NHỮNG VẤN ĐỀ NHÓM LỚN VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ XÃ HỘI
MỞ ĐẦU
Nhóm là một vấn đề cơ bản, quan trọng nhất trong nghiên cứu tâm lý học
xã hội bởi nhóm là khâu trung gian giữa xã hội và cá nhân, các cá nhân tạo thành
nhóm, các nhóm tạo thành xã hội, cá nhân tiến hành hoạt động thực tiễn mang
tính xã hội trong môi trường của nhóm.Những biểu hiện, diễn biến tâm lý xã hội
của con người được thực hiện trong nhóm xã hội.Tuy nhiên, trong lịch sử phát
triển của tâm lý học xã hội có thể thấy rằng trong nửa đầu thế kỉ thứ XX, Tâm lý
học xã hội thực nghiệm phát triển mạnh mẽ và sự tập trung chính lại là nghiên
cứu nhóm nhỏ. Vấn đề nhóm lớn chưa được quan tâm nghiên cứu với nguyên
nhân chủ yếu vì có sự suy yếu của mối quan tâm tới các nghiên cứu lý luận trong
Tâm lý học xã hội, cũng như vì tính phức tạp của việc nghiên cứu các nhóm lớn
bằng phương pháp thực nghiệm.
Trong những giai đoạn sau đó, vấn đề nhóm lớn mới được quan tâm nghiên
cứu bởi về bản chất, nếu Tâm lý học xã hội không có phần về tâm lý học nhóm
lớn thì nói chung không thể trở thành Tâm lý học xã hội theo đúng nghĩa của từ
này. Theo khẳng định của G.Điligenxki, việc xem xét tâm lý của nhóm lớn không
phải là một trong số các vấn đề của Tâm lý học xã hội mà là vấn đề quan trọng
nhất của nó.Trong phạm vi bài tiểu luận này xin được trình bày những vấn cơ bản
về nhóm lớn, từ đó rút ra ý nghĩa trong hoạt động quản lý xã hội.
1
1. Những vấn đề chungvề nhóm lớn
1.1. Quan niệm về nhóm lớn
Từ cách đặc vấn đề như trên, sau một thời gian các nhà tâm lý học xã hội
chỉ quan tâm nghiên cứu nhóm nhỏ thì dường như vấn đề nhóm lớn như là thứ
yếu trong tâm lý học xã hội. Do đó, sau khi bắt tay, quay trở lại nghiên cứu thì
hàng loạt các vấn đề được đặt liên quan đến nhóm lớn.
đến tâm lý, hành vi của các thành viên trong nhóm.
Hiện nay phần lớn các nhà tâm lý học cho rằng: nhóm lớn là những cộng
đồng người hình thành trong quá trình phát triển lịch sử xã hội, giữ một vị trí
quan trọng nhất định trong hệ thống các quan hệ xã hội, ổn định trong các thời
kỳ phát triển hoặc hình thành một cách ngẫu nhiên, tự phát và tồn tại trong một
thời gian ngắn.
Từ cách tiếp cận trênnhóm lớn được chia ra thành hai loại: loại thứ nhất là
các nhóm ngẫu nhiên và tự phát. Đó là các tập hợp tồn tại trong khoảng thời gian
tương đối ngắn như đám đông, thính giả, công chúng và loại thứ hai là các nhóm
xã hội - theo đúng nghĩa của từ này, tức là những nhóm hình thành trong tiến
trình xã hội lịch sử, chiếm một vị trí nhất định trong hệ thống các quan hệ xã hội
của mỗi kiểu xã hội cụ thể và do vậy tồn tại lâu dài và bền vững. Loại thứ hai
này bao gồm các nhóm như giai cấp xã hội, tầng lớp xã hội và các nhóm tộc
người (với hình thức chính là các dân tộc), các nhóm nghề nghiệp, nhóm giới
tính, lứa tuổi (theo quan điểm này với tư cách là nhóm có thể xem xét các nhóm
như: nhóm thanh niên, phụ nữ những người trưởng thành và trung niên...). Đây
là loại nhóm ổn định trong các thời kỳ phát triển lâu dài
Trở lại làm rõ vấn đề cơ bản thứ hai về nhóm lớn trong tâm lý học xã hội
đó là tâm lý nhóm lớn có cấu trúc như thế nào? Hầu như tất cả các nhà nghiên
cứu (G.G.Điligenxki, A.I.Goriachieva, Iu.V.Brômlei...) đều phân chia thành hai
phần cấu thành trong nội dung của nó:
3
Một là, nếp tâm lý như là cấu tạo tâm lý ổn định hơn (bao gồm tính cách
xã hội hay tính cách dân tộc, nếp sống, truyền thống, thị hiếu...).
Hai là, phương diện xúc cảm như một cấu tạo tương đối biến động hơn
(nhu cầu, hứng thú, tâm trạng).Mỗi yếu tố cần trở thành đối tượng phân tích Tâm
lý học xã hội một cách đặc biệt.
Nhóm lớn chiếm một vị trí nhất định trong hệ thống các quan hệ xã hội, ổn
việc sử dụng các phương pháp đó là các nghiên cứu so sánh hay liên văn hóa. Ở
đây thuật ngữ “liên văn hóa” được sử dụng mang tính truyền thống khi nói đến
các nguồn gốc văn hóa khác nhau. Trong thực tế thì không nhất thiết chỉ so sánh
các văn hóa khác nhau mà còn so sánh các nhóm xã hội khác nhau.
Trong việc nghiên cứu tâm lý nhóm lớn còn có thể áp dụng cả các phương
pháp truyền thống của xã hội học bao gồm cả các phương pháp phân tích thống
kê khác nhau. Các kết quả nghiên cứu được thực hiện nhờ sự trợ giúp của các
phương pháp đó không phải luôn phát hiện ra được các liên hệ nhân quả; trong
đó trước tiên mô tả một số những liên hệ phụ thuộc chức năng nào đó cho phép
có được các tương quan có ý nghĩa, điều chấp nhận được đổi với nghiên cứu
tương quan, phổ biến trong việc nghiên cứu đặc trưng tâm lý của nhóm lớn.
Ngoài các phương pháp nghiên cứu nêu trên, trong khi nghiên cứu nhóm lớn,
Tâm lý học xã hội sử dụng cả các phương pháp nghiên cứu của ngôn ngữ học.
Lý thuyết “Biểu tượng xã hội” được đưa ra trong trường phái Tâm lý học
Pháp (X.Moscovisi) đã có đóng góp đáng kể vào việc nghiên cứu Tâm lý học xã
hội nhóm lớn.Lý thuyết này ở một mức độ có ý nghĩa đồng thời đề ra phương
pháp nghiên cứu nhóm lớn. Biểu tượng xã hội trong lý thuyết này được hiểu là
các biểu tượng đời thường của một nhóm nào đó về hiện tượng xã hội này hay
hiện tượng xã hội khác, tức là phương thức lý giải và thấu hiểu hiện thực đời
sống. Nhờ sự trợ giúp của các biểu tượng xã hội, mỗi nhóm xây dựng hình ảnh
thế giới xã hội, các thiết chế của nó, chính quyền, luật pháp, chuẩn mực.Các
5
biểu tượng xã hội - công cụ không phải của cá nhân mà của chính nhận thức xã
hội của nhóm.Bởi lẽ “biểu tượng” được hình thành trên cơ sở kinh nghiệm,
hoạt động của nhóm, hướng tới cách lý giải đời thường được nhấn mạnh trong
kinh nghiệm này.Về bản chất, thông qua sự phân tích các biểu tượng xã hội của
các nhóm lớn, bộ mặt tâm lý của chúng được nhận thức.(Đônxôp, Emelianôva,
1987).
thống nhất.
Thứ ba, nhóm lớn có tính độc lập tương đối, mỗi nhóm lớn có khả năng
xác định, điều chỉnh hành vi của mình mà ko bị ràng buộc bởi các nhóm khác.
Thứ tư, quy mô (kích cỡ) của nhóm lớn: khó xác định con số tuyệt đối
nhưng điều quan trọng là nhấn mạnh số lượng lớn các thành viên mà còn tiềm ẩn
mối liên hệ có tính quy luật.Các thành viên của nhóm thường không có sự tiếp
xúc trực tiếp và thường xuyên với nhau.
Thứ năm, nhóm lớn có tính đồng nhất, nhóm lớn được tạo ra từ các cá
nhân khác nhau với đặc điểm phong phú đa dạng nhưng lại thống nhất với nhau
ở những đặc điểm có tính chất xã hội: giới tính, tuổi tác, vị thế xã hội, nghề
nghiệp, thái độ…
Thứ sáu, trật tự và kiểu tương tác giữa các cá nhân: liên quan đến phân
công lao động, nghĩa vụ trách nhiệm của các thành viên trong nhóm.
2. Đặc điểm tâm lý nhóm lớn
2.1. Đặcđiểm tâm lý dân tộc
Các nhóm tộc người là ví dụ về nhóm lớn xã hội có ý nghĩa trong quá
trình xã hội lịch sử.Khác với tâm lý học giai cấp, các đặc điểm của các nhóm tộc
người, trước hết là dân tộc được nghiên cứu nhiều hơn.Một nhánh đặc biệt của
khoa học giao thoa giữa Tâm lý học xã hội và Dân tộc học - Tâm lý học tộc
người, nghiên cứu riêng biệt những vấn đề nêu trên (Xtêphanhencô, 1999).
Truyền thống nghiên cứu Tâm lý học nhóm tộc người trong Tâm lý học xã
7
hội bắt đầu từ các công trình của W.Wundt trong “Tâm lý học dân tộc”. Sự thâu
thuộc về tộc người của cá nhân là nhân tố đặc biệt có ý nghĩa đối với Tâm lý xã
hội học. Bởi lẽ nó xác định những đặc trưng nhất định của môi trường vi mô.
Trong các điều kiện của môi trường đó, nhân cách được hình thành. Đặc trưng
tộc người ở một mức độ nhất định tập trung trong kinh nghiệm lịch sử của mỗi
tộc người và việc lĩnh hội các kinh nghiệm này là nội dung quan trọng nhất của
đi theo nhiều cách tiếp cận khác nhau để giải quyết vấn đề này. Từ cách tiếp cận
dựa trên các điều kiện tự nhiên, khí hậu đến tiếp cận dựa trên sự giao thoa và
khuyếch tán văn hóa; từ tiếp cận dựa trên các đặc điểm sinh học thể chất, đến
tiếp cận hoạt động sống của tộc người. Tuy vậy, câu hỏi này vẫn cần những
nghiên cứu tiếp theo.
Trong nghiên cứu tính cách dân tộc, ngoài việc tìm hiểu tập quán và
truyền thống, việc phân tích ngôn ngữ đóng vai trò đặc biệt quan trọng.Bởi lẽ,
việc truyền lại các nét tính cách dân tộc được thực hiện trong quá trình xã hội
hóa, trước tiên là trực tiếp qua ngôn ngữ.Tính ổn định tương đối của các nét tính
cách dân tộc, dù có sự thay đổi của môi trường được giải thích bằng sự xuất hiện
của sức ỳ nào đó, được đảm bảo bằng con đường chuyển giao kinh nghiệm giữa
các thế hệ.
Về phương diện xúc cảm của tộc người bao gồm sự đồng nhất tộc người
và ý thức tự giác tộc người. Các đặc trưng này liên quan đến ý thức của con
người về sự thâu thuộc của bản thân vào một nhóm tộc người nhất định và sự
trải nghiệm xúc cảm về việc đó, tức là tiếp nhận và trải nghiệm sự khác biệt văn
hóa của nhóm mình với nhóm khác. Cùng với quá trình đó là sự xuất hiện của
các khuôn mẫu tộc người.
Tính cộng đồng tâm lý có ở mọi nhóm tộc người được thể hiện trong sự
hình thành tình cảm “chúng ta” nào đó.Đối với nhóm tộc người “tình cảm chúng
ta” xác định ý thức về các đặc điểm của tộc người mình khác biệt với tộc người
9
khác.Hình ảnh của các nhóm khác, trong đó thường bị làm tầm thường hóa, được
hình thành dưới ảnh hưởng của các quan hệ liên nhóm, các quan hệ tạo ra tâm
thế đặc biệt cho các đại diện của nhóm khác.Trong đó kinh nghiệm giao tiếp với
nhóm tộc người khác có vai trò nhất định. Nếu các quan hệ này trong quá khứ
mang tính thù địch thì màu sắc đó được di chuyển sang mỗi đại diện được gặp
lại của nhóm đó và bằng cách đó hình thành tâm thế tiêu cực. Thường xuyên hơn
giao văn hóa”). Dù cho có tính ổn định tương đối, các nét này có thể thay đổi
theo lịch sử. Tâm lý học tộc người đã tích luỹ được một số lượng tương đối lớn
những tư liệu thú vị liên quan đến những đặc điểm nếp tâm lý và hành vi của con
người, bị quy định bởi sự thâu thuộc của họ vào một tộc người. Do vậy nhiệm vụ
đặt ra cho Tâm lý học xã hội và Tâm lý học xã hội tộc người ngày nay tương đối
phức tạp. Tính nóng bỏng chính trị của vấn đề trong thế giới hiện đại buộc phải
giải quyết các vấn đề này với sự chính xác đặc biệt.Nguyên tắc bình đẳng các
dân tộc, đặc trưng cho các chương trình chính trị của các quốc gia dân chủ
không biểu thị sự thừa nhận tính giống nhau giữa các dân tộc.Từ đó chỉ ra các
đặc điểm dân tộc, trong đó có sự khác biệt trong tâm lý dân tộc vẫn còn là một
nhiệm vụ cấp thiết.
2.2. Đặc điểm tâm lý giai cấp
Giữa sự đa dạng của các nhóm lớn các giai cấp xã hội có được sự quan
tâm đặc biệt. Trong nhiều tập sách về Tâm lý học xã hội do H.Linđcey và
E.Aronson chủ biên đã chỉ ra rằng bản thân thuật ngữ giai cấp có nội dung khác
nhau đối với các nhà nghiên cứu châu âu và Mỹ. Đối với các nhà nghiên cứu
phương Tây, khái niệm “giai cấp” hiện thực hơn bởi lẽ sự đồng nhất với giai cấp
rõ ràng hơn, tương đối thường xuyên gắn với việc xác định sự thâu thuộc về
chính trị. Đối với văn hóa, nhìn chung việc thao tác hóa khái niệm “giai cấp
công nhân”, “giai cấp tư bản” là không đặc trưng nhưng họ lại quen hơn với khái
niệm “giai cấp trung lưu”, “giai cấp bần cùng”... Điều đó liên quan tới việc trong
11
các lý thuyết xã hội học cấu trúc xã hội được mô tả nhờ sự trợ giúp của các khái
niệm như “các thiết chế kinh tế - xã hội” chứ không phải “giai cấp xã hội”.Một
cách tự nhiên, điều đó không thể không ảnh hưởng tới những sự khác biệt trong
cách hiểu cấu trúc Tâm lý học xã hội về giai cấp.Nói riêng, trong một mức độ
lớn, thay vì phân tích tâm lý học về giai cấp, người ta đề nghị phân tích tâm lý
học các tầng lớp xã hội khác nhau. Tuy vậy trong mọi tình huống cần lưu ý rằng
ích bền vững hơn và ngược lại trong một số những tình huống nào đó, các lợi ích
ít sâu sắc hơn bắt đầu đóng vai trò nổi bật - có ý nghĩa mang tính nguyên tắc.
Các yếu tố tham gia vào phần biến động của tâm lý học giai cấp như tập
hợp các vai trò xã hội và định hướng xã hội tương ứng của cá nhân... cũng như
tính chưa rõ ràng của các khái niệm này trong khi áp dụng vào việc phân tích
tâm lý học nhóm lớn trên thực tế chưa được nghiên cứu. Điều này cũng đúng với
một hiện tượng được gọi là “tình cảm xã hội”. Khái niệm tình cảm xã hội không
phải được thừa nhận chung trong các tài liệu. Ở một mức độ nhất định, nhiều
vấn đề về tình cảm xã hội còn tranh luận. Do vậy có thể sử dụng nó như một
định nghĩa mô tả trạng thái nào đó trong phương diện xúc cảm của nhóm (Ví dụ:
“căm thù giai cấp”, xúc cảm xuất hiện trong mối liên hệ với mọi sự đồng nhất xã
hội liên quan tới sự bất bình đẳng). Do vậy tính không xác định của thuật ngữ
không làm giảm ý nghĩa của bản thân vấn đề. Nó chỉ chứng tỏ rằng trong Tâm lý
học xã hội chưa có truyền thống nghiên cứu lĩnh vực này với sự trợ giúp của một
bộ máy khái niệm khoa học.Tâm lý học xã hội buộc phải kết hợp hệ thống các
thuật ngữ từ các khoa học khác như văn học nhân văn, triết học và lịch sử.
Khi đề cập tới việc xác định các thành phần ổn định hơn trong tâm lý học
giai cấp thì có thể thấy vấn đề này ít được nghiên cứu hơn ở một mức độ đáng
kể. Liên quan tới giai cấp, nếp tâm lý thường được mô tả như là một diện mạo
tâm lý thể hiện trong một phương thức đặc biệt của hành vi và hoạt động, trên cơ
sở đó có thể tái thiết kế các chuẩn mực điều chỉnh nhóm xã hội. Diện mạo đó thể
13
hiện trong tính cách xã hội, những định nghĩa mang tính thao tác của cả khái niệm
này cũng còn chưa được làm rõ trong các tài liệu riêng của Tâm lý học xã hội.
Thuật ngữ “tính cách xã hội” thực tế được đưa ra trong các công trình của
trào lưu Phân tâm học mới, trong đó có các công trình của E.Fromm.Theo ông,
tính cách xã hội - đó là mắt xích kết nối giữa tâm lý cá nhân và cấu trúc xã hội.
Nhưng các loại tính cách xã hội ở Fromm không gắn với một giai cấp xã hội
đề này gần với các phương pháp nghiên cứu tâm lý học truyền thống, trong một
chừng mực nhất định ở đây có thể sử dụng phương pháp quan sát.
Như vậy chúng ta đã chỉ ra những hướng phân tích cơ bản, theo đó Tâm lý
học xã hội còn phải thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu các đặc trưng tâm lý của các
tầng lớp xã hội khác nhau và các phương thức mà nhờ chúng, tâm lý nhóm được
“xây dựng”, đảm bảo cho “sự lãnh hội” hiện thực xã hội của mỗi cá nhân. Ở đây
điều quan trọng là phải hiểu bằng cách nào quần chúng với số lượng tương đối
lớn - với tất cả sự đa dạng về tâm lý của họ - trong những tình huống có ý nghĩa
nào đó của cuộc sống thể hiện sự giống nhau trong các biểu tượng như thị hiếu,
hay thậm chí cả những đánh giá xúc cảm về hiện thực. Các tình huống này là các
tình huống trong điều kiện sống đặc biệt, được quy định trước hết bởi sự thâu
thuộc vào một nhóm lớn xã hội cụ thể, do vậy Tâm lý học xã hội không thể bỏ
qua sự kiện này khi xây dựng các mô hình giải thích hành vi và hoạt động của
con người.
3. Một số vấn đề rút ra trong hoạt động quản lý xã hội
Quản lý xã hội có tác động trực tiếp đến sự hình thành các yếu tố tâm lý
xã hội của các tầng lớp, các nhóm lớn trong xã hội.Mặt khác, các yếu tố tâm lý
xã hội trong nhóm lớn cũng tác động trực tiếp đến hoạt động quản lý xã hội. Do
vậy, cũng như việc hoạch định chính sách, trong hoạt động quản lý xã hội cần
quan tâm đến việc nắm, định hướng các hiện tượng tâm lý xã hội của các nhóm
khác nhau.
15
Những nhà quản lý xã hội cần phải biết và cần giải quyết tốt các yếu tố
tâm lý xã hội như:phong tục, tập quán, truyền thống; nhận thức, thái độ, tâm
trạng, niềm tin và khả năng thích ứng của người dân, của các tổ chức, hiệp
hội….Nếu những người lãnh đạo không hiểu những mặt mạnh và hạn chế về các
khía cạnh tâm lý xã hội của các nhóm lớn thì việc ban hành và hiện thực hóa các
chủ trường chính sách trong cuộc sống sẽ gặp nhiều khó khăn; có thể không
nhất là trong nhóm thanh thiếu niên, tất cả nhứng thuận lợi và thách thức này đặt
ra trong hoạt động quản lý xã hội, những người lãnh đạo cần nắm được tâm
trạng và thái độ của các tầng lớp nhân dân, của các tổ chức kinh tế, hội, hiệp
hội… Cụ thể là nắm được họ phấn khởi, họ băn khoăn, họ lo lắng, họ đồng tình
hay phản đối những những vấn đề gì, ở mức độ nào và tại sao họ lại có tâm
trạng, thái độ như vậy. Tâm trạng và thái độ xã hội là một trong những yếu tố
tâm lý xã hội phản ánh sự hài lòng của các tầng lớp nhân dân về các chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước và việc thực thi chúng trong cuộc sống. Khi
các nhóm lớn trong xã hội hài lòng và ủng hộ cao thì việc thực hiện các chủ
trương, chính sách sẽ có được những kết quả khả quan, và ngược lại, khi không
có được sự đồng tình, ủng hộ, sự hài lòng thì điều đó chứng tỏ chủ trương, chính
sách chưa phù hợp hay quá trình tổ chức triển khai thực hiện chưa tốt.
Thứ ba, về niềm tin xã hội: trong thập niên tới, niềm tin tôn giáo sẽ có xu
hướng phát triển hơn, trở thành niềm tin của đông đảo người dân trong xã hội.
Niềm tin này sẽ đa dạng hơn do sự xuất hiện đa dạng của các tôn giáo. Niềm tin
tôn giáo sẽ có xu hướng gia tăng ở nhóm thanh niên so với hiện nay. Do đó, đối
với những người lãnh đạo rất cần nắm được niềm tin của các tầng lớp dân cư
trong xã hội. Khi người dân có được niềm tin họ sẽ hành động với ý thức trách
nhiệm, tinh thần nhiệt tình cao, thậm chí họ không sợ hy sinh, gian khổ để thực
hiện các mục tiêu của tổ chức, của xã hội bởi có niềm tin là có tất cả, mất niềm
tin là mất tất cả.
17
Ở đây, người lãnh đạo không chỉ hiểu và nắm bắt được niềm tin của các
tầng lớp dân cư, các tổ chức trong xã hội, mà cần tạo ra ở các tầng lớp dân cư,
các tổ chức một niềm tin tốt vào những người lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
Để tạo được niềm tin này, người lãnh đạo cần chú ý một số khía cạnh sau:
Trước hết, chính những người lãnh đạo phải là tấm gương về hành động và
nhân cách đối với người dân. Đây là một trong những yếu tố tác động mạnh mẽ
Người lãnh đạo, làm công tác quản lý xã hội cần luôn luôn lắng nghe ý
kiến của các tầng lớp nhân dân. Vì qua đó, những người quản lý sẽ nắm được
tâm trạng, thái độ, niềm tin của người dân, nắm được những mong muốn nguyện
vọng của người dân. Việc lắng nghe này phải thực sự xuất phát từ “tâm” của
người cán bộchứ không phải mang tính hình thức. Do vậy, phong cách sâu sát,
không quan liêu mệnh lệnh, giản dị, chân tình là rất cần thiết ở người quản lý xã
hội. Đây sẽ là những cơ sở nền tảng để họ nắm bắt đặc điểm tâm lý của các
nhóm xã hội, thông qua đó mà tác động, điều chỉnh, định hướng các hiện tượng
tâm lý xã hội trong nhóm xã hội phát triển tích cực để cùng thực hiện thắng lợi
mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn, từng thời kỳ.
19
KẾT LUẬN
Khi xác định đối tượng của tâm lý học xã hội là nghiên cứu các hiện tượng
tâm lý của nhóm, điều đó đã nói lên vị trí quan trọng của nhóm đối với phân ngành
tâm lý học này.Mặt khác, chính bản thân khái niệm "tâm lý xã hội" đã phản ánh yếu
tố nhóm trong nội tâm của nó.Bởi lẽ, các hiện tượng tâm lý của các cá nhân đơn lẻ,
tồn tại biệt lập không thể tạo nên các hiện tượng tâm lý xã hội, mà chỉ tạo nên khi
các cá nhân đó tồn tại trong những mối quan hệ tương hỗ, phụ thuộc lẫn nhau.Hay
nói cách khác họ tồn tại trong một nhóm nào đó. Nghiên cứu, làm sáng tỏ vấn đề
nhóm xã hội nói chung, nhóm lớn trong phạm vi bài tiểu luận này nói riêng có ý
nghĩa hết sức quan trọng trong nhìn nhận một cách đúng đắn, khoa học về các vấn đề
tâm lý dân tộc, tâm lý giai cấp dưới cách tiếp cận của tâm lý học xã hội.Việc làm rõ
đặc điểm tâm lý nhóm lớn sẽ giúp cho công tác quản lý xã hội, lãnh đạo các nhóm
lớn được hiệu quả hơn thông qua định hướng, điều khiển các hiện tượng tâm lý xã
hội trong nhóm.Trong xu thế hiện nay, việc quản lý nhóm theo các cơ chế tâm lý sẽ
mang lại hiệu quả hơn cả. Chính vì vậy, tâm lý học nói chung, tâm lý học xã hội nói
riêng ngày càng thể hiện rõtầm quan trọng của mình trong các lĩnh vực của đời sống