có ảnh hưởng gì trong thời đại của tác giả đương sống và đối
với thời đại sau này? Tại sao tác phẩm được mọi người yêu thích?
7
Với những câu hỏi như trên, giáo viên không thể giảng giải một cách cặn
kẽ, tỉ mỉ trong quá trình phân tích một đề bài trên lớp. Do đó đòi hỏi giáo viên
phải biết chọn lựa những câu hỏi tìm ý cho phù hợp, có tác dụng khơi nguồn
trong xã hội thời kì đấy đồng thời liên hệ với cuộc sống hiện tại. Tất nhiên khi
phân tích nhân vật, hoặc khía cạnh nhân vật cần phải đặt vào tổng quan của toàn
tác phẩm.
Điều quan trọng khi làm dạng đề này cần chú ý đến các khía cạnh: Hoàn
cảnh sống của nhân vật, diện mạo, tính cách, quan hệ với mọi người đồng thời
hướng dẫn các em phân biệt các kiểu nhân vật như : nhân vật chức năng, nhân vật
loại hình, nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng hay nhân vật nhận thức…Yêu cầu
học sinh phải nhớ những tình tiết quan trọng để trích dẫn trong quá trình làm bài.
Dàn ý của dạng bài phân tích nhân vật (loại bài thường gặp)
1. Mở bài: Giới thiệu tác phẩm, nhân vật và nhận xét khái quát về nhân vật.
2.Thân bài: Lần lượt nghị luận về từng luận điểm của nhận xét trên thông
qua việc phân tích các chi tiết tiêu biểu trong tác phẩm
8
+ Trang phục, hình dáng, cử chỉ, hành động, lời nói, suy nghĩ, tâm lí của
nhân vật.
+ Nghệ thuật xây dựng nhân vật của tác giả.
( Lưu ý: Trình tự phân tích nhân vật khác trình tự kể chuyện của tác phẩm. Trình
tự phân tích là theo mạch lập luận, lí giải của người nghị luận)
3.Kết bài: Đánh giá chung về nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật[2].
Ví dụ: Đề bài: Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật ông Hai khi nghe
tin làng theo giặc đến khi tin đó được cải chính
Đề bài yêu cầu người viết phải vận dụng kiến thức đã học về nghị luận
một tác phẩm tự sự để phân tích, làm rõ nghệ thuật kể chuyện sinh động, tinh tế
diễn biến tâm trạng của nhân vật. Tâm trạng của nhân vật cần làm sáng rõ ở
đây là ông Hai trong truyện ngắn “Làng” của nhà văn Kim Lân với những diễn
biến đầy phức tạp khi nghe tin làng quê theo giặc. Ông Hai thuộc nhân vật tính
cách.
1. Mở bài: - Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm.
- Tâm trạng nhân vật được miêu tả cụ thể, gợi cảm qua diễn biến nội tâm, ý
nghĩ, hành vi, ngôn ngữ nêu rất sinh động.
- Ngôn ngữ kể, ngôn ngữ nhân vật đặc sắc, bộc lộ rõ tâm trạng và thái độ của
nhân vật.
- Tình huống truyện bộc lộ tâm trạng cụ thể, đa dạng.
3. Kết bài:
- Khẳng định lại vấn đề.
- Liên hệ ông Hai tiêu biểu cho người nông dân sau cách mạng đã có sự chuyển
biến rõ rệt trong nhận thức.
Qua việc hướng dẫn, tôi nhận thấy các em đã biết xác định phạm vi đề và
vận dụng kiến thức kiến thức ở khía cạnh liên quan đến nhân vật theo yêu cầu
của của bài để làm bài, kết quả đạt cao hơn.
b. Dạng đề 2: Phân tích (cảm nhận) một tác phẩm truyện (đoạn trích)
Khi tiếp xúc với đối tượng nghị luận này, khá nhiều học sinh thắc mắc,
băn khoăn là có nên phân tích toàn bộ tác phẩm truyện hay không? Hay chỉ
thông qua các sự việc chính trong truyện? Phân tích nội dung thì phải phân tích
như thế nào? Để làm rõ điều này giáo viên hướng dẫn học sinh cách làm cụ thể.
Trước tiên có thể chọn phân tích theo bố cục của truyện, hoặc theo sự việc
xảy ra qua nhân vật chính và phụ. Với cách phân tích thứ nhất học sinh cần nắm
chắc bố cục, các sự việc chính liên quan đến nhân vật, lần lượt phân tích từng
phần. Nhưng trước hết khi phân tích giáo viên nên hướng dẫn học sinh đi từ
hoàn cảnh ra đời đến khái quát được cốt truyện. Dạng bài này các em có thể
lồng phân tích nội dung với nghệ thuật khi làm bài hoặc tách tùy ý song cần có
sự chuyển ý mạch lạc, rõ ràng.
Chú ý khi phân tích những chi tiết trong truyện cần kết hợp nhận xét,
đánh giá của mình, không được sa vào kể lại cốt truyện, cũng không nên trích
dẫn toàn bộ tình tiết liên quan đến nhân vật mà phải có sự chọn lọc (không nên
trích dẫn quá máy móc, cũng không quá hời hợt) nhất thiết phải có dẫn chứng
khi viết bài (lời nói, hành động, việc làm…)
- Dàn bài cụ thể khi phân tích tác phẩm (đoạn trích)
chung với má.
- Ông Sáu có thêm vết thẹo trên má khi bị thương nên khác người trong ảnh. Đó
thực sự là tình yêu sâu sắc và cảm động mà Thu dành cho cha của mình.
c. Tình cảm của ông Sáu dành cho con.
- Gặp lại con sau bao năm xa cách, ông Sáu hết sức vui mừng.
- Trước thái độ lạnh nhạt, ông Sáu đã đau khổ, cảm thấy bất lực.
- Có lúc giận quá không kìm được, ông đã đánh con và ân hận mãi về việc đó.
- Xa con ông dồn hết tình cảm yêu thương vào việc hoàn thành chiếc lược ngà
- Trước khi hy sinh ông dồn hết sức lực còn lại gửi người bạn mang cây lược về
cho con gái.
11
d. Đánh giá về nghệ thuật
- Nghệ thuật miêu tả tâm lí đặc sắc cùng với cách xây dựng tình huống bất ngờ
đã thể hiện tình yêu thương cha sâu sắc, dứt khoát, rạch ròi đầy cá tính của bé
Thu và tình cảm yêu thương con sâu nặng của ông Sáu làm cho người đọc xúc
động và thấm thía trước nỗi đau thương, mất mát, éo le do chiến tranh gây ra.
3. Kết bài (Khẳng định lại vấn đề):
- Truyện ca ngợi tình phụ tử sâu nặng trong chiến tranh…
- Chúng ta cần biết nâng niu, giữ gìn hạnh phúc gia đình… [5]
c. Dạng đề 3. Phân tích để nêu nhận xét hoặc làm sáng tỏ một vấn đề
(một nhận định)
Phân tích để nêu nhận xét hoặc làm sáng tỏ một vấn đề (một nhận định)
giáo viên phải hướng dẫn học sinh phân biệt với phân tích một tác phẩm theo
yêu cầu thông thường. Với dạng đề này yêu cầu cao hơn thường dành cho đối
tượng thi học sinh khá - giỏi hoặc thi vào trường chuyên. Làm rõ được vấn đề
nhận xét trên cơ sở một tác phẩm truyện, yêu cầu học sinh biết tích hợp các kiến
thức chương trình ở các lớp dưới để nâng cao việc giải quyết đề bài, đồng thời
nắm được kiến thức về lí luận văn học. Học sinh cần đọc kỹ đề, bám vào ý kiến,
+ Anh thanh niên, cô kĩ sư, ông họa sĩ già, người lí xe hiếu khách, ông kĩ sư
vườn rau, một đồng chí nghiên cứu khoa học (tuy không phản ánh hết nhưng đã
vẽ lên một bức tranh về hiện thực cuộc sống lúc bấy giờ…)
+ Họ chính là một trong biết bao con người của miền Bắc đang hăng say lao.
+ Đó là một vài nét chấm phá của cảnh sắc thiên nhiên:
“ Lúc bấy giờ nắng đã mạ bạc cả con đèo, đốt cháy rừng cây hừng hực như một
bó đuốc lớn. Nắng chiếu làm cho bó hoa càng thêm rực rỡ …”
+ Qua những nhân vật ấy Nguyễn Thành Long đã đưa vào Lặng lẽ Sa Pa những
trang đời khác nhau hay đó chính là một mảng, một nét của cuộc sống.
- Tất cả đều được chắt lọc từ cuộc sống, vừa tinh tế vừa đẹp
+ Những nhân vật trên có tâm hồn của những con người thật đáng trân trọng
( anh thanh niên, ông kĩ sư trồng rau, đồng chí kĩ sư sét, ông hoạ sĩ già)
b. Tác dụng giáo dục: “Lặng lẽ Sa Pa” có những nhận xét nho nhỏ, như nhắc
khẽ người đọc.
- Đó là những nhận xét nho nhỏ rút ra từ những sự việc, những cảnh đời đã
trải qua.
+ Lời hoạ sĩ nói với cô kĩ sư:
1. “Đối với người nghệ sĩ trong cuộc đời, có hai hồi thích nhất : đó là
hồi mình còn trẻ và hồi này của tôi. Mình có thể năng nổ đi vẽ như thời thanh
niên. Mình có thêm sự chín chắn hồi ấy mình chưa có”
2. “Đối với một người khao khát trời rộng, sự dứt bỏ tình yêu nhiều khi
lại nhẹ nhàng”
3. Hoạ sĩ già còn tự nhủ: “Thanh niên bây giờ lạ thật, các anh chị cứ
như con bướm...”
+ Lời của anh thanh niên:
1. “... Cái lặng im lúc đó mới thật dễ sợ: nó như bị chặt ra từng khúc,
mà gió thì giống như những nhát chổi lớn muốn quét đi tất cả, ném vứt lung
tung... Những lúc im lặng lạnh cứng mà hừng hực cháy”.
2. “Công việc của cháu gian khổ thế đấy chứ vứt nó đi cháu buồn chết
mất còn người thì ai mà chả thèm hở bác? Cháu bỗng dưng tự hỏi : cái nhớ xe
phần xây dựng làng xóm, quê hương giàu đẹp đó là tình yêu Tổ quốc, khi Tổ
quốc bị xâm lăng, sẵn sàng bảo vệ đó là tình yêu Tổ quốc. Nhân vật ông Hai của
Kim Lân được đánh giá là người nông dân yêu quê hương, đất nước.
b. Chứng minh: Tình yêu làng, yêu kháng chiến của ông Hai
- Ông Hai là người có tình yêu đặc biệt sâu sắc với làng Chợ Dầu, nơi chôn rau
cắt rốn của ông
- Trước cách mạng
+ Ông luôn tự hào ông luôn tự hào về làng chợ Dầu của ông giàu đẹp
+ Ông luôn say mê khoe
- Sau cách mạng, ông Hai phấn khởi trong cuộc sống tự do, ông lại đi khoe và tự
hào về nhiều điều khác về làng chợ Dầu:
+ Làng có phòng trào cách mạng sôi nổi, lôi cuốn nhiều đoàn thể, tầng lớp tham
gia trong đó có ông.
+ Làng có “ cái phòng thông tin tuyên truyền sáng sủa, rộng rãi nhất vùng...
- Ở nơi tản cư:
+ Ông Hai nhớ làng Chợ Dầu đến day dứt, cồn cào.
+ Ngày nào cũng vậy, ngoài giờ giúp đỡ gia đình vợ con, ông cũng dành thời
gian ra phòng thông tin văn hóa nơi cản cư để nghe ngóng thông tin về tình hình
kháng chiến.
- Tình huống thất thiệt:
+ Niềm vui ấy không kéo dài được lâu, ông Hai đột ngột nghe tin làng Chợ Dầu
Việt gian theo Tây.
+ Song ông vẫn khẳng định lập trường: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây
mất rồi thì phải thù”.
- Tình huống được cải chính:
+ Khi nghe được tin cải chính làng không theo giặc, lòng ông Hai lại vui sướng
như mở cờ. Ông lại hớn hở đi khoe : Làng ông bị đốt, nhà ông bị đốt, cháy tiệt.
-> Có thể nói, đây là một nhân vật nông dân có tình yêu, yêu quê hương đến
tuyệt đối.
14
bài cần hướng dẫn học sinh có thể triển khai ngay thao tác so sánh trong quá
trình phân tích nếu thấy phù hợp.
Khi làm bài cần tránh tình trạng phân tích, cảm nhận riêng lẻ, tách rời đối
tượng nghị luận. Chẳng hạn đề yêu cầu viết một bài văn với nội dung: “ Hình
ảnh người phụ nữ qua hai tác phẩm: “Truyện Kiều” của Nguyễn Du và “Chuyện
người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ. Nhiều học sinh chỉ phân tích lần
lượt hình ảnh người phụ nữ qua từng truyện mà quên thao tác tổng hợp, đánh giá
cần thiết. Với đề bài này, học sinh vẫn có thể chọn các cách viết như trên (chỉ
tìm hiểu hình ảnh người phụ nữ qua từng tác phẩm truyện). Hoặc có thể phân
tích lồng ghép những điểm chung và nét riêng của các nhân vật trong tác phẩm
rồi kết hợp đánh giá.
Ví dụ1: So sánh giá trị nhân đạo của tác phẩm “Chuyện người con gái
Nam Xương” của Nguyễn Dữ với tác phẩm “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. [5].
Với đề bài này giáo viên cần hướng dẫn học sinh làm bài đảm bảo các ý sau:
1. Giới thiệu:
- Hai tác giả Nguyễn Dữ và Nguyễn Du
- Hai tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” và “Truyện Kiều”
15
2. Phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm
- Giá trị nhận đạo trong tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương”
- Giá trị nhận đạo trong tác phẩm “Truyện Kiều”
3. Nhận xét đánh giá
- Những điểm tương đồng
- Những điểm khác biệt, lí giải sự khác biệt.
Ví dụ 2: Cảm nhận về hình ảnh người nông dân qua hai tác phẩm “Lão
Hạc”- Nam Cao và “Làng” của Kim Lân
Với dạng đề này có thể hướng học sinh làm theo hai cách
Cách 1.
trước, ý nào sau; viết đoạn văn theo cách nào.
Viết theo yêu cầu định hướng đã xác lập ở trên.
Khi làm bài phải quan tâm đến cách làm, yêu cầu của từng dạng bài cụ thể.
2.3.2.5. Tích hợp với giờ dạy văn bản
16
Một tác phẩm tự sự (truyện) cũng như bất kì một tác phẩm nào khác, đòi
hỏi phải được phân tích toàn diện, cặn kẽ và đúng phương hướng. Điều đặc biệt
ở tác phẩm thuộc thể truyện là cấu tạo hình tượng tác phẩm dựa vào ba yếu tố:
tình tiết, nhân vật và lời kể. Cho nên khi phân tích cấu tạo hình tượng của truyện
không thể không lưu tâm đến ba yếu tố đó. Đây cũng là nét phân biệt cấu tạo
một tác phẩm truyện với một tác phẩm thơ trữ tình - một bài thơ hay. Để học
sinh nắm rõ được điều này phải thông qua giờ dạy văn bản. Trong tác phẩm tự
sư, nhà văn “nói”qua nhân vật. Nhân vật chính mang chở nội dung phản ánh tư
tưởng, chủ đề của tác phẩm, là nơi kí thác quan niệm về con người, về nhân sinh
của nhà văn. Bởi thế mà phân tích nhân vật trở thành con đường quan trọng nhất
để đi tới giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo của tác phẩm, để nhận ra lý tưởng
thẩm mĩ của nhà văn. Trong quá trình dạy giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh
nắm chắc từ các nhân vật, sự việc, tt́nh tiết trong tác phẩm (đoạn trích). Yêu cầu
học sinh đọc ở nhà, tóm tắt tốt tác phẩm truyện trước khi học tiết văn bản trên lớp:
Ví dụ: Khi học văn bản “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng học
sinh cần phải tóm tắt được các ý lớn:
- Anh Sáu gặp bé Thu
- Những ngày anh Sáu ở nhà
- Lúc anh Sáu ra đi
- Anh Sáu ở chiến khu dồn hết tình yêu thương làm cây lược ngà nhưng chưa
kịp trao cho con gái thì anh đã hy sinh.
Trong quá trình dạy cần hướng dẫn học sinh bình giảng : để làm bài tốt
người viết cần lắng nghe, chắt lọc cảm nhận xem yếu tố nào gây ấn tượng đậm
TÁC PHẨM TRUYỆN - VIẾT BÀI SỐ 6 (Ở NHÀ)
A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
1. Kiến thức: Giúp học sinh hiểu rõ cách làm bài nghị luận về tác phẩm
truyện, đoạn trích, trình tự các bước : tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn bài và viết bài
2. Kĩ năng: Hiểu rõ hơn các tác phẩm truyện đã học trong chương trình.
3.Thái độ: Hiểu rõ hơn các tác phẩm truyện đã học trong chương trình.
B. CHUẨN BỊ
1. GV: Giáo án , phiếu học tập
2. HS: Chuẩn bị bài ở nhà
C. TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC:
Ổn định tổ chức :
1. Kiểm tra bài cũ: Kết hợp trong tiết học
2. Tổ chức các họat động:
Hoạt động của thầy và trò
Yêu cầu cần đạt
- GV: Ôn lại khái niệm :
I. Ôn lại lý thuyết:
? Thế nào là văn nghị luận về - Khái niệm: Là trình bày những nhận xét,
một tác phẩm truyện ?
đánh giá của mình về nhân vật, sự kiện, chủ
đề hoặc nghệ thuật của một tác phẩm cụ thể.
? Những yêu cầu đối với bài văn - Yêu cầu của bài văn nghị luận?
nghị luận là gì ?
Những nhận xét, đánh giá về truyện mà
- GV kiểm tra phần chuẩn bị bài người viết phát hiện và khái quát nên phải
ở nhà của hs (Tích hợp với xuất phát từ cốt truyện, tính cách số phận
phần văn bản)
nhân vật và nghệ thuật của tác phẩm.
? Yêu cầu hs tóm tắt ngắn gọn -Tóm tắt :
văn bản “Chiếc lược ngà”
Viết bài số 6
? Hướng dẫn về nhà viết bài
TLV số 6
- GV ghi đề bài lên bảng
- GV yêu cầu :
+ Không sao chép Sách tham
khảo
+ Thời hạn nộp bài : sau một
tuần
- Ở khu căn cứ, anh Sáu dồn tất cả tình thương
yêu và mong nhớ đứa con vào làm cây lược
nhà để tặng con, nhưng anh đã hy sinh khi
chưa kịp trao món quà ấy cho con gái.
II. Luyện tập trên lớp
1.Tìm hiểu đề :
- Thể loại : NL về tác phẩm truyện
- Vấn đề : Nhận xét, đánh giá nội dung và
nghệ thuật của đoạn trích
2.Lập dàn ý
a. Mở bài :
- Hoàn cảnh lịch sử : Đế quốc Mĩ thẳng tay
đàn áp, phong traò chống chiến tranh của
nhân dân MN dâng cao, nhiều gia đình chịu
cảnh chia li
- VB “Chiếc lược ngà” thể hiện rỏ hoàn cảnh
đó
b. Thân bài :
- Nhận xét về anh Sáu : xa gia đình, mong
Khá
%
SL
%
Trung bình
SL
%
Yếu
SL
%
19
9
34
6
17.65
9
26.5
chắc khái niệm đến cách trình bày dàn ý của bài văn.Tiếp đến hướng dẫn học
sinh cách làm bài cụ thể như: đọc kỹ đề, xác định xem mệnh đề yêu cầu gì.
Hướng dẫn học sinh tìm ý bằng cách đặt câu hỏi. Khâu quan trọng để giúp các
em làm bài được tốt cần biết cách lập dàn ý theo từng dạng đề như: nghị luận về
nhân vật hoặc khía cạnh về nhân vật trong tác phẩm; nghị luận về một tác phẩm
(đoạn trích); nghị luận nêu nhận xét để làm sáng tỏ một vấn đề (một nhận định);
nghị luận tổng hợp về truyện.
Những dạng bài nghị luận về tác phẩm truyện đòi hỏi học sinh phải vận
dụng kiến thức tổng hợp của mình từ bài học hiện tại, từ những năm trước và thể
hiện kĩ năng viết được rèn luyện qua nhiều bài mới mong có được sự chuyển
20
biến tốt. Kinh nghiệm mà tôi đã trình bày là rút ra từ thực tế hướng dẫn học sinh
qua nhiều năm giảng dạy, nhiều khóa học sinh đã học tập, thi cử kết quả dần
được nâng qua các kì thi, từ kiểm định chất lượng, đến thi chuyển cấp, nhất là kì
thi học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh.
Qua áp dụng đề tài này vào thực tế giảng dạy, tôi thấy để việc rèn luyện kĩ
năng làm văn nghị luận về tác phẩm truyện, đoạn trích cần phải :
Phân chia kiến thức và hướng dẫn cụ thể phù hợp với đối tượng học sinh.
Khi dạy phải tích hợp với văn bản, đồng thời hướng dẫn kĩ cho học sinh
kĩ năng diễn đạt luận điểm, kĩ năng chuyển tiếp, liên kết các luận điểm, các
phần, các đoạn.
Cần rèn cho học sinh kĩ năng bình giảng, kĩ năng so sánh văn học…
Cần giao bài tập theo các dạng đề để học sinh viết nhiều - luyện hành văn.
Tăng cường kiểm tra việc học bài và làm bài tập của sinh học, giao đề yêu
cầu các em luyện nhiều để bài viết ngày càng chất lượng.
Đặc biệt vào giai đoạn ôn luyện cho các kỳ thi, giáo viên nên hệ thống bài
tập theo dạng bài cụ thể cho học sinh rèn thành thạo kĩ năng và vững kiến thức
Đề tài này, do bản thân tự học hỏi, đúc rút kinh nghiệm qua giảng dạy và
1
1.1
Lí do chọn đề tài
1
1.2
Mục đích nghiên cứu
1
1.3
Đối tượng nghiên cứu
2
1.4
Phương pháp nghiên cứu
2
2
Nội dung
19
3.1
Kết luận
19
3.2
Kiến nghị
20
22
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Các dạng bài tập làm văn Ngữ văn 9. Nhà xuất bản Giáo dục 2005.
2. Ngữ văn Nâng cao. Nhà xuất bản Giáo dục 2003.
3. Phương pháp nghiên cứu học văn. Nhà xuất bản Khoa học xã hội 2005.
4. Tạp chí văn học tuổi trẻ. Nhà xuất bản Giáo dục 2009.
5. Tuyển chọn đề thi HSG THCS. Nhà xuất bản Đại học sư phạm 2010.
6. Sách giáo khoa Ngữ văn 9. Nhà xuất bản Giáo dục 2005.
7. Sách giáo viên Ngữ văn 9. Nhà xuất bản Giáo dục 2005.
23
B
2003-2004
2
Phát huy việc sử dụng phương
pháp “gợi tìm” trong dạy học
Phòng
GD&ĐT
Thiệu Hóa
B
2004-2005
3
Phương pháp tổ chức giờ luyện
nói trong dạy học ngữ văn 6
THCS
Phòng
GD&ĐT
Thiệu Hóa
B
24
hiện đại lớp 8, ở trường THCS
Thiệu Lý
6
Một số kinh nghiệm giảng dạy tác
phẩm vắn học chương trình ngữ
văn 8, ở trường THCS Thiệu Lý
Phòng
GD&ĐT
Thiệu Hóa
B
2015-2016
25