BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
------------
LÝ HOÀNG KIM
TÍNH THANH KHOẢN VÀ TỈ SUẤT SINH LỢI CỦA CỔ PHIẾU:
BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI SỞ GIAO DỊCH
CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (HOSE)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
------------
LÝ HOÀNG KIM
TÍNH THANH KHOẢN VÀ TỈ SUẤT SINH LỢI CỦA CỔ PHIẾU:
BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI SỞ GIAO DỊCH
CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (HOSE)
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1.6. Bố cục của nghiên cứu ................................................................................3
CHƢƠNG II: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY ......... 4
2.1. Khái niệm tính thanh khoản của cổ phiếu ...................................................4
2.2. Các mô hình định giá cổ phiếu ....................................................................6
2.2.1. Mô hình CAPM...................................................................................6
2.2.2. Mô hình 3 nhân tố Fama-French.........................................................6
2.3. Tổng quan các nghiên cứu trước đây ..........................................................7
CHƢƠNG III: PHƢƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ......... 14
3.1. Xác định mô hình nghiên cứu ...................................................................14
3.2. Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu nghiên cứu ..................................15
3.2.1. Phương pháp thu thập dữ liệu ...........................................................15
3.2.2. Phương pháp xác định tỉ suất sinh lợi ...............................................15
3.2.3. Phương pháp xác định nhân tố quy mô (SMB)
và nhân tố giá trị (HML) ........................................................................16
3.2.4. Phương pháp xác định nhân tố tính thanh khoản (LIQ) ...................17
3.3. Phương pháp phân chia danh mục nghiên cứu..........................................18
3.4. Phương pháp nghiên cứu ...........................................................................18
CHƢƠNG V: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................... 20
4.1 Thống kê mô tả các danh mục, các biến giải thích ...................................20
4.1.1. Thống kê mô tả các danh mục phân chia theo quy mô
và tính thanh khoản ...........................................................................20
4.1.2. Thống kê mô tả các danh mục phân chia theo giá trị
và tính thanh khoản ...........................................................................23
4.1.3. Thống kê mô tả các biến giải thích ...................................................26
4.2. Kiểm định và kết quả hồi quy ...................................................................28
4.2.1 Kiểm định tính dừng .........................................................................28
CAPM: Mô hình định giá tài sản vốn
Down: nhóm danh mục trong trường hợp thị trường giảm
H (High): danh mục cổ phiếu công ty giá trị - có tỷ lệ B/M cao hơn tỷ lệ B/M trung
bình.
HL1: danh mục cổ phiếu công ty giá trị và tính thanh khoản kém
HL2: danh mục cổ phiếu công ty giá trị và tính thanh khoản trung bình
HL3: danh mục cổ phiếu công ty giá trị và tính thanh khoản tốt
HML: nhân tố phần bù giá trị
HoSE: Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
L (Low): danh mục cổ phiếu công ty tăng trưởng - có tỷ lệ B/M thấp hơn tỷ lệ B/M
trung bình.
LIQ: nhân tố tính thanh khoản
LL1: danh mục cổ phiếu công ty tăng trưởng và tính thanh khoản kém
LL2: danh mục cổ phiếu công ty tăng trưởng và tính thanh khoản trung bình
LL3: danh mục cổ phiếu công ty tăng trưởng và tính thanh khoản tốt
S (Small): danh mục cổ phiếu công ty có giá trị vốn hóa thấp hơn giá trị vốn hóa
trung bình của thị trường – được gọi là danh mục cổ phiếu công ty có quy mô nhỏ.
SH: danh mục cổ phiếu công ty có quy mô nhỏ và tỷ lệ B/M cao
SL: danh mục cổ phiếu công ty có quy mô nhỏ và tỷ lệ B/M thấp
SL1: danh mục cổ phiếu công ty có quy mô nhỏ và tính thanh khoản kém.
SL2: danh mục cổ phiếu công ty có quy mô nhỏ và tính thanh khoản trung bình.
SL3: danh mục cổ phiếu công ty có quy mô nhỏ và tính thanh khoản tốt.
SM: danh mục cổ phiếu công ty có quy mô nhỏ và tỷ lệ B/M trung bình
SMB: nhân tố phần bù quy mô
TSSL: tỷ suất sinh lợỉ
TTCK: thị trường chứng khoán
Up: Nhóm danh mục trong trường hợp thị trường tăng
thanh khoản (mô hình 2) sau khi khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi ........43
Bảng 4.16 Kết quả hồi quy của 12 danh mục thuộc nhóm thị trường Up ..............47
Bảng 4.17 Kết quả hồi quy của 12 danh mục thuộc nhóm thị trường Down .........49
TÓM TẮT
Luận văn nghiên cứu vai trò của tính thanh khoản đối với tỉ suất sinh lợi của
cổ phiếu tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HoSE) bằng việc
sử dụng mô hình Fama-French và tỷ lệ vòng quay trong giao dịch (turnover rate)
làm biến đại diện cho tính thanh khoản. Tác giả sử dụng dữ liệu nghiên cứu là cổ
phiếu của các công ty phi tài chính niêm yết tại HoSE trong giai đoạn từ 01.2008
đến 12.2015.
Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ đồng biến giữa tính thanh khoản
và tỉ suất sinh lợi của cổ phiếu, tức là các cổ phiếu có tính thanh khoản tốt có tỉ suất
sinh lợi cao hơn các các cổ phiếu có tính thanh khoản kém. Số lượng hệ số chặn
không có ý nghĩa thống kê và giá trị của hệ số R bình phương hiệu chỉnh của mô
hình 4 nhân tố (thị trường, quy mô, giá trị và tính thanh khoản) cao hơn so với mô
hình 3 nhân tố, điều này cho thấy mô hình 4 nhân tố giải thích tỉ suất sinh lợi của cổ
phiếu tốt hơn mô hình 3 nhân tố. Kết quả nghiên cứu của luận văn đề nghị sử dụng
mô hình 4 nhân tố - mô hình tốt hơn khi xác định tỉ suất sinh lợi của cổ phiếu tại
HoSE. Tác giả cũng tìm thấy tính vững của mô hình này trong điều kiện thị trường
tăng và giảm.
1
CHƢƠNG I
GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu
đề tài “Tính thanh khoản và tỉ suất sinh lợi của cổ phiếu: Bằng chứng thực
nghiệm tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HoSE)”. Đề tài
hướng đến phân tích mô hình Fama-French khi có và không có sự hiện diện của
nhân tố thanh khoản, qua đó đánh giá liệu rằng tính thanh khoản có phải là yếu tố
quan trọng ảnh hưởng đến TSSL của cổ phiếu trong điều kiện có xem xét các nhân
tố khác (như nhân tố thị trường, quy mô và giá trị doanh nghiệp) hay không.
1.2. Mục đích và câu hỏi nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu của luận văn: là tìm hiểu mối quan hệ giữa tính
thanh khoản và TSSL của cổ phiếu trong điều kiện có kiểm soát đến các nhân tố
định giá cổ phiếu khác (như nhân tố thị trường, nhân tố quy mô, nhân tố giá trị)
trên thị trường chứng khoán Việt Nam mà đại diện là Sở giao dịch chứng khoán
Thành phố Hồ Chí Minh (HoSE) trong giai đoạn từ 01.2008 đến 12.2015.
- Câu hỏi nghiên cứu: Tính thanh khoản có phải là yếu tố quan trọng tác
động đến tỉ suất sinh lợi của cổ phiếu trong điều kiện có xem xét đến các nhân tố
thị trường, quy mô và giá trị doanh nghiệp
1.3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
-
Đối tƣợng nghiên cứu: là các mô hình Fama-French gồm các nhân tố: nhân
tố thị trường, nhân tố quy mô, nhân tố giá trị cùng với nhân tố tính thanh khoản với
dữ liệu nghiên cứu là cổ phiếu của các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao
dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HoSE).
-
Phạm vi nghiên cứu: Cổ phiếu của các công ty phi tài chính niêm yết trên
HoSE từ 01.2008 đến 12.2015. Dữ liệu thu thập bao gồm: Chỉ số thị trường (VNIndex), giá đóng cửa của cổ phiếu, lãi suất phi rủi ro, các chỉ số tài chính khác như
giá trị sổ sách, giá trị vốn hóa thị trường, số lượng cổ phiếu đang lưu hành, số lượng
cổ phiếu giao dịch…
hình định giá tài sản CAPM, Fama-French, đồng thời trình bày tổng quan các
nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa tính thanh khoản và TSSL cổ phiếu.
Chƣơng III trình bày phương pháp thu thập, xử lý dữ liệu, xây dựng mô hình
nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu cho đề tài. Các kết quả hồi quy được thể
hiện trong chƣơng IV. Tác giả đưa ra kết luận và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp
theo cho đề tài trong nội dung của chƣơng V.
4
CHƢƠNG II
TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY
2.1. Khái niệm tính thanh khoản của cổ phiếu
Tính thanh khoản (hay còn gọi là tính lỏng), là một khái niệm phức tạp trong
tài chính, chỉ mức độ mà một tài sản bất kỳ có thể được mua hoặc bán trên thị
trường mà không làm ảnh hưởng đến giá trị thị trường của tài sản đó và có khả năng
đổi thành tiền mặt dễ dàng.
Cổ phiếu có tính thanh khoản tốt là cổ phiếu có sẵn trên thị trường, có giao
dịch thường xuyên với khối lượng lớn và có nhu cầu lớn để nếu nhà đầu tư muốn
bán có thể bán được dễ dàng. Khi lựa chon chứng khoán để đầu tư, các nhà đầu tư
thường cân nhắc đến khả năng bán lại để tái tạo nguồn vốn ban đầu. Nếu khả năng
tái tạo kém, nghĩa là khó tìm được người mua hoặc phải bán mất giá, nhà đầu tư sẽ
gánh chịu những tổn thất tài chính. Điều này được gọi là rủi ro thanh khoản trong
đầu tư chứng khoán.
Tính thanh khoản của cổ phiếu phụ thuộc chủ yếu vào những yếu tố sau:
- Kết quả kinh doanh của tổ chức phát hành: Nếu tổ chức phát hành hoạt
động kinh doanh có hiệu quả, trả cổ tức cao, cổ phiếu của công ty sẽ thu hút nhà
đầu tư và cổ phiếu thực sự dễ mua bán trên thị trường. Ngược lại, nếu tổ chức phát
hành hoạt động kém hiệu quả, không trả cổ tức hay trả cổ tức thấp, thanh khoản của
cổ phiếu công ty giảm và các nhà đầu tư rất khó bán lại cổ phiếu nhằm tái tạo nguồn
- Theo tác giả Brennan và cộng sự (1998), tính thanh khoản được đo lường
bằng khối lượng giao dịch của cổ phiếu đó. Theo Data và cộng sự (1998), tính thanh
khoản được xác định bằng tỷ lệ vòng quay trong giao dịch (turnover rate) – tỷ lệ
giữa trung bình cổ phiếu giao dịch hàng tháng và trung bình cổ phiếu đang lưu hành
tháng.
- Theo tác giả Amihud (2003), ông xây dựng một cách thức tính khác cho
tính không thanh khoản là tỷ lệ bình quân tính theo ngày của giá trị tuyệt đối của
thu nhập cổ phiếu so với khối lượng giao dịch tính bằng tiền của cổ phiếu trong một
ngày. Tỉ lệ này cho thấy phần trăm thay đổi giá trên 1 đơn vị khối lượng giao dịch
tính bằng tiền. Nó cho thấy một đơn vị giao dịch (tính bằng tiền) hàng ngày gây ra
ảnh hưởng làm thay đổi giá cả bao nhiêu phần trăm.
6
2.2. Các mô hình định giá cổ phiếu
2.2.1. Mô hình CAPM
Mô hình định giá tài sản vốn (Capital Asset Pricing Model - CAPM) là mô
hình đơn giản nhất trong việc mô tả mối quan hệ giữa rủi ro và TSSL kỳ vọng của
cổ phiếu/ danh mục đầu tư. Mô hình CAPM do ba nhà kinh tế William Sharpe, John
Lintnet và Jack Treynor phát triển từ những năm 1960 và đã có được nhiều ứng
dụng trong thực tiễn từ đó đến nay.
Nội dung mô hình CAPM:
TSSL kỳ vọng của một cổ phiếu/ danh mục đầu tư sẽ bằng lãi suất phi rủi ro
cộng thêm một phần bù rủi ro dựa trên rủi ro hệ thống của cổ phiếu/ danh mục đầu
tư đó. Và nhân tố rủi ro thị trường được đo lường bằng hệ số beta (β) của mô hình
bên dưới, theo CAPM, đây là nhân tố duy nhất ảnh hưởng đến TSSL kỳ vọng của
cổ phiếu hay danh mục đầu tư.
Suất sinh lợi kỳ vọng: E(Ri) = Rf + βi (E(Rm)-Rf)
Trong đó:
–
Rf: TSSL phi rủi ro.
–
E(Rm ): TSSL kỳ vọng của toàn thị trường
–
SMB (Small Minus Big): TSSL của danh mục có quy mô nhỏ trừ TSSL
của danh mục có quy mô lớn.
–
HML (High Minus Low): TSSL của danh mục có tỷ số B/M cao trừ
TSSL của danh mục có B/M thấp.
–
βi, si, hi là các hệ số hồi quy.
Kết quả nghiên cứu của mô hình Fama-French cho thấy có mối tương quan
giữa TSSL với nhân tố quy mô (SMB) và nhân tố giá trị (HML), trong đó nhân tố
giá trị có tính giải thích TSSL của cổ phiếu mạnh hơn nhân tố quy mô. Cụ thể, có
tồn tại mối quan hệ ngược chiều giữa nhân tố quy mô và TSSL trung bình, mối
quan hệ cùng chiều mạnh hơn của nhân tố giá trị và TSSL trung bình.
2.3. Tổng quan các nghiên cứu trƣớc đây
Nghiên cứu “Asset pricing and the bid-ask spread” của Amihud và
và cộng sự, 2001), thước đo tính thanh khoản của Pastor và Stambaugh (Ho và
Hung, 2009), thước đo tính không thanh khoản của Amihud (2002) (LagoardeSegot,2009; Jankowitsch và cộng sự, 2011) và tỷ lệ thanh khoản của Liu (2006).
Nhìn chung, những nghiên cứu này hỗ trợ cho những kết quả nghiên cứu của
Amihud và Mendelson (1986).
9
Nghiên cứu “Trading activity and expected stock returns” của Chordia,
Subrahmanyam và Anshuman (2001): với dữ liệu nghiên cứu là TSSL hàng
tháng của các cổ phiếu phổ thông niêm yết trên NYSE-AMEX trong giai đoạn
01.1966 - 12.1995. Bài nghiên cứu sử dụng số liệu về hoạt động giao dịch (bao gồm
khối lượng và giá trị giao dịch) làm biến đại diện cho tính thanh khoản của cổ
phiếu. Kết quả bài nghiên cứu cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa TSSL trung
bình của cổ phiếu và mức độ thanh khoản, trong sự kiểm soát các nhân tố quy mô,
giá trị, quán tính và tính thanh khoản.
Nghiên cứu “Illiquidity and stock returns: cross-section and time-series
effects” của Amihud (2002): sử dụng dữ liệu nghiên cứu của NYSE giai đoạn
1964-1997. Kết quả chỉ ra rằng tính không thanh khoản kỳ vọng của thị trường có
tác động dương lên TSSL vượt trội của cổ phiếu, đề xuất rằng TSSL vượt trội mong
đợi của cổ phiếu phần nào đại diện một phần bù không thanh khoản. Kết quả này bổ
sung có mối quan hệ đồng biến giữa TSSL và tính không thanh khoản.
Những nghiên cứu gần đây chuyển từ việc cho rằng tính thanh khoản là một
đặc tính của chứng khoán sang tính thanh khoản là một nhân tố rủi ro tổng thể.
Nghiên cứu của Jacoby và cộng sự (2000) phát triển mô hình dựa trên mô hình
CAPM nhằm chỉ ra rằng rủi ro hệ thống được đo lường dựa trên TSSL thuần (sau
khi trừ chênh lệch giá mua-bán) trong điều kiện có chi phí thanh khoản. Nghiên
cứu của Acharya và Pederson (2005) đưa biến tính thanh khoản có điều chỉnh
beta của Jacoby và cộng sự vào mô hình 4 nhân tố và nhận thấy rằng mô hình của
họ có ý nghĩa cao hơn mô hình CAPM truyền thống. Nghiên cứu của Pastor và
dữ liệu tháng trong giai đoạn 1990-1998. Kết quả xác định biến thanh khoản (đo
lường bằng tỉ lệ thu nhập) có thể giải thích biến TSSL chứng khoán trong sự kiểm
soát các nhân tố theo Fama-French (nhân tố quy mô, giá trị và quán tính). Thêm vào
đó, tác giả cũng kiểm tra tính vững của nhân tố tính thanh khoản trong vai trò định
giá tài sản tại thị trường Úc.
Nghiên cứu “Liquidity and asset pricing: Evidence from the Hong Kong
stock market” của Keith S.K Lam & Lewis H.K Tam (2011): nghiên cứu tính
thanh khoản tại thị trường chứng khoán Hong Kong trong giai đoạn 1981-2004. Tác
giả cũng tìm thấy vai trò quan trọng của tính thanh khoản trong việc xác định TSSL
11
của chứng khoán khi xem xét cùng các nhân tố định giá tài sản khác. Trong đó, hệ
số tính thanh khoản (được tính bằng tỉ lệ thu nhập) có giá trị dương ở nhóm danh
mục công ty nhỏ, tính thanh khoản kém và hệ số tính thanh khoản có giá trị âm ở
nhóm danh mục công ty lớn, tính thanh khoản tốt. Bài viết còn kết luận mô hình 4
nhân tố (bao gồm nhân tố thị trường, nhân tố quy mô, nhân tố giá trị và nhân tố tính
thanh khoản) là mô hình tốt nhất có thể giải thích TSSL chứng khoán Hong Kong,
trong khi yếu tố xu hướng không có tác động đến việc định giá.
Nghiên cứu “Tác động của thanh khoản đến suất sinh lời các cổ phiếu
niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam” của Nguyễn Anh Phong
(2012): Bài nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của thanh khoản và rủi ro thanh
khoản lên suất sinh lời các cổ phiếu niêm yết tại TTCK Việt Nam. Nghiên cứu đo
tính thanh khoản bằng ba cách khác nhau: thứ nhất là đo bằng tỷ lệ giữa số lượng cổ
phiếu giao dịch chia cho số lượng cổ phiếu đang lưu hành; thứ hai là đo bằng giá trị
giao dịch bình quân trong tháng của cổ phiếu và thứ ba là đo bằng tỷ lệ giữa giá trị
giao dịch bình quân trong tháng so với giá trị giao dịch bình quân toàn thị trường.
Khác với các nghiên cứu trước đó, nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ giữa số lượng cổ
phiếu giao dịch chia cho số lượng cổ phiếu đang lưu hành không có ảnh hưởng đến
(1986)
TSSL tháng của các công
ty niêm yết ở NYSE
giai đoạn 1961-1980
Chênh lêch giá
mua-bán
Có mối quan hệ đồng biến giữa
TSSL và tính không thanh khoản
2
"The seasonal behavior of
the liquidity
preminum in asset pricing"
Eleswarapu và
Reinganum
(1993)
TSSL tháng của các công
ty niêm yết ở NYSE
giai đoạn 1961-1990
Chênh lêch giá
mua-bán
Có mối quan hệ đồng biến giữa
Chordia,
Subrahmanyam
và
Anshuman(2001)
TSSL hàng tháng cổ
phiếu phổ thông niêm yết
trên NYSE từ 1966-1995
Khối lượng và
giá trị giao
dịch
Có quan hệ ngược chiều giữa TSSL
và tính thanh khoản
(trong sự có mặt nhân tố quy mô,
giá trị, quán tính)
5
"Illiquidity and stock
returns:
cross-section and time
series effects"
Dữ liệu NYSE
giai đoạn 1964-1997
Tính không
thanh khoản
"Liquidity and asset
Nguyen,Mishra,
pricing under the threePrakash và Ghosh
moment CAPM
(2007)
paradigm"
8
"Asset pricing and the
illiquidity premium"
Chan và Faff
(2005)
9
"Liquidity and asset
pricing: Evidence from
the Hong Kong stock
market"
Keith S.K Lam và
Lewis H.K Tam
(2011)
10
“ Tác động của thanh
khoản đến suất sinh lời
Biến thanh khoản có thể giải thích
TSSL chứng khoán
Dữ liệu Hong Kong
giai đoạn 1981-2004
Tỷ lệ vòng
quay trong
giao dịch
Tính thanh khoản có vai trò trong
định giá chứng khoán
(dương ở công ty kém thanh khoản,
âm ở công ty thanh khoản tốt)
Dữ liệu TTCK Việt Nam
Tỷ lệ vòng
quay trong
giao dịch , giá
trị giao dịch
Tính thanh khoản không có ảnh
hưởng đến TSSL của cổ phiếu
14
Chƣơng III
PHƢƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
3.2.1. Phƣơng pháp thu thập dữ liệu
- Số liệu được sử dụng trong nghiên cứu này là Chỉ số thị trường (VN-Index)
và giá cổ phiếu của các công ty phi tài chính được niêm yết trên HOSE, được thu
thập từ 01/01/2008 đến 31/12/2015 với tần suất tuần từ nguồn dữ liệu của Vietstock.
Tác giả chọn khoảng thời gian nghiên cứu như trên nhằm có thể tạo đủ cơ sở dữ liệu
theo yêu cầu của nghiên cứu. Các chỉ số thị trường và giá cổ phiếu được thu thập là
giá đóng của (có điều chỉnh cổ tức) vào thứ tư hàng tuần. Nếu ngày thứ tư không có
giao dịch thì sẽ sử dụng số liệu ngày thứ năm (hoặc ngày thứ ba nếu ngày thứ năm
không có giao dịch). Nếu cả ngày thứ ba, thứ tư và thứ năm đều không có giao dịch
thì tác giả sẽ bỏ qua tuần giao dịch đó. (Việc chọn chỉ số thị trường và giá vào thứ
tư là nhằm mục đích tránh ảnh hưởng của các giao dịch cuối tuần (Huber, 1997)).
Qua thu thập dữ liệu, tổng số quan sát của luận văn này là 410 quan sát.
- Khối lượng giao dịch của cổ phiếu lấy theo tần suất tuần tương ứng với ngày
thu thập dữ liệu giá cổ phiếu.
- Lãi suất phi rủi ro: sử dụng lãi suất trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn 5 năm
thấp nhất hàng tháng, nếu không có trúng thầu thì lấy tháng liền trước từ 2008 đến
2015. Lãi suất trái phiếu Chính phủ được tính theo năm, tác giả quy về lãi suất tính
theo tuần để thống nhất với dữ liệu tuần từ cổ phiếu.
- Vốn chủ sở hữu, số lượng cổ phiếu đang lưu hành … thu thập từ báo cáo tài
chính (đã kiểm toán) của các công ty niêm yết được chọn làm mẫu.
- Giá trị vốn hóa thị trường = số cổ phiếu đang lưu hành * giá thị trường
- Tỷ lệ giá trị sổ sách và giá trị thị trường – tỷ lệ B/M là tỉ lệ giữa vốn chủ sở
hữu và giá trị vốn hóa thị trường của công ty.
3.2.2. Phƣơng pháp xác định tỉ suất sinh lợi:
Tỉ suất sinh lợi thị trường và mỗi cổ phiếu được tính như sau:
Ri,t = (Pi,t – Pi,t-1)/ Pi,t-1
Trong đó:
Ri,t: TSSL thị trường (m) hoặc của cổ phiếu i ở tuần thứ t;