Một số giải pháp góp phần phát triển bền vững hoạt động sản xuất rau sạch tại xã vân nội huyện đông anh - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NN & PT NÔNG THÔN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
-----------------------------

PHẠM THỊ HẢI PHƯỢNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT RAU SẠCH TẠI
XÃ VÂN NỘI – HUYỆN ĐÔNG ANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Hà Nội, 2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NN & PT NÔNG THÔN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
------------------------------

PHẠM THỊ HẢI PHƯỢNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT RAU SẠCH TẠI
XÃ VÂN NỘI – HUYỆN ĐÔNG ANH


lượng lớn các chất độc hại trong đó nguy hiểm nhất là trong các loại rau quả
tươi. Theo thống kê của ngành rau quả Việt Nam trong những năm qua, một
số trường hợp rau quả đã chứa hàm lượng chất độc quá ngưỡng cho phép.
Một số địa phương đã xảy ra hàng ngàn trường hợp ngộ độc do ăn phải thực
phẩm chứa nhiều độc tố, có một số trường hợp dẫn đến tử vong.
Do đặc thù của cây rau có tính chất của một cây ngắn ngày có thể trồng
nhiều vụ trong một năm và trồng xen kẽ với các loại cây trồng khác nên nó
góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tạo công ăn việc làm và nâng cao
thu nhập cho người sản xuất. Ngoài ra các sản phẩm phụ của ngành sản xuất
rau còn là nguồn thức ăn phong phú tạo điều kiện phát triển chăn nuôi trở


2

thành một trong những ngành chính cân đối với ngành trồng trọt.
Trong thời kì hiện nay, khi nền kinh tế nước ta đang trên đà hội nhập
vào tổ chức thương mại thế giới WTO thì nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp,
công nghiệp, dịch vụ không chỉ đơn thuần là nhu cầu về số lượng mà còn đòi
hỏi cả về chất lượng có như vậy thì sản phẩm nông nghiệp nói chung và
ngành sản xuất rau xanh nói riêng mới có thể đứng vững được trên thị trường
thế giới và đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm nông nghiệp của các nước
bạn. Tuy nhiên nền nông nghiệp nước ta vẫn còn lạc hậu, chưa đưa được
những tiến bộ khoa học vào sản xuất và chế biến làm cho chất lượng hàng
nông sản vẫn còn kém chất lượng, chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế
giới. Đứng trước tình hình đó thì câu hỏi đặt ra cho ngành sản xuất rau là phải
làm gì để có những sản phẩm tươi, sạch đáp ứng nhu cầu của toàn xã hội và
xuất khẩu ra nước ngoài.
Để khắc phục tình trạng trên, công nghệ sản xuất rau sạch hay rau an
toàn ngày càng trở nên phổ biến và đã được sự ủng hộ của cộng đồng. Hiện
nay việc nghiên cứu, bố trí, triển khai sản xuất rau sạch ở một số thành phố

Nội – Đông Anh.
+ Chỉ ra được những nhân tố ảnh hưởng tới tính bền vững của hoạt
động KD rau sạch trên địa bàn xã Vân Nội
+ Đề xuất được một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển bền vững và
nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất rau sạch trên địa bàn xã Vân Nội.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
3.1 Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hoạt động sản xuất kinh doanh
rau sạch trên địa bàn xã Vân Nội, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội


4

3.2 Phạm vi nghiên cứu.
+Phạm vi về nội dung:
Đề tài tập trung chủ yếu vào khâu sản xuất rau sạch.
Đề tài xem xét về tính bền vững trên các khía cạnh: kinh tế, xã hội, môi
trường của hoạt động sản xuất kinh doanh rau sạch trên địa bàn xã Vân Nội.
+Phạm vi về không gian: Đề tài thực hiện tại xã Vân Nội – huyện Đông
Anh – Hà Nội.
+Phạm vi về thời gian: Thời gian nghiên cứu trong 3 năm gần đây
(2009-2011).
4 - Nội dung nghiên cứu.
- Cơ sở lý luâ ̣n về vấ n đề nghiên cứu.
- Thực trạng hoạt động SXKD rau sạch trên địa bàn xã Vân Nội
- Giải pháp phát triển bền vững SXKD rau sạch trên địa bàn xã Vân Nội


5



nước tư bản chủ nghĩa cũng như xã hội chủ nghĩa tiếp tục đi sâu vào công
nghiệp hoá, nhiều nước mới được giải phóng khỏi chế độ thực dân cũng có
điều kiện phát triển mạnh mẽ nền kinh tế của mình. Một số nhân tố mới như
cách mạng khoa học và kỹ thuật, sự bùng nổ dân số, sự phân hoá các quốc gia
về thu nhập đã tạo nên nhiều nhu cầu và khả năng mới về khai thác tài nguyên
thiên nhiên và can thiệp vào môi trường. Trật tự bất hợp lý về kinh tế thế giới
đã tạo nên hai loại ô nhiễm: “ô nhiễm do thừa thãi” tại các nước tư bản chủ
nghĩa phát triển và: “ô nhiễm do đói nghèo” tại các nước chậm phát triển về
kinh tế.
Có thể nói rằng mọi vấn đề về môi trường đều bắt nguồn từ phát triển.
Nhưng con người cũng như tất cả mọi sinh vật khác không thể ngừng tiến hoá
và ngừng sự phát triển của mình. Đó là qui luật của sự sống, của tạo hoá mà
vạn vật đều phải tuân theo một cách tự giác hay không tự giác. Con đường để
giải quyết mâu thuẫn giữa môi trường và phát triển là phải chấp nhận phát
triển, nhưng giữ sao cho phát triển không tác động một cách tiêu cực tới môi
trường. Phát triển đương nhiên sẽ biến đổi môi trường, nhưng làm sao cho
môi trường vẫn làm đầy đủ các chức năng: đảm bảo không gian sống với chất
lượng tốt cho con người, cung cấp cho con người các loại tài nguyên cần
thiết, tái xử lý các phế thải của hoạt động của con người, giảm nhẹ tác động
bất lợi của thiên tai, duy trì các giá trị lịch sử văn hoá, khoa học của loài
người. Hay nói một cách khác đó là: phát triển bền vững (PTBV).
Phát triển bền vững là một quá trình phát triển hài hòa với điều kiện xã
hội và điều kiện tự nhiên, từ đó có thể gia tăng khả năng đáp ứng nhu cầu
ngày càng cao của thế hệ hiện tại nhưng không làm phương hại đến khả năng
đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai. Phát triển bền vững là một phương
hướng phát triển được các quốc gia trên thế giới ngày nay hướng tới, đó là
niềm hy vọng lớn của toàn thể loài người.




1.1.1.2. Nông nghiệp bền vững:
Nông nghiệp bền vững là “việc thiết kế những hệ thống cư trú lâu bền
của con người; đó là một triết lý và một cách tiếp cận về việc sử dụng đất tạo
ra mối liên kết chặt chẽ giữa tiểu khí hậu, cây hằng năm, cây lâu năm, súc vật,
đất, nước và những nhu cầu của con người, xây dựng những cộng đồng chặt
chẽ và có hiệu quả” [5].
Nông nghiệp bền vững chủ trương bảo vệ môi trường, tạo dựng một
môi trường trong lành và sử dụng một cách hợp lý tài nguyên thiên nhiên.
Mục đích của nông nghiệp là kiến tạo một hệ thống bền vững về mặt sinh
thái, có tiềm lực về mặt kinh tế, có khả năng thỏa mãn những nhu cầu của con
người mà không làm hủy diệt đất đai, không làm ô nhiễm môi trường.
Nông nghiệp bền vững tạo ra một hệ sinh thái nông nghiệp sản xuất
lương thực, thực phẩm cho người, thức ăn cho chăn nuôi nhiều hơn so với
các hệ thống tự nhiên. Nông nghiệp bền vững là một hệ thống mà trong đó
con người tồn tại và sử dụng những nguồn năng lượng không độc hại, tiết
kiệm và tái sinh năng lượng, sử dụng nguồn tài nguyên phong phú của
thiên nhiên mà không liên tục phá hoại những nguồn tài nguyên đó. Nông
nghiệp bền vững không chỉ bảo vệ những hệ sinh thái đã có trong tự nhiên
mà còn tìm cách khôi phục những hệ sinh thái đang bị suy thoái [5].
1.1.1.3. Phát triển nông nghiệp bền vững:
 Khái niệm:
Có nhiều khái niệm khác nhau về phát triển nông nghiệp bền vững. Tổ
chức Nông lương của Liên hợp quốc (FAO) năm 1992 quan niệm rằng “Phát
triển nông nghiệp bền vững là sự quản lý và bảo tồn sự thay đổi về tổ chức và
kỹ thuật nhằm đảm bảo thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người cả
cho hiện tại và mai sau. Sự phát triển như vậy của nền nông nghiệp sẽ đảm
bảo không tổn hại đến môi trường, không giảm cấp tài nguyên, sẽ phù hợp về



- Phát triển nông nghiệp bền vững là cực đại hoá phúc lợi hiện tại
không làm giảm thiểu các phúc lợi ấy trong tương lai.
- Phát triển nông nghiệp bền vững là hướng phát triển mà trong đó giá
trị của vốn thiên nhiên không bị suy giảm qua thời gian [5].
Trên quan điểm phát triển, sự phát triển nông nghiệp một cách bền
vững vừa đảm bảo nhu cầu hiện tại ngày càng tăng về sản phẩm nông nghiệp
vừa tăng khả năng đáp ứng nhu cầu của nhân loại trong tương lai. Mặt khác,
phát triển nông nghiệp bền vững vừa theo hướng đạt năng suất nông nghiệp
cao hơn, vừa bảo vệ và giữ gìn tài nguyên thiên nhiên đảm bảo sự cân bằng có
lợi về môi trường. Chỉ có tăng năng suất mới có thể đáp ứng nhu cầu ngày
càng tăng của con người về sản phẩm nông nghiệp. Việc tăng năng suất này
phải được thực hiện một cách ổn định, bền vững, nông nghiệp không bị chao
đảo trước các “cú sốc” của kinh tế thị trường. Tăng năng suất nông nghiệp
trước hết phải tăng hiệu quả sử dụng đất đai, lao động, vốn, sử dụng có hiệu
quả các nguồn lực khan hiếm để thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng về sản
phẩm nông nghiệp.
Như vậy, phát triển nông nghiệp bền vững là sự quản lý và bảo tồn sự
thay đổi về tổ chức và kỹ thuật nhằm bảo đảm thỏa mãn nhu cầu ngày càng
tăng của con người cả cho hiện tại và tương lai. Sự phát triển như vậy của nền
nông nghiệp sẽ không làm ảnh hưởng đến môi trường, không giảm cấp tài
nguyên, phù hợp về kỹ thuật và công nghề, có hiệu quả kinh tế và được xã hội
chấp nhận [5].


11

 Đặc trưng của phát triển nông nghiệp bền vững:
Phát triển nông nghiệp - nông thôn bền vững là quá trình đa chiều bao gồm:
(i) Tính bền vững của chuỗi lương thực (từ người sản xuất đến tiêu thụ,
liên quan trực tiếp đến cung cấp đầu vào, chế biến và thị trường).

cho môi trường sinh thái.
Phát triển sản xuất rau sạch nhằm cung ứng cho thị trường sản phẩm
sạch có lợi cho sức khoẻ, sản xuất sản phẩm thị trường cần, đáp ứng nhu cầu
thị hiếu, hướng dẫn thị trường, điều tiết hướng dẫn tiêu dùng, góp phần phát
triển kinh tế, ổn định xã hội, bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng cuộc
sống, góp phần tổ chức lại sản xuất và lưu thông phân phối theo hướng văn
minh, hiện đại; góp phần phát triển bền vững.
- Cung cấp sản phẩm sạch
Sản phẩm cung ứng cho thị trường tiêu dùng đòi hỏi phải là sản phẩm
đạt được những tiêu chí cơ bản: chất lượng, mẫu mã, hình thức bề ngoài. Yêu
cầu về chất lượng đối với hàng nông sản, thực phẩm là phải đảm bảo dưỡng
chất cung cấp năng lượng cho con người, vệ sinh và an toàn cho sức khoẻ.
Phát triển bền vững và tổ chức cung ứng rau sạch là thực hiện cung ứng sản
phẩm sạch cho nhu cầu tiêu dùng của con người, góp phần phát triển chỉ số
con người một cách toàn diện về trí tuệ và sức khoẻ. Đồng thời, phát triển bền
vững rau sạch góp phẩn loại trừ những sản phẩm gây ảnh hưởng bất lợi cho
sức khoẻ của con người vẫn đang lưu thông trên thị trường.
Phát triển bền vững sản xuất rau sạch nhằm mục tiêu tạo ra những vùng
sản xuất an toàn tập trung, có năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao, hiệu
quả môi trường thân thiện với sức khoẻ cộng đồng, hiệu quả xã hội cho người
sản xuất đạt được ở mức độ tốt nhất.
- Đáp ứng xu hướng thị hiếu tiêu dùng
Cuộc sống chất lượng đòi hỏi phải được cung ứng các sản phẩm, các
dịch vụ tốt. Nhu cầu tiêu dùng của con người ngày càng đòi hỏi về số lượng


13

và chất lượng của các sản phẩm. Khi điều kiện kinh tế còn khó khăn, nhu cầu
trọng tâm là đòi hỏi thoả mãn về lượng, nhưng khi trình độ sản xuất xã hội

ngoài ra còn tận dụng được cả lao động và những tư liệu sản xuất khác. Cây
rau còn là cây có giá trị kinh tế cao, tạo ra nguồn thu nhập lớn cho hộ nông
dân. Do đó, phát triển rau sạch có ý nghĩa lớn về kinh tế và xã hội, tạo việc
làm, tận dụng lao động, đất và nguồn tài nguyên…Sản xuất rau sạch đang là
yếu tố quan trọng trong việc phát triển nông nghiệp theo hướng hàng hoá.
Rau còn là nguồn xuất khẩu quan trọng và là nguồn nguyên liệu cho
chế biến. Rau có ý nghĩa mở rộng quan hệ quốc tế, góp phần tăng nguồn thu
ngoại tệ cho nền kinh tế quốc dân trên con đường công nghiệp hoá - hiện đại
hoá. Sản xuất rau sạch tạo ra các mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao,
đóng góp một phần đáng kể vào quá trình sản xuất chung của cả nước.
Sản xuất rau sạch cung cấp nguyên liệu để phát triển ngành công
nghiệp thực phẩm nhằm tăng dự trữ, góp phần điều hoà cung trên thị trường,
ổn định giá cả. Đồng thời, một số loại cây rau như khoai tây, khoai sọ có giá
trị như cây lương thực nên trong thời gian qua đã góp phần vào việc đảm bảo
an ninh lương thực của quốc gia. Sản xuất rau còn là nguồn cung cấp thức ăn
cho chăn nuôi, góp phần phát triển ngành chăn nuôi thành ngành sản xuất
chính.
Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam đang phải đối đầu với những khó
khăn và thách thức lớn của sự phát triển kinh tế như quy mô sản xuất nhỏ lẻ,
manh mún, công nghệ lạc hậu, chất lượng sản phẩm còn thấp, khả năng hợp
tác liên kết của nông dân Việt Nam còn yếu. Vì vậy, phát triển bền vững rau
sạch, bảo vệ sức khoẻ cho người tiêu dùng, không chỉ là vấn đề tất yếu của
sản xuất nông nghiệp hiện nay, mà còn góp phần nâng cao tính cạnh tranh của
nông sản hàng hoá trong điều kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại
thế giới (WTO), mở ra thị trường tiêu thụ rộng rãi trong và ngoài nước và
khuyến khích phát triển sản xuất.


15



- Vùng rau sạch phải được bố trí trên vùng đất có truyền thống trồng
rau, có trình độ kỹ thuật thâm canh cao, có điều kiện cơ sở hạ tầng, cơ sở vật
chất kỹ thuật như: Hệ thống giao thông để vận chuyển giống phân bón, sản
phẩm đến sản xuất và tiêu thụ, hệ thống kênh mương nội đồng để cung cấp
nước tưới.
- Vùng rau sạch phải không nằm trong các vùng quy hoạch xây dựng
đô thị trong tương lai và cách ly với khu vực sản xuất có nguy cơ gây ô
nhiễm. Vùng rau sạch phải đảm bảo các điều kiện về môi trường như: Phải
cách xa khu công nghiệp, xa đường quốc lộ ít nhất 100m. Trong đất và nước
tưới không chứa các nguyên tố gây độc hại cho sức khoẻ con người như dư
lượng thuốc BVTV, dư lượng kim loại nặng, đủ tiêu chuẩn vệ sinh...[4].
Theo quan điểm của PGS.TS Trần Khắc Thi, chuyên ngành trồng trọt –
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho rằng thì sản phẩm rau sạch khi
đáp ứng yêu cầu sau:
- Sạch hấp dẫn về hình thức: tươi, sạch bụi bẩn, không tạp chất, thu
đúng độ chín (khi có chất lượng cao), không có triệu chứng bệnh, có bao bì vệ
sinh hấp dẫn.
- Sạch an toàn về chất lượng: Khi sản phẩm rau không có chứa lượng
thuốc BVTV, lượng NO3-, kim loại nặng và lượng vi sinh vật gây bệnh không
vượt quá ngưỡng cho phép của tổ chức Y tế thế giới [7].
Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Thành phố Hà Nội có 2 khái
niệm về rau sạch là rau sạch tương đối và rau sạch tuyệt đối như sau:
- Rau sạch an toàn (rau sạch tương đối): là rau đáp ứng được các tiêu
chuẩn về dư lượng thuốc trừ sâu, hàm lượng nitrat, hàm lượng kim loại nặng
và lượng vi sinh vật gây bệnh theo tiêu chuẩn của tổ chức Y tế thế giới.
- Rau sạch tuyệt đối: Ngoài các tiêu chuẩn về rau sạch an toàn, rau sạch
tuyệt đối còn không được dùng thuốc trừ sâu trong canh tác [4].




18

+ Hàm lượng nitrat (NO3) tích luỹ trong sản phẩm rau (Phụ lục 1 Bảng 1.1) [4].
+ Mức độ nhiễm các vi sinh vật gây bệnh như E. coli, Samonella sp…
và ký sinh trùng đường ruột như trứng giun đũa Ascaris sp… (Phụ lục 1 Bảng 1.2) [4].
+ Hàm lượng tích luỹ của một số kim loại nặng chủ yếu như chì (Pb),
thuỷ ngân (Hg), Asen (As), cadimi (Cd), đồng (Cu)… (Phụ lục 1 - Bảng 1.3)
[4].
Sản phẩm rau chỉ được coi là đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm khi
hàm lượng tồn dư của các chỉ tiêu nêu trên không vượt quá giới hạn tiêu
chuẩn quy định.
Trong đời sống hàng ngày, rau sạch thường được gọi là rau an toàn. Vì
vậy, cần có sự phân biệt một cách chính xác hơn. Khái niệm rau sạch sử dụng
để chỉ các loại rau có chất lượng tốt, với dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật,
các kim loại nặng (Cu, Pb, Cd...), nitrat cũng như các vi sinh vật có hại đối
với sức khoẻ con người ở dưới mức tiêu chuẩn cho phép theo tiêu chuẩn của
FAO, WTO hoặc tiêu chuẩn Việt Nam. Đây là các chỉ tiêu quan trọng nhất
nhằm xác định mức độ an toàn vệ sinh thực phẩm cho rau quả “sạch”[7].
Rau sạch (sạch hoàn toàn) là loại rau được sản xuất bằng công nghệ
sinh học, hoàn toàn không sử dụng phân hoá học, hoá chất bảo vệ thực vật.
rau sạch được sản xuất theo quy trình vệ sinh đồng ruộng, bón phân sinh học
và phòng trừ sâu bệnh bằng biện pháp sinh học. Mức độ đảm bảo các tiêu
chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm của rau sạch cao hơn nhiều so với rau an
toàn.
Sản xuất rau sạch là một bộ phận của ngành sản xuất nông nghiệp. Bên
cạnh những đặc điểm chung thì sản xuất rau sạch còn có những đặc điểm
riêng:




20

- Hạt giống được kiểm định chất lượng, có khả năng kháng sâu bệnh
cao, không chứa mầm bệnh gây hại. Trước khi gieo hạt giống hoặc cây con,
cần được xử lý bằng hoá chất hoặc bằng nhiệt và cần gieo trồng đúng thời vụ
thích hợp nhất cho từng loại cây.
- Đất trồng rau không được nhiễm bẩn, nhiễm độc của thuốc bảo vệ
thực vật và kim loại nặng. Cấu trúc đất trung bình, pH từ 5,5 - 6,8. Hàm lượng
mùn > 1,5%. Không chứa tàn dư sâu bệnh. Đất cao ráo, dễ thoát nước thích
hợp với sinh trưởng và phát triển của cây rau. Phải chọn đất xa khu công
nghiệp, xa bệnh viện, nghĩa trang, đường quốc lộ ít nhất 200m trở lên.
- Nguồn nước sử dụng phải được lấy trực tiếp từ sông Hồng, sông
Đuống hoặc từ giếng khoan. Phải dùng nước sạch để tưới cho cây, không
được dùng nước bẩn để tưới hoặc rửa rau sau thu hoạch.
- Không được dùng phân tươi để bón hoặc tưới mà chỉ dùng phân
chuồng đã được ủ hoai mục, phân hữu cơ vi sinh, phân hỗn hợp hữu cơ,
khoáng theo tỷ lệ cân đối. Sử dụng phân bón qua lá, chất kích thích của các
đơn vị được phép sản xuất, dùng đúng liều lượng và theo hướng dẫn.
- Áp dụng nghiêm ngặt phương pháp quản lý dịch hại tổng hợp IPM
(chọn giống chống bệnh, vệ sinh đồng ruộng, luân canh cây trồng…), không
dùng thuốc bảo vệ thực vật đã cấm sử dụng, chỉ sử dụng thuốc có độ độc thấp,
thời gian phân huỷ nhanh, đảm bảo thời gian cách ly cho phép.
- Cần thu hoạch tại thời điểm rau đạt chất lượng tốt nhất (đúng tiến độ
chín của sản phẩm và đúng thời gian cách ly). Rau cần được phân loại theo
tiêu chí chất lượng và phải được bán ngay. Đồng thời phải có điều kiện chế
biến và bảo quản theo đúng kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất
[4].




22

phân chuồng chưa hoại mục để tránh sự cạnh tranh đạm giữa cây trồng và các
nhóm vi sinh vật đang cần N để phân giải phân chuồng tươi. Với những loại
rau có thời gian sinh trưởng ngắn (ít hơn 60 ngày) bón thúc 2 lần, thời gian
sinh trưởng dài có thể bón thúc 3 lần, kết thúc bón trước lúc thu hoạch 15-20
ngày.
Sử dụng phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng ngay khi mới bén
rễ. Có thể phun 3-4 lần tuỳ từng loại rau, nồng độ theo hướng dẫn của từng
loại rau và từng loại chế phẩm. Nếu sử dụng phân bón lá thì giảm lượng phân
bón hoá học 30-50% [7].
d) Phòng trừ sâu bệnh.
Chọn các loại thuốc có hoạt chất thấp, ít độc hại với ký sinh thiên địch,
kết thúc phun thuốc hoá học trước khi thu hoạch ít nhất là 15 ngày. Ưu tiên sử
dụng các chế phẩm sinh học (BT), các chế phẩm thảo mộc, ký sinh thiên địch
(Ong mắt đỏ...) để phòng trừ sâu bệnh. Áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng
hợp (trồng giống chống sâu bệnh, vệ sinh đồng ruộng, luân canh cây trồng...)
thường xuyên kiểm tra sâu bệnh, phát hiện kịp thời, tập trung phòng trừ sớm.
Chú ý xử lý sạch sâu bệnh trên cây con giống ở vườn ươm trước khi đem
trồng đại trà [7].
e) Thu hoạch và bảo quản:
Thu hoạch đúng thời gian theo quy trình kỹ thuật của từng loại cây để
đảm bảo rau có chất lượng tốt nhất, không bị úa dập nát, bảo quản đúng theo
tiêu chuẩn kỹ thuật của rau sạch.
Ngoài những yêu cầu trên, khu vực trồng rau sạch còn phải bố trí trên
những địa bàn có truyền thống tập quán và kinh nghiệm sản xuất lâu đời, trình
độ kỹ thuật thâm canh cao, có đầy đủ cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật.





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status