Tình hình bảo hiểm y tế tự nguyện ở việt nam và các giải pháp để phát triển - Pdf 43

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA Y

BÀI THU HOẠCH MODULE QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
VÀ MODULE KINH TẾ Y TẾ

TÌNH HÌNH BẢO HIỂM Y TẾ TỰ NGUYỆN
Ở VIỆT NAM VÀ CÁC GIẢI PHÁP
HOÀN THIỆN ĐỂ PHÁT TRIỂN

NGUYỄN QUỐC HUY
MSSV: 125272045

Tp.HCM, 08/2017



LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô trong bộ môn Quản lý bệnh viện - Kinh
tế y tế Khoa Y - Đại học quốc gia TP.Hồ Chí Minh trong thời gian qua đã tận tình
hướng dẫn chúng em trong môn học. Các thầy, cô không chỉ cung cấp kiến thức,
những vấn đề mới ở trong nước và quốc tế mà còn giúp chúng em nêu bật lên các vấn
đề nổi cộm trong vấn đề Quản lý bệnh viện và Kinh tế y tế nước ta hiện nay. Đây là bộ
môn mà không có nơi nào có thể dạy em ngoài Khoa Y - Đại học quốc gia TP.Hồ Chí
Minh.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến thầy Nguyễn Thế Dũng, người chủ nhiệm bộ
môn tận tình cũng như là người thầy đã không tiếc thời gian, công sức để đứng lớp
giảng dạy, hướng dẫn chúng em từng chút từng chút một, từ những vấn đề to lớn nhất
đến những vấn đề chi tiết nhất của môn học, của cuộc đời hành nghề y.
Với vốn kiến thức bản thân còn hạn chế và nhận thức chưa đạt đến độ sâu sắc
nhất định, chắc chắn khó tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình làm bài thu hoạch

vào đó, bệnh tật còn làm giảm sức lao động, làm giảm thu nhập của cá nhân, do vậy
đời sống của họ càng thêm khó khăn.
Chính vì thế, ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đều triển khai Bảo hiểm y tế
nhằm giúp đỡ và tạo ra sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe đối với người bệnh.
Với hai hình thức tự nguyện và bắt buộc, Bảo hiểm y tế đã góp phần lớn và công tác
chăm sóc sức khỏe của mọi người trong xã hội.
Việc bảo hiểm y tế ra đời mang lại những tác dụng thiết thực sau:
- Giúp người tham gia Bảo hiểm y tế khắc phục những khó khăn về mặt kinh
tế khi họ gặp những rủi ro bất ngờ về sức khỏe vì trong quá trình khám và điều trị
phát sinh ra các chi phí rất tốn kém và thu nhập của bản thân cũng bị giảm làm ảnh
hưởng đến kinh tế của gia đình.
- Nâng cao tính cộng đồng và gắn bó mọi người trong xã hội. Giống như đa
phần các loại hình Bảo hiểm khác, Bảo hiểm y tế cũng áp dụng quy luật số đông,
chính điều này góp phần vào việc gắn kết mọi người, nâng cao tính cộng đồng.
- Góp phần nâng cao chất lượng và thực hiện sự công bằng xã hội trong khám
chữa bệnh. Sự đóng góp vào quỹ Bảo hiểm y tế đã góp phần hỗ trợ cho ngân sách y
tế. Vì thế ngành y tế có điều kiện để trang bị cơ sở vật chất đầy đủ phục vụ cho các
đối tượng, nâng cao chất lương khám chữa bệnh.
- Góp phần làm giảm gánh nặng cho Ngân sách Nhà nước. Một số nước trên
thế giới có các khoản từ Ngân sách cho y tế. Tuy nhiên, khoản chi này thường
không áp dụng với các nước đang phát triển. Để khắc phục tình trạng này, nhà nước
thường áp dụng nhiều phương pháp khác như: Thu viện phí, kêu gọi viện trợ,…
Nhưng các biện pháp này thường không mang lại hiệu quả nhiều do thu nhập của
người dân còn thấp. Vì thế, Bảo hiểm y tế là biện pháp tốt nhất để giảm gánh nặng
cho Ngân sách Nhà nước.
Ở Việt Nam, Bảo hiểm y tế đã được thực hiện từ năm 1992 và đạt được nhiểu
kết quả nhưng vẫn còn tồn tại rất nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân khác nhau.
Tại Đại hội Đang IX đã đưa ra mục tiêu tiến tới Bảo hiểm y tế toàn dân. Để đạt
được mục tiêu này, phải từng bức tăng nhanh số đối tượng tham gia, đặc biệt là Bảo
hiểm y tế tự nguyện. Trong suốt gần 30 năm qua, Bảo hiểm y tế đã khẳng định tính

xảy ra trong thực tế của một biến cố. Quy luật này giúp cơ quan bảo hiểm xác định
xác suất tủi ro nhận bảo hiểm. tính phí và quản lý quỹ dự phòng chi trả, đồng thời
cũng là điều kiện để đạt được tác dụng phân tán rủi ro [8].
1.2. Chia sẻ tổn thất.
Bảo hiểm y tế là một cơ chế trong đó số đông cá nhân đóng góp thành nên
quỹ Bảo hiểm y tế.
Phí đóng góp Bảo hiểm y tế là một khoản tiền nhỏ so với phúc lợi mà người
nhận Bảo hiểm y tế nhận được
Chia sẻ rủi ro dựa trên cơ sở là tất cả phần đóng góp quỹ Bảo hiểm y tế để có
thể đủ để chi phí cho những người hưởng quyển lợi khi xảy ra ốm đau [8].
1.3. Có đóng có hưởng và không hoàn lại.
Người tham gia Bảo hiểm y tế đóng theo thu nhập của mỗi người theo quy
định của Luật Bảo hiểm y tế, hưởng theo chi phí thực tế khi không may bị ốm đau
phải đến các cơ sở khám chữa bệnh để khám và điều trị bệnh.
Cụ thể, với đối tượng tham gia bắt buộc việc đóng góp bằng bằng 3% tổng
quỹ lương hoặc tổng thu nhập, trong đó người sử dụng lao động đóng 2/3, người lao
động đóng 1/3 vào quỹ Bảo hiểm y tế nếu còn tham gia lao động. Những người nghỉ
hưu, mất sức lao động tham gia Bảo hiểm y tế bắt buộc sẽ đóng góp 3% mức lương
hưu hoặc mức trợ cấp mất sức lao động vào quỹ Bảo hiểm y tế [8].
Nếu không đi khám chữa bệnh trong thời gian thẻ có giá trị sử dụng thì
không được hoàn lại phí đã đóng.
2. Tác dụng của Bảo hiểm y tế.
Bảo hiểm y tế có nhiều hình thức tổ chức ở các quốc gia khác nhau nhưng có
chung những tác dụng sau [3], [6]:
Thứ nhất: Giúp người tham gia Bảo hiểm y tế khắc phục những khó khăn về
kinh tế khi bất ngờ gặp những rủi ro về sức khỏe. Chi phí khám chữa bệnh dù lớn
hay nhỏ đểu ảnh hưởng rất lớn đến mỗi con người. Thêm vào đó, bệnh tật làm giảm
sức lao động cũng như giảm thu nhập bản thân. Trong khi đó, chi phí phát sinh từ
khám chữa bệnh ngày càng tăng làm ảnh hưởng không nhỏ đến kinh tế gia đình.
8

nước, khắc phục sự thiếu hụt về tài chính, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày
càng tăng của người dân.
3. Nguồn quỹ Bảo hiểm y tế.
Quỹ Bảo hiểm y tế là một quỹ tài chính có quy mô phụ thuộc vào số lượng
các thành viên tham gia Bảo hiểm y tế đóng góp và mức độ đóng góp của các thành
viên. Với mục đích nhân đạo không vì mục đích kinh doanh, quỹ Bảo hiểm y tế chủ
yếu được hình thành từ hai nguồn chính sau:
- Người sử dụng đóng góp.
- Người lao động đóng góp.

9


Bảng 1.1. Mức đóng phí Bảo hiểm y tế ở một số nước [8].
Quốc gia

Tỉ lệ phí bảo
hiểm y tế/Tổng
thu nhập (%)

Trách nhiệm đóng phí Bảo hiểm y tế (%)
Người lao động

Chủ sử dụng
lao động

Ngân sách
Nhà nước

Đức

4,25

4,25

0

Hàn Quốc

8,4

4,2

4,2

0

Singapore

6-8

3-4

3-4

0

Thailand

4,5


nghỉ hưu, mất sức lao động tham gia Bảo hiểm y tế bắt buộc sẽ đóng góp 3% mức
lương hưu hoặc mức trợ cấp mất sức lao động vào quỹ Bảo hiểm y tế [1].
Đối với hình thức Bảo hiểm y tế tự nguyện quỹ Bảo hiểm y tế được thu của
những người có nhu cầu bảo hiểm sức khoẻ đồng thời được hạch toán riêng và được
chi trả cho các chi phí khám, chữa bệnh, thanh toán cho đại lý Bảo hiểm y tế và chi
cho công tác quản lý.
10


Ngoài ra quỹ Bảo hiểm y tế còn được sự hỗ trợ của ngân sách nhà nước, các
tổ chức xã hội đóng góp. mặt khác trong quá trình hoạt động nguồn quỹ nhàn rỗi
còn được sử dụng cho đầu tư bằng cách mua cổ phiếu, trái phiếu do kho bạc Nhà
nước phát hành hay của các Ngân hàng Thương mại, nhằm bảo đảm sự tăng trưởng,
cũng như khả năng chi trả của quỹ Bảo hiểm y tế khi cần thiết.
Việc sử dụng nguồn quỹ thì tùy thuộc vào mỗi nước mà có quy định khác
nhau. Ở Việt Nam, dành 91,5% cho quỹ khám, chữa bệnh, trong đó dành 5% lập
quỹ dự phòng khám, chữa bệnh. Dành 8,5% cho chi quản lý thường xuyên của hệ
thống Bảo hiểm y tế Việt Nam theo dự toán hàng năm được cấp có thẩm quyền phê
duyệt và chế độ chi tiêu của Nhà nước quy định [1], [2], [6].
4. Mô hình tổ chức thực hiện Bảo hiểm y tế ở một số nước trên Thế giới [8].
4.1. Mô hình Bismark.
- Cơ chế:
Quỹ được hình thành từ sự đóng góp của cộng đồng người tham gian Bảo
hiểm y tế và giới chủ, độc lập với ngân sách Nhà nước và được tổ chức thực hiện
theo các quy định của Pháp luật về Bảo hiểm y tế.
- Đại diện:
+ Cộng hòa liên bang Đức.
+ Cộng hòa Áo.
+ Hungary.
+ Đan Mạch.

Bismark

Beveridge

Cùng quản lý

5. Đối tượng tham gia Bảo hiểm y tế.
Thông thường, người ta thường chia đối tượng tham gia là hai loại cụ thể [6]:
Loại 1: Đối tượng tham gia bắt buộc.
Với loại hình này đối tượng tham gia là bắt buộc được quy định trong các văn
bản pháp luật của mỗi nước. Ở Việt Nam, đối tượng tham gia Bảo hiểm y tế bắt buộc
bao gồm:
- Người lao động Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp Nhà nước, kể cả
các doanh nghiệp thuộc lực lượng vũ trang; các tổ chức kinh tế thuộc cơ quan hành
chính sự nghiệp, cơ quan Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội; Các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài, khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung; Các cơ quan, tổ chức
nước ngoài, tổ chức quốc tế tại Việt Nam, trừ trường hợp các Điều ước Quốc tế mà
12


Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác; Các đơn
vị, tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh có từ 10 lao động trở lên.
- Cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp; Người
làm việc trong các cơ quan Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội; Cán bộ xã, phường, thị
trấn, hưởng sinh hoạt phí hàng tháng; Người làm việc trong các cơ quan dân cử từ
Trung ương đến cấp xã, phường.
- Người đang hưởng chế độ hưu trí, hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng
do suy giảm khả năng lao động.
- Người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật.
- Các đối tượng bảo trợ xã hội được Nhà nước cấp kinh phí thông qua Bảo hiểm

luật về tiền lương, tiền công; xã viên hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể.
Tuy nhiên có chia lại thành ba đối tượng chính sau [6]:
- Học sinh – Sinh viên.
- Nông dân và người có nhu cầu.
- Bảo hiểm y tế cho người nghèo.
1.1. Đối tượng Học sinh – Sinh viên.
1.1.1. Sự cần thiết của Bảo hiểm y tế cho Học sinh – Sinh viên.
Phần lớn dân số nước ta thuộc đối tượng tham gia tự nguyện, trong đó đối
tượng Học sinh – Sinh viên là đối tượng được Đảng và Nhà nước quan tâm triển
khai ngay từ năm 1995. Học sinh – Sinh viên là những thành viên sẽ làm chủ đất
nước sau này, do vậy việc đảm bảo sức khỏe cho đối tượng này là rất quan trọng.
Tuổi học trò là giai đoạn phát triển cả về thể lực và trí lực, có sức khỏe tốt các em
mới học tập tốt và phát triển một cách toàn diện. Mặt khác, tỉ lệ Học sinh – sinh
viên nghèo là khá lớn nên có một biện pháp đảm bảo tài chính cho họ khi không
may gặp phải rủi ro về bệnh tật là rất quan trọng [5].
Tham gia Bảo hiểm y tế, học sinh - sinh viên được quản lý về sức khoẻ, được
giải quyết kịp thời các rủi ro ốm đau, tai nạn trong thời gian học tập ở trường. Nếu
các em không may mắc bệnh phải nằm viện điều trị thì cha mẹ các em không yên
tâm làm việc và phải nghỉ việc để chăm sóc cho các em. Như vây cha mẹ các em
mất phần thu nhập, thêm vào đó là chi phí khám chữa bệnh sẽ làm cho kinh tế gia
đình gặp khó khăn. Có Bảo hiểm y tế thì chi phí khám chữa bệnh này sẽ được chia
sẻ với nhiều người, do vậy cha mẹ các em sẽ giảm được gánh nặng rất lớn . Đó
chính là sự ưu việt của Bảo hiểm y tế Học sinh - Sinh viên. Bảo hiểm y tế Học sinh
- Sinh viên thực sự tạo điều kiện cho y tế trường học hoạt động phù hợp với mục
tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh - sinh viên, trong đó có giáo dục thể chất, hơn
14


thế nữa còn giáo dục tính nhân đạo, tính cộng đồng cho học sinh ngay từ khi còn
ngồi trên ghế nhà trường. Như vậy Bảo hiểm y tế học sinh – sinh viên thực sự cần

1999

3.396.400

- 1,85

93,03

2000

3.294.830

- 2,99

79,65

Qua bảng số liệu cũng như biểu đồ trên cho ta thấy đối tượng tham gia Học
sinh - Sinh viên có xu hướng giảm qua các năm. Cụ thể năm 1999 so với năm 1998
giảm 1,85%; năm 2000 so với năm 1999 giảm 2,99%.
Mặt khác tỷ lệ đối tượng tham gia của loại đối tượng Học sinh – Sinh viên so
với tổng số đối tượng tham gia tự nguyện cũng có xu hướng giảm. Cụ thể năm 1997
là 92,53% đến năm 1998 còn 90,77%, năm 2000 còn 79,65%.
Việc sử dụng 35% kinh phí Bảo hiểm y tế học sinh - sinh viên để lại ở một số
nơi là sai mục đích ví dụ như: xây dựng trường học... Đấy là những khoản chi
không thuộc vào số phí để lại điều này nó dẫn đến công tác chăm sóc sức khoẻ ban
đầu ở trường học là rất sơ sài. Do vậy không kích thích được sự tham gia của học
sinh - sinh viên [5].
1.2. Đối tượng tham gia là nông dân.
1.2.1. Sự cần thiết của Bảo hiểm y tế tự nguyện cho nông dân.
Nước ta là nước nông nghiệp nên nông dân chiếm đại bộ phận trong dân số.


22,31

3,75

1999

123.842

-13,37

3,39

2000

124.580

0,06

3,01

3,63

Theo bảng số liệu trên ta thấy số lượng nông dân tham gia Bảo hiểm y tế còn
rất ít, chiếm tỉ lệ nho với tổng số đối tượng tham gia Bảo hiểm y tế tự nguyện.
Ngoài ra, tốc độ tăng qua các năm không cao mà còn có xu hướng thụt lùi.
Sở dĩ có những điều trên là do sự nhận thức của nông dân về Bảo hiểm y tế,
cũng như quyền lợi mà họ được hưởng khi tham gia là rất kém, thậm chí một số nơi
họ còn không hiểu gì về Bảo hiểm y tế.
Một trong những tỉnh triển khai thành công nhất chính sách này là tỉnh Hải

khám chữa bệnh không mất tiền với sự hỗ trợ của Nhà nước và xã hội [9].
Tiếp đến nữa là chính sách khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo theo
hình thức cấp thẻ Bảo hiểm y tế: Khi chính sách cấp thẻ Bảo hiểm y tế cho người
nghèo được ban hành, các địa phương, cơ sơ tổ chức triển khai kịp thời, năm 1999
mới có 34 tỉnh, thành phố mua và cấp được 688.826 thẻ Bảo hiểm y tế cho người
nghèo, chiếm 6,5% so với tổng số người nghèo trong cả nước, thì đến năm 2000 đã
có 44 tỉnh, thành phố cấp được 1.111.578 thẻ tăng 61% so với năm 1999, nâng tỷ lệ
số người nghèo được cấp thẻ Bảo hiểm y tế lên 13,8%. Theo báo cáo của các địa
phương đến tháng 9/2001 đã có 48 tỉnh, thành phố đã hoàn thành các thủ tục cần
thiết để có thể cấp thẻ Bảo hiểm y tế cho khoảng 1.750.000, người nghèo tăng 57%
so với năm 2000, nhưng mới đạt 13% người nghèo được cấp thẻ Bảo hiểm y tế so
với tổng số người nghèo theo chuẩn hộ nghèo công bố ngày 1/11/2000 của Bộ Lao
động – Thương binh và Xã hội [9].
Từ kinh nghiệm thực hiện khám chữa bệnh cho người nghèo thông qua việc
cấp thẻ Bảo hiểm y tế không mệnh giá (thanh toán sau, theo kết quả khám chữa
bệnh cho người nghèo) ở một số tỉnh trước đây, do khó khăn về nguồn lực, tỷ lệ hộ
nghèo cao, một số tỉnh trước đây thực hiện khám chữa bệnh miễn phí cho người
nghèo theo giấy chứng nhận hộ đói nghèo đã lựa chọn phương thức cấp thẻ Bảo
hiểm y tế không mệnh giá.
Nhìn chung việc thực hiện khám chữa bệnh cho người nghèo theo phương
thức cấp thẻ Bảo hiểm y tế có xu hướng ngày càng phát triển và nhận được sự quan
tâm của cấp uỷ Đảng, Chính quyền các cấp ở địa phương cùng với sự phối hợp giữa
các ngành có liên quan được đồng bộ hơn, tuy nhiên tốc độ triển khai còn chậm
chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu.
2. Cơ quan Bảo hiểm y tế.
2.1. Hệ thống quản lý Bảo hiểm y tế.
Cơ quan Bảo hiểm y tế Việt Nam được tổ chức theo hệ thống dọc và quản lý
thống nhất từ Trung ương đến địa phương. Điều này được biểu hiện:
- Ở Trung ương: Bảo hiểm y tế Việt Nam trực thuộc Bộ y tế.
- Ở cấp tỉnh: Bảo hiểm y tế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Bảo

tỉnh, thành phố lớn hơn là về lại tỉnh mình. Bởi vì khi về tỉnh mình chưa chắc họ đã
xin được việc lam, cũng như không được trọng dụng. Ngoài ra các tiêu cực trong
quá trình quản lý, cũng như trong quá trình tuyển dụng nhân viên cũng ảnh hưởng
đến công tác tuyển chọn đội ngũ phục vụ cho công tác quản lý.
Ngoài ra công tác tổ chức đội ngũ giám định chi phí khám chữa bệnh Bảo
hiểm y tế tại nhiều cơ sở khám chữa bệnh còn chưa hợp lý và không đúng chuyên
môn do thiếu cán bộ, cũng như năng lực chuyên mông không đáp ứng được nhiêm
vụ đặt ra trong thời kỳ đổi mới hiện nay. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc đảm
bảo quyền lợi cho người bệnh có thẻ Bảo hiểm y tế mỗi khi cần đến sự can thiệp
của cán bộ Bảo hiểm y tế.
Tất cả những tồn tại nói trên đang đặt ra những thách thức cho ngành Bảo
hiểm y tế trong quá trình phát triển của ngành.
2.3. Nguồn quỹ Bảo hiểm y tế.
Cũng như bất kỳ một loại hình Bảo hiểm khác để tồn tại và phát triển được
thì phải có nguồn quỹ do các bên tham gia đóng góp. Với mục đích nhân đạo,
không đặt mục đích kinh doanh lên hàng đầu, quỹ Bảo hiểm y tế được hình thành
chủ yếu từ ba nguồn chính là: do người sử dụng lao động, người lao động và người
có nhu cầu tham gia Bảo hiểm đóng góp theo những tỷ lệ, mức nhất định do Nhà
18


nước quy định, do Bảo hiểm y tế tính mức phí (với đối tượng tham gia tự nguyện).
Ngoài ra nguồn quỹ còn được sự hỗ trợ từ Ngân sách Nhà nước cũng như kết quả
đầu tư mang lại.
Quỹ Bảo hiểm y tế với đặc điểm là quỹ ngắn hạn điều này thể hiện rõ nhất
với đối tượng tham gia tự nguyện cứ sau 1 năm hoặc 6 tháng thì người tham gia
phải đóng phí một lần, đồng thời việc chi trả cho người tham gia cũng thường
xuyên được thực hiện trong năm. Do vậy việc đảm bảo cân đối thu chi cho nguồn
quỹ nói chung, nhánh tự nguyện nói riêng là thực sự cần thiết trong quá trình tồn tại
và phát triển.

BẢO HIỂM Y TẾ TỰ NGUYỆN.
1. Mở rộng đối tượng tham gia.
1.1. Tăng nhanh đối tượng tham gia.
Do đặc thù cũng như đặc điểm của hoạt đông Bảo hiểm là thực hiện nguyên
tắc số lớn, Bảo hiểm y tế tự nguyện cũng vậy. Do đó để phát triển loại hình này đòi
hỏi phải không ngừng tăng nhanh đối tượng tham gia trong qúa trình phát triển loại
hình, làm được điều này sẽ giúp cho nguồn quỹ Bảo hiểm y tế tự nguyện sẽ tăng
trưởng nhanh và đảm bảo chăm sóc tốt sức khoẻ của người tham gia.
1.2. Nâng cao quyền lợi của người tham gia.
Tâm lý của người tham gia là luôn luôn mong muốn được hưởng dịch vụ
khám chữa bệnh tốt nhất khi họ không may gặp rủi ro về bệnh tật, điều này đặc biệt
đúng với đối tượng tham gia tự nguyện. Do vậy để có thể thuyết phục cũng như mở
rộng được đối tượng tham gia tự nguyện, thì công tác đảm bảo cũng như nâng cao
quyền lợi của người tham gia là đặc biệt quan trọng.
1.3. Giáo dục ý thức của người tham gia thông qua tuyên truyền.
Phần lớn người dân ở nước ta trong thực tế vẫn chưa hiều được đầy đủ về lợi
ích khi tham gia Bảo hiểm y tế. Do vậy nên chăng Bảo hiểm y tế cũng như các cơ
sở y tế thực hiện các biện pháp tuyên truyền sau:
- Chú trọng tới công tác tuyên truyền, hướng dẫn giải thích trực tiếp tại cơ sở
khám chữa bệnh, gắn liền với chủ trương thực hiện cải cách hành chính trong khám
chữa bệnh Bảo hiểm y tế.
- Làm bảng chỉ dẫn, áp phích, tranh cổ động Bảo hiểm y tế tự nguyện.
- Phối hợp với bệnh viện, toạ đàm với Bác sĩ, bệnh nhân, phát tài liệu tuyên
truyền tờ gấp thông báo quyền lợi và trách nhiệm khi khám chữa bệnh.
- Triển khai thực hiện công tác thông tin tuyên truyền đi vào chiều sâu thông
qua hệ thống Tuyên giáo các cấp để từ đó Tuyên giáo các cấp chỉ đạo quần chúng
thực hiện tốt chủ trương chính sách Bảo hiểm y tế.
- Hợp tác chặt chẽ với hệ thống thông cơ quan thông tin đại chúng ở địa
phương, ngành xây dựng đội ngũ công tác viên tích cực cho công tác thông tin
tuyên truyền, có chế độ thù lao đông viên hợp lý, để khuyến khích kịp thời những

thuốc đầy đủ, chính xác thông tin khoa học về thuốc không coi thông tin về thuốc từ
các nhà kinh doanh thuốc là nguồn thông tin chủ yếu.
- Ngoài ra ta cũng nên áp dụng việc sử dụng thuốc gốc (thuốc đã hết bản
quyền sáng chế và sản xuất) trong trị bênh như các nước phát triển, việc này sẽ giúp
ta giảm được một khoản chi phí lớn.
4. Xây dụng kiện toàn đội ngũ quản lý.
Với đôi ngũ cán bộ quản lý, Nhà nước cũng như Bảo hiểm y tế cần có chính
sách đào tạo nguồn cán bộ quản lý sao cho đúng chuyên ngành. Bởi vì hiện nay cán
bộ quản lý ở các cấp quản lý hầu như không được đào tạo đúng chuyên ngành. Điều
này ảnh hưởng trực tiếp đến công việc quản lý Bảo hiểm y tế ở các cấp.
Mặt khác cần có chính sách phối hợp giữa nguồn đào tạo và cơ quan Bảo
hiểm y tế, theo em việc này sẽ giúp cho sinh viên chuyên ngành cập nhật nhan
những thay đổi trong chính sách, quy định của Bảo hiểm y tế, cũng như làm quen
với công tác điều hành quản lý cũng như khai thác Bảo hiểm y tế, để từ đó tránh
được bỡ ngỡ cũng như dễ hoà nhập vào công việc sau khi ra trường nhận công tác.
5. Quản lý nguồn quỹ.
Quỹ Bảo hiểm y tế là nguồn sống của chính sách Bảo hiểm y tế nói chung
nhánh tự nguyện nói riêng, do đó nên chăng Nhà nước cũng như Bảo hiểm y tế Việt
nam có chính sách sau để đảm bảo sự cân đối và phát triển của nguồn quỹ:
- Giám sát việc sử dụng quỹ sao cho thực hiện đúng mục đích chi, cũng như
việc quy định một tỷ lệ rõ ràng về việc chi cho quản lý, việc này nên được thực
thống nhất trong toàn hệ thống Bảo hiểm y tế.
21


- Có những chính sách cũng như quy định cụ thể về việc đầu tư tăng trưởng
nguồn quỹ sao cho vừa đảm bảo được sự an toàn cũng như phát triển của nguồn
quỹ.

22

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nghị định của Chính phủ số 58/1998/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 1998 ban hành
điều lệ Bảo hiểm y tế.
Truy cập ngày 03-08-2017 từ https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bao-hiem/Nghi-dinh58-1998-ND-CP-Dieu-le-Bao-hiem-y-te-41962.aspx.
2. Những điều cần biết về chính sách BẢO HIỂM Y TẾ.
Truy cập ngày 03-08-2017 từ http://bhxhtphcm.gov.vn/bao-hiem-y-te/bao-hiem-y-tebat-buoc/17/nhung-dieu-can-biet-ve-chinh-sach-Bảo hiểm y tế/.
3. Hồ Sĩ Sà (2000), “Bảo hiểm y tế”, Giáo trình bảo hiểm, Nhà xuất bản Thống kê,
trang 80- 90.
4. Công ty Luật Minh Gia (2015), Bảo hiểm y tế tự nguyện.
Truy cập ngày 03-08-2017 từ https://luatminhgia.com.vn/kien-thuc-lao-dong/baohiem-y-te-tu-nguyen.aspx.
5. Lê Thùy Dung (2011), “Đánh giá thực trạng triển khai Đánh giá thự trạ triển BẢO
HIỂM Y TẾ HS - SV tại cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam”, Luận văn tốt nghiệp.
6. Thực trạng Bảo hiểm y tế tự nguyện ở Việt Nam và các giải pháp hoàn thiện để phát
triển (2012).
Truy cập ngày 02-08-2017 từ http://tailieu.vn/doc/luan-van-thuc-trang-bao-hiem-y-tetu-nguyen-o-viet-nam-va-cac-giai-phap-hoan-thien-de-phat-trien-1301266.html.
7. Công ty tư vấn Việt Luật (20-11-2015), “Những nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm”.
Truy cập ngày 02-08-2017 từ https://phaply24h.net/bai-viet/nhung-nguyen-tac-co-bancua-bao-hiem.
8. Đỗ Thu Hà (2017), “Bảo hiểm y tế, luật Bảo hiểm y tế Việt Nam”
9.

Nghị định 95/CP ngày 27/08/1994 của Chính phủ ngày 27-8-1994 về việc
thu một phần viện phí.

Truy cập ngày 03-08-2017 từ http://www.moj.gov.vn/vbpq/lists/vn%20bn%20 php
%20lut/view_detail.aspx?itemid=10282.

24




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status