ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
BÙI KHĂC THỊNH
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG
CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁN BỘ KIỂM
LÂM ĐỊA BÀN XÃ GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN TÀI
NGUYÊN RỪNG TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2016
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
BÙI KHẮC THỊNH
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG
CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁN BỘ KIỂM
LÂM ĐỊA BÀN XÃ GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN TÀI
NGUYÊN RỪNG TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: LÂM HỌC
Mã số: 60 62 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Lê Sỹ Trung
Xin gửi lời cảm ơn tới tập thể cán bộ, công chức, viên chức Chi cục Kiểm
lâm Thái Nguyên, UBND 10 xã đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tác giả trong suốt quá
trình học tập và triển khai thu thập số liệu ngoại nghiệp phục vụ đề tài luận văn.
Cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, động viên, giúp đỡ
của người thân trong gia đình và các bạn bè đồng nghiệp trong suốt thời gian học
tập và thực hiện đề tài luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2016
Tác giả
Bùi Khắc Thịnh
iii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
+ BQLDA
: Ban quản lý dự án
+ BVR
: Bảo vệ rừng
+ HĐND
: Hội đồng nhân dân
+ NN&PTNT
MỞ ĐẦU .....................................................................................................................3
1. Sự cần thiết của đề tài .............................................................................................3
2. Mục tiêu của đề tài ..................................................................................................4
3. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................................4
3.1. Ý nghĩa khoa học .................................................................................................4
3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn ........................................................................................4
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU .................................................6
1.1. Trên thế giới .........................................................................................................6
1.1.1. Thực trạng tài nguyên rừng trên Thế giới .........................................................6
1.1.2. Quản lý tài nguyên rừng của một số nước trên Thế giới ..................................8
1.2. Trong nước.........................................................................................................11
1.2.1. Thực trạng quản lý tài nguyên rừng Việt Nam ..............................................11
1.2.2. Diễn biến tài nguyên rừng Việt Nam ..............................................................14
1.2.3. Chính sách trong quản lý phát triển tài nguyên rừng Việt Nam .....................17
1.2.3.1. Chính sách về tái tạo rừng ............................................................................17
1.2.3.2. Chính sách về bảo vệ rừng ...........................................................................20
1.2.3.3. Chính sách về sử dụng rừng .........................................................................23
1.2.4. Kết quả nghiên cứu về quản lý tài nguyên rừng .............................................24
1.3. Đánh giá chung về quản lý tài nguyên rừng trong và ngoài nước .....................25
v
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.......27
2.1. Đối tượng, địa bàn nghiên cứu ...........................................................................27
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu......................................................................................27
2.1.2. Địa bàn nghiên cứu. ........................................................................................27
2.2. Nội dung nghiên cứu ..........................................................................................27
2.3. Phương pháp nghiên cứu....................................................................................27
2.3.1. Phương pháp kế thừa tài liệu thứ cấp ..............................................................27
3.5.3.1. Giải pháp chung ...........................................................................................61
3.5.3.2. Giải pháp cụ thể ..........................................................................................62
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ ...........................................................................................65
1. Kết luận .................................................................................................................65
2. Kiến nghị ...............................................................................................................68
TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................................69
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1. Diễn biến tài nguyên rừng thế giới 1980-1990………………………….11
Bảng 1.2. Biến động diện tích rừng qua các thời kỳ .................................................15
Bảng 3.1 Diễn biến điều kiện tự nhiên tỉnh Thái Nguyên. .......................................30
Bảng 3.2 Kết quả nghiên cứu về công tác tham mưu trong quản lý bảo vệ rừng
(2010 – 2015). ...........................................................................................................41
Bảng 3.3 Kết quả công tác tuyên truyền vận động nhân dân. ...................................45
Bảng 3.4 Kết quả kiểm tra xử lý vi phạm pháp luật của tỉnh Thái Nguyên..............46
Bảng 3.5 Tổng hợp số tang vật được phát hiện và xử lý giai đoạn (2010-2015)......47
Bảng 3.6 Theo dõi diễn biến rừng tại khu vực nghiên cứu. ......................................49
Bảng 3.7 Kết quả tham mưu xác định nguồn gốc lâm sản (2010 -2015). ................52
Bảng 3.8 Ý kiến đánh giá của các hộ gia đình về hoạt động của Kiểm lâm đến quản
lý, bảo vệ và phát triển rừng......................................................................................54
Bảng 3.9. Phân tích mối quan tâm và vai trò của các bên ........................................57
viii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1. Hệ thống tổ chức Kiểm lâm giai đoạn 1974-1979
lâm, đặc sản, thuốc chữa bệnh cho con người, thế nhưng mấy thập niên gần đây dân
số tăng nhanh, sức ép về diện tích đất canh tác ngày càng tăng đối với rừng. Mỗi
năm trên thế giới có hàng triệu ha rừng bị tàn phá nghiêm trọng, nhiều loài động
thực vật đã vĩnh viễn mất đi, nguồn Gen các loài động thực vật quý hiếm ngày càng
cạn kiệt. Hiện nay diện tích rừng nước ta đã suy giảm đáng kể do nhiều nguyên
nhân: dân số tăng nhanh, nạn khai thác chặt phá rừng bừa bãi, tập quán canh tác của
người dân…Do vậy công tác quản lí và bảo vệ rừng hết sức quan trọng.
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi vùng Đông Bắc, có diện tích đất tự
nhiên là 354.150,15ha, trong đó rừng và đất lâm nghiệp là 179.883,78ha chiếm
50,8%. [16] Trong những năm qua, mặc dù điều kiện tự nhiên có khó khăn, nguồn
lực đầu tư của nhà nước còn hạn chế, cơ chế chính sách chưa đồng bộ, nhưng lâm
nghiệp Thái Nguyên vẫn đạt được những thành tựu đáng ghi nhận. diện tích rừng
tăng nhanh qua các năm, độ che phủ của rừng năm 2015 đạt 51,40%, lợi ích từ kinh
tế rừng được khẳng định, công tác bảo vệ, phát triển rừng ngày càng được xã hội hóa.
Để thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác bảo vệ rừng, Ngày 04/10/2007
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Quyết định số
83/2007/QĐ-BNN, quy định về nhiệm vụ công chức Kiểm lâm địa bàn xã (thay thế
Quyết định số 105/2000/QĐ-BNN ngày 17/10/2000), với phương châm "Kiểm lâm
bám dân, bám rừng, bám chính quyền cơ sở” để tham mưu giúp chính quyền cơ sở
thực hiện chức năng quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp theo Nghị định số
4
23/NĐ-CP ngày 23/3/2006 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành luật bảo vệ và
phát triển rừng. Mục tiêu nhằm nâng cao năng lực Kiểm lâm địa bàn xã, làm thay
đổi căn bản công tác bảo vệ rừng, chuyển hoạt động kiểm tra, kiểm soát trong khâu
lưu thông sang tổ chức bảo vệ rừng tận gốc, giám sát nơi tiêu thụ, chế biến lâm sản;
nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy rừng; nâng cao nhận thức của nhân dân
để tham gia bảo vệ và phát triển rừng; giúp người làm kinh tế rừng yên tâm đầu tư
6
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Trên thế giới
1.1.1. Thực trạng tài nguyên rừng trên Thế giới
Tài nguyên rừng có vai trò quan trọng trong cuộc sống của hầu hết người dân
vùng núi. Ở đây, rừng mang lại cho họ nhiều loại sản phẩm khác nhau như: gỗ, củi,
lương thực, thực phẩm, dược liệu,... Quan trọng hơn nữa là rừng đảm bảo những điều
kiện sinh thái cần thiết để duy trì các hoạt động sản xuất và đời sống của người dân.
Trong giai đoạn đầu của thế kỷ 20, hệ thống quản lý tài nguyên rừng tập
trung đã thực hiện ở nhiều quốc gia, đặc biệt là ở những quốc gia phát triển. Trong
giai đoạn này, vai trò của cộng đồng trong quản lý rừng ít được quan tâm. Vì vậy,
họ chỉ biết khai thác tài nguyên rừng lấy lâm sản và đất đai để canh tác nông
nghiệp, nhu cầu lâm sản ngày càng tăng đã dẫn đến tình trạng khai thác quá mức tài
nguyên rừng và làm cho tài nguyên rừng ngày càng bị suy thoái nghiêm trọng.
Nhằm khắc phục tình trạng khai thác rừng quá mức, các nhà khoa học cũng
đã nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rừng như: Các
nhà lâm học Đức (G.L.Hartig - 1840; Heyer - 1883; Hundeshagen - 1926) đã đề
xuất nguyên tắc lợi dụng lâu bền đối với rừng thuần loại đều tuổi; Các nhà lâm học
Pháp (Gournand - 1922) và Thuỵ Sỹ (H.Biolley - 1922) đã đề ra phương pháp kiểm
tra điều chỉnh sản lượng với rừng khai thác chọn khác tuổi, vv...
Vào cuối thế kỷ 20, khi tài nguyên rừng đã bị suy thoái nghiêm trọng thì con
người mới nhận thức được rằng tài nguyên rừng là có hạn và đang bị suy giảm
nhanh chóng, nhất là tài nguyên rừng nhiệt đới. Nếu theo đà mất rừng mỗi năm
khoảng 15 triệu ha như số liệu thống kê của FAO thì chỉ hơn 100 năm nữa rừng
nhiệt đới hoàn toàn bị biến mất, loài người sẽ chịu những thảm hoạ khôn lường về
kinh tế, xã hội và môi trường.[26]
1980 đến 1990. Vào những năm đầu thập kỷ 80 (thế kỷ XX) tốc độ mất rừng nhiệt
đới là 11.4 triệu ha, trong đó khoảng 3/4 là rừng giàu và 17 đến 20 triệu ha vào cuối
thập kỷ 80. Tốc độ mất rừng trung bình của thế giới là 1%/năm. Riêng ở vùng Đông
Nam Á, trong thời gian 1980 đến 1990 thì diện tích rừng giảm đi khá nhanh. Như ở
Indonesia diện tích rừng giảm 1.212 nghìn ha, Thái Lan là 515 nghìn ha, Malaysia
là 396 nghìn ha, Philippine là 316 ha, Việt Nam là 139 nghìn ha và Lào là 129
nghìn ha.[30]
8
Tình trạng mất rừng trên thế giới ở nhiều quốc gia chính là việc quản lý bảo
vệ rừng từ trên xuống dưới, chưa đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của người dân.
Trước sự nỗ lực của nhiều quốc gia, công tác quản lý bảo vệ rừng trên thế
giới đã có nhiều chuyển biến tích cực.
Thế giới đã đình chỉ việc khai thác gỗ ở vùng đặc dụng, các khu bảo tồn
thiên nhiên, khu du lịch sinh thái, quan tâm đến lợi ích của rừng đối với đời sống
của con người. Chuyển giao dần trách nhiệm và quyền lực quản lý rừng từ cấp
Trung ương đến cơ sở, phân cấp quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp. Giao
đất, giao rừng, khuyến khích sự tham gia bảo vệ rừng của cộng đồng…
1.1.2. Quản lý tài nguyên rừng của một số nước trên Thế giới
- Ở Indonesia: Trong ngành lâm nghiệp đang tồn tại hai thực tế. Một thực tế
là những cánh rừng tiếp tục bị tàn phá, những đầm lầy than bùn bị rút hết nước,
rừng bị đốt phá để thay thế bằng những đồn điền cây công nghiệp. Trong khi đó,
vẫn có một thực tế khác là cây cối đang được trồng lại, rừng được khôi phục với hy
vọng giải quyết được vấn đề khí thải trong một tương lai gần.
Quan điểm nhất quán về chính sách quản lý rừng ở Inđônêxia là dựa trên
nguyên tắc vừa khai thác lợi ích rừng, vừa bảo tồn và phát triển rừng. Vì vậy các
nhà khoa học đã kiến nghị với Chính phủ đưa ra 3 chương trình mang tính chất
quốc gia. Đó là:
Để quản lý rừng bền vững, các nhà khoa học đề xuất 3 chương trình:
- Chương trình lâm nghiệp xã hội
- Chương trình trồng rừng và bảo vệ rừng quốc gia
- Chương trình lâm nghiệp cộng đồng.[28]
Từ kinh nghiệm quản lý rừng ở Philippin cho thấy cần kết hợp quản lý Nhà
nước với quản lý cộng đồng và hộ gia đình, tạo mọi điều kiện cho cộng đồng và hộ
gia đình để họ thực hiện chức năng quản lý tốt hơn. Nhưng nhà nước phải tổ chức
đào tạo kiến thức về quản lý, kỹ thuật, đảm bảo lợi ích hài hòa giữa các chủ thể, hỗ
trợ về vốn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất...vv
- Ở Nêpan: Chính phủ cho phép chuyển giao một số diện tích đáng kể khu
rừng cộng đồng thông qua sử dụng Panchagal (tổ chức chính quyền cấp sở) để quản
lý rừng.
- Ở Ấn Độ: Khi chính sách Lâm nghiệp được quốc gia thông qua năm 1998, là
việc coi trọng những nhu cầu cơ bản của người dân sống gần kề với rừng như chất
đốt, thức ăn gia súc, gỗ làm nhà… và vai trò của họ trong gìn giữ và bảo tồn tài
10
nguyên. Và Luật đất đai đã tạo điều kiện gây nên động lực cho cá nhân và cộng đồng
trồng cây phân tán, trồng rừng tập trung và quản lý bảo vệ rừng hiện có, đặc biệt đối
với những thổ dân có truyền thống và tập tục riêng biệt. Có hai hình thức chủ yếu,
điển hình đó là rừng cộng quản (JFM) và rừng cộng quản có sự tham gia (JPFM).
- Ở Trung Quốc, pháp lệnh bảo vệ và phát triển rừng được ban hành vào đầu
năm 1980 đã làm rõ sở hữu đất rừng và rừng. Chủ rừng là cơ quan Nhà nước, tập
thể và tư nhân. Các công trình nghiên cứu gần đây đã phân loại quản lý rừng ra 4
loại hình, đó là:
- Trang trại, lâm nghiệp làng, bản: Đây là loại hình quản lý rừng chủ yếu
hiện nay. Ở hình thức này người dân đóng góp ngày công lao động, tiền vốn để
trồng rừng. Sau khi trồng xong, làng, bản xây dựng các trang trại vườn, rừng và lựa
Diện tích rừng (triệu ha)
Biến động
1980
1990
(triệu ha)
Các nước phát triển
4.100,3
4.027,8
-72,5
Các nước đang phát triển
1.868,4
1,899,9
+31,5
Châu Âu
2.231,8
1.2.1. Thực trạng quản lý tài nguyên rừng Việt Nam
Các hệ thống tổ chức và quản lý lâm nghiệp ở Việt Nam có thể chia làm 05
giai đoạn: Trước 1945; 1946-1956; 1956 – 1975, 1976 – 1990, và từ 1991 đến nay.
- Thời kỳ trước 1945:
Đơn vị quản lý rừng trong thời kỳ này được gọi là Hạt lâm nghiệp có qui mô
tương đương với cấp tỉnh. Nội dung hoạt động lâm nghiệp trong thời kỳ này chủ
yếu là quản lý tài nguyên rừng nhằm để thu thuế là chính. Để thực hiện mục tiêu
khai thác tài nguyên rừng, người ta đã chia rừng thành ba loại:
+ Rừng không thuộc quản lý của Nhà nước. Đây là những khu rừng ở vùng
sâu vùng xa với mật độ dân địa phương rất thấp, khó tiếp cận và kiểm soát. Ở
những khu rừng này dân địa phương có quyền tự do khai thác gỗ, lâm sản và phát
nương làm rẫy để đáp ứng các nhu cầu hàng ngày của họ.
+ Rừng khai thác là những khu rừng tự nhiên nằm gần các khu dân cư và có
điều kiện giao thông thuận lợi. Rừng được phân chia thành các đơn vị quản lý, được
kiểm kê tài nguyên, điều tra các thông tin cơ bản phục vụ quản lý. Các đơn vị rừng
được chia thành các coup (cúp) khai thác và Nhà nước quy định cấp kính tối thiểu
12
được phép khai thác. Kiểm lâm đặt các trạm kiểm soát ở cửa rừng, tất cả các gỗ
khai thác ra được chấp nhận, đóng búa, nộp thuế và cho phép lưu thông.
+ Rừng quan trọng là những khu rừng có vị trí quan trong về kinh tế được
khai thác và bảo vệ trong suốt luân kỳ; hoặc là những khu rừng có chức năng quan
trọng khác như rừng đầu nguồn cần bảo vệ nghiêm ngặt.[15]
- Thời kỳ 1946 – 1956:
Sau năm 1945, ngành lâm nghiệp được quản lý bởi Nha lâm chính thuộc Bộ
canh nông với nhiệm vụ được quy định là:
+ Quản lý lâm phận: ngăn ngừa sự tàn phá rừng và sự lạm dụng lâm sản, gìn
giữ các khu rừng có quan hệ đến sự điều hoà khí hậu và mực nước của các triền
năm 1976.
Năm 1986 rừng được qui hoạch thành ba loại theo chức năng, đó là: Rừng
sản xuất; Rừng phòng hộ và Rừng đặc dụng. Rừng được giải thửa thành các tiểu
khu có diện tích bình quân khoảng 1.000 ha để làm đơn vị quản lý. Các hoạt động
quản lý và sản xuất lâm nghiệp của ba loại rừng nói trên được nghiên cứu phát triển
và có nhiều đổi mới trong giai đoạn này. Tổ chức của các hệ thống quản lý ba loại
rừng có thể được tóm lược như sau:
+ Đối với rừng sản xuất: được quản lý bởi các Liên hiệp lâm nông công
nghiệp và các lâm trường quốc doanh.
+ Đối với rừng phòng hộ: các vùng đầu nguồn trọng yếu như Sông Đà, Dầu
Tiếng, Trị An, Thạch Nham có các ban quản lý rừng phòng hộ trực thuộc Bộ Lâm
nghiệp, các khu rừng phòng hộ khác do các lâm trường quản lý hoặc các ban quản
lý rừng phòng hộ trực thuộc tỉnh, liên hiệp...
+ Đối với rừng đặc dụng: thành lập các vườn quốc gia và các khu bảo tồn
thiên nhiên có ban quản lý để bảo vệ nghiêm ngặt theo qui chế riêng.
- Thời kỳ từ 1991 đến nay:
Từ tháng 10/1995, Bộ Lâm nghiệp (cũ) cùng với Bộ Thủy lợi (cũ) sát nhập
vào với Bộ Nông nghiệp (cũ) để thành lập Bộ NN&PTNT. Bốn định hướng đổi mới
về chiến lược phát triển lâm nghiệp đã được vạch ra trên cơ sở của dự án “Nghiên
cứu tổng quan phát triển Lâm nghiệp Việt Nam”:
+ Chuyển lâm nghiệp từ ngành kinh tế có nhiệm vụ khai thác tài nguyên
rừng là chính, trở thành một ngành kinh tế có nhiệm vụ cơ bản là xây dựng và phát
triển vốn rừng.
14
+ Chuyển lâm nghiệp từ một ngành kinh tế chỉ có Nhà nước và tập thể sang
một nền lâm nghiệp xã hội, thu hút nhiều thành phần kinh tế trong đó có cả hộ gia
đình, cá nhân và các lực lượng xã hội tham gia xây dựng rừng và kinh doanh rừng;
nguồn tài nguyên sinh học, tỉ lệ độ che phủ của rừng là 43,3% năm 1943 xuống
33,8% năm 1976 và 28,6% năm 1995. Sự suy giảm về tài nguyên rừng không chỉ
suy giảm về trữ lượng lâm sản mà kéo theo đó là sự suy giảm đa dạng sinh học.
Bảng 1.2. Biến động diện tích rừng qua các thời kỳ
Loại rừng
1999
2004
2007 2008 2009 2010 2011
2012
2013
2014
DTR (triệu ha)
9,4
12,3
12,8
13,1
13,2
10.1
Rừng trồng
1,5
2,3
2,5
2,8
2,9
3,0
3,2
3,4
3,5
3,6
Độ che phủ
33,2
36,7
diện tích đất quy hoạch cho ngành lâm nghiệp đến năm 2020 là 16,245 triệu ha.
Trong đó: Đất rừng đặc dụng là 2,271 triệu ha; Đất rừng phòng hộ là 5,842 triệu
ha; Đất rừng sản xuất là 8,132 triệu ha. Trong số diện tích 5,842 triệu ha quy
hoạch cho rừng phong hộ, có 4,564 triệu ha đất có rừng; rừng tự nhiên 3,938
16
triệu ha (chiếm 86%), rừng trồng 0,626 triệu ha (chiếm 14%), đất trống và đất
khác 1,278 triệu ha (chiếm 22%) so với diện tích quy hoạch.
Là một nguồn tài nguyên quan trọng, rừng ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập
và đời sống kinh tế nói chung của khoảng một phần ba dân số của cả nước. Nó
không chỉ cung cấp những sản phẩm phục vụ sinh hoạt hằng ngày như gỗ, củi,
lương thực, thực phẩm, dược liệu vv... mà còn cung cấp những sản phẩm phục vụ
nhu cầu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xuất khẩu. Ngoài ra, do phân bố ở
những vùng sinh thái nhạy cảm như các vùng đầu nguồn rộng lớn, các vùng ngập
mặn, các vùng sình lầy vv... rừng còn là một trong những yếu tố có ảnh hưởng
mạnh mẽ nhất đến môi trường của đất nước. Nó góp phần quan trọng vào việc
chống lại sự biến đổi khí hậu, điều tiết nguồn nước, giảm tần suất và cường độ phá
hoại của các thiên tai như lũ lụt, hạn hán, cháy rừng vv...[5]
Sự thất bại của công tác quản lý rừng và tài nguyên đất đai vùng đầu nguồn
trong những thập kỷ qua đã làm Việt Nam mất đi hàng triệu hecta rừng và là
nguyên nhân chủ yếu gây ra những biến đổi khí hậu, gia tăng tần suất và mức độ
thiệt hại của hạn hán, lũ lụt. Hằng năm nhà nước phải đầu tư hàng nghìn tỉ đồng để
củng cố đê điều và chống lũ. Mất rừng cũng là nguyên nhân chính gây nên sự xói
mòn mạnh và sự hoang hoá diện tích đất đồi núi. Quản lý rừng không hiệu quả và
thiếu quy hoạch cũng làm cho nhiều vùng đất trũng, đất ngập mặn trù phú bởi các
thảm rừng tràm, rừng đước với hàng trăm loài động vật hoang dã có giá trị cao đã
và đang bị thay thế bởi các vùng nuôi tôm, các rừng trồng công nghiệp với mức độ
mặn hoá, phèn hoá ngày càng nghiêm trọng.