Phát triển sinh kế bền vững cho đồng bào di cư tự do tại huyện đăk glong, tỉnh đăk nông - Pdf 43

i

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng Tôi, số liệu và
kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo
vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan, mọi việc giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, Ngày 15 tháng 4 năm 2016
Tác giả luận văn

Đặng Thị Tuyết Mai


ii

LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực tập tốt nghiệp, ngoài sự cố gắng của bản
thân, Tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của nhiều tập thể, cá nhân
trong và ngoài trường.
Để hoàn thành luận văn thạc sỹ kinh tế của mình, Tôi xin gửi lời cảm ơn
chân thành đến toàn thể Quý Thầy giáo, Cô giáo trong Trường đại học Lâm Nghiệp
Việt Nam, Quý Thầy Cô giáo trong Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh đã trang bị
cho Tôi những kiến thức quý báu trong học tập.
Đặc biệt, cho phép Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo
PGS.TS. Nguyễn Văn Tuấ n người đã dành nhiều thời gian, tâm huyết tận tình chỉ
bảo hướng dẫn Tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Phòng nông nghiệp, Huyện ủy - HĐND – UBND
và công an huyện Đăk G’long, UBND và công an và bà con nông dân thuộc diện di

Chương 2. ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN HUYỆN ĐĂK G’LONG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ..........................................................................................................35
2.1. Đặc điểm cơ bản của huyện Đăk G’Long ......................................................35
2.1.1.Các điều kiện tự nhiên ...............................................................................35
2.1.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội......................................................................40
2.2. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................47
2.2.1.Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát ..........................................47
2.2.2. Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu ......................................................47
2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu ..................................................................49
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .....................................................................54
3.1 Thực trạng vấn đề di cư tự do tại Huyện Đăk G’Long ....................................54
3.1.1. Tình hình di cư tự do đến huyện Đăk G’Long .........................................54


iv

3.1.2. Tình hình và kết quả giải quyết vấn đề di cư tự do tại huyện Đăk G’Long
............................................................................................................................58
3.2 Thực trạng sinh kế của người di cư tự do trên địa bàn huyện Đăk G’Long ....59
3.2.1. Thông tin chung về các Hộ gia đình điều tra ...........................................59
3.2.2. Thực trạng các nguồn lực sinh kế của người di cư tự do .........................61
3.2.3 Thực trạng nghề nghiệp sinh kế của người di cư tự do .............................69
3.2.4 Thực trạng nguồn thu nhập sinh kế của người di cư tự do........................72
3.2.5. Những khó khăn trong phát triển sinh kế bền vững của các HGĐ điều tra
............................................................................................................................75
3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự bền vững sinh kế của người di cư tự do trên địa
bàn huyện Đăk G’Long .........................................................................................77
3.4 Những thành công, tồ n ta ̣i trong phát triể n sinh kế bề n vững cho dân di cư tự
do trên huyê ̣n Đăk G’Long ....................................................................................85
3.4.1 Những thành công .....................................................................................85

DTTS

Dân tộc thiểu số

HGĐ

Hộ gia đình

TĐ PTBQ

Tốc độ phát triển bình quân

UNDP

Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (United Nations
Development Programme)

DCKH

Di cư kế hoạch

BQ

Bình quân

WCED

Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển (World
Commission on Enviroment and Development)


Thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến mức hài lòng với cuộc sống
của các hộ DCTD trên địa bàn nghiên cứu

50

3.1

Số liệu dân DCTD đến địa bàn huyện Đắk Glong

56

3.2

Thành phần dân tộc của người DCTD đến huyện Đắk Glong

57

3.3

Thông tin chung về HGĐ điều tra

60

3.4

Tình hình nguồn nhân lực của HGĐ điều tra

62

3.5


Tình hình chi tiêu của HGĐ điều tra

73

3.11

Tình hình hoạt động kinh tế của HGĐ điều tra

75

3.12

Những khó khăn, vướng mắc của các hộ di cư tự do

76

3.13

Các biến đặc trưng và thang đo chất lượng tốt

77

3.14

Kết quả chạy bảng phân tích nhân tố

78

3.15


Kiểm định phương sai ANOVA

83

3.21

Tương quan giữa các nhân tố (Correlations

83

3.22

Vị trí quan trọng của các yếu tố

84


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, nhờ thực thi những chính sách đổi mới gần đây Đảng
và Nhà nước đã triển khai nhiều chính sách nhằm phát triển kinh tế - xã hội cả nước
nói chung và nông nghiệp, nông thôn ở Tây Nguyên nói riêng, đã đạt được nhiều
thành tựu hết sức to lớn.
Tuy nhiên sự phát triển kinh tế - xã hội tại Tây Nguyên trong những năm qua
là nhanh nhưng không vững chắc và không đồng đều giữa các vùng, giữa các đối
tượng dân cư, dân tộc.
Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng trên là tác động

nên một bộ phận đồng bào DTTS có thể tiếp tục di cư vào Tây Nguyên, trong đó có
huyện Đăk G’long, tỉnh Đăk Nông để sinh sống, cộng với 23.566 hộ trong vùng
hiện chưa bố trí ổn định cần sắp xếp vào vùng quy hoạch, chắc chắn sẽ gây khó
khăn cho các cấp chính quyền Tây Nguyên nói chung cũng như huyện Đăk Glong
nói riêng trong công tác quản lý hành chính về đất, rừng, nhân hộ khẩu, chính sách
xã hội, an ninh trật tự...
Điều nan giải là đa số dân DCTD đến địa bàn chủ yếu tìm đến sinh sống
trong các vùng rừng núi, các khu vực rất khó khăn xây dựng kết cấu hạ tầng... Do
đó, công tác tuyên truyền, vận động thực hiện di dời dân cư vào vùng dự án tập
trung còn tốn rất nhiều công sức, tiền của của Nhà nước. Nếu chỉ tính riêng số dân
DCTD từ năm 2004 (từ năm chia tách tỉnh) đến tháng 3/2014 trên địa bàn tỉnh Đắc
Nông là 4.601 hộ/21.619 khẩu. Dân DCTD từ các tỉnh khác nhau đến trên địa bàn 8
huyện, thị của tỉnh và tập trung đông nhất tại địa bàn huyện là Đăk G’long 2.280
hộ/11.506 khẩu, chiếm 22% dân số toàn huyện.
Cùng với những hiệu quả tích cực mang lại, trong quá trình triển khai các dự
án cũng đã và đang nảy sinh những bất cập. Số dân DCTD gia tăng đã làm xáo trộn
và phá vỡ quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, gia tăng tình trạng phá rừng làm
nương rẫy, sang nhượng đất đai trái phép, gây khó khăn cho việc quản lý bảo vệ
rừng, gây phức tạp về an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương đồng thời tăng
sức ép và khó khăn cho các cấp chính quyền trong việc quản lý nhân hộ khẩu, các
nhu cầu về xã hội như giáo dục, y tế, đời sống... Thực trạng đáng lo ngại nhất là số
dân DCTD từ các tỉnh, thành trong cả nước đến địa bàn không giảm mà đang ngày


3

một tăng. Bên cạnh việc giải quyết đời sống cho các hộ dân DCTD đã đến sinh sống
tại các vùng còn nhiều trở ngại, thì vấn đề quản lý tình trạng dân DCTD đến tỉnh
vẫn chưa có biện pháp hữu hiệu.
Xuất phát từ thực tiễn và nhận thức được yêu cầu cấp bách trên, tác giả đã lựa chọn

- Vốn vật chất
- Vốn xã hội
- Vốn tài chính
+ Chiế n lươ ̣c sinh kế (hoạt động sinh kế)
+ Thu nhâ ̣p của sinh kế
Tính bền vững của sinh kế các hộ di cư tự do được nghiên cứu trên các khía cạnh:
- Bền vững về kinh tế
- Bền vững về xã hội
- Bền vững về môi trường, sinh thái
3.2.2 Phạm vi về không gian
Nghiên cứu được triển khai trên địa bàn sinh số ng của các hô ̣ di cư tự do đế n
huyện Đăk G’long, tỉnh Đắk Nông.
3.2.3 Phạm vi về thời gian
- Các số liê ̣u, thông tin về tiǹ h hình di cư tự do, diễn biế n các hoa ̣t đô ̣ng sản
xuấ t và đời số ng của các hô ̣ di cư tự do ở huyện Đăk G’Long, tỉnh Đăk Nông đươ ̣c
thực hiê ̣n trong khoảng thời gian từ 2004 (sau khi tách tỉnh) đến 2015.
- Các số liê ̣u, tài liê ̣u thực tra ̣ng sinh kế của các hô ̣ di cư tự do trên điạ bàn
nghiên cứu huyện Đăk G’Long được khảo sát trong khoảng thời gian từ năm 2014
đế n 2015.
4. Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sinh kế bền vững cho người DCTD
- Thực trạng sinh kế của người dân DCTD trên địa bàn huyện Đăk G’long.
- Những nhân tố ảnh hưởng đến sinh kế của đồng bào di cư tự do trên địa bàn
huyện Đăk G’long.
- Đưa ra giải pháp phát triển sinh kế bền vững cho đồng bào di cư tự do trên
địa bàn huyện Đăk G’long.


5


6

đơn vị, một hạt nhân hoàn toàn biệt lập trong xã hội. Trong thực tế, quyết định di cư
không mang tính cá nhân mà là một chiến lược mang tính gia đình.
Theo khái niệm của Liên hiệp quốc, di cư là sự di chuyển từ một đơn vị lãnh
thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác, hoặc là sự di chuyển với khoảng cách tối
thiểu quy định. Sự di chuyển này diễn ra trong khoảng thời gian di dân xác định và
được đặc trưng bởi sự thay đổi nơi cư trú thường xuyên.
Di cư theo nghĩa đen là hiện tượng di chuyển để mưu sinh của bầy đoàn khi
chuyển mùa, hoặc khi có những thay đổi bất lợi của môi trường sống.
Nơi xuất cư (đầu đi): Là địa phương đưa dân đi, hoặc dân tự đi đến các vùng
thuộc các tỉnh khác, hoặc trong phạm vi của tỉnh; người dân đi từ địa phương này
gọi là xuất cư.
Nơi nhập cư (đầu đến): Là địa phương có dân đến định cư theo kế hoạch hoặc
đến tự do. Người dân định cư ở vùng mới gọi là dân nhập cư.
+) Di dân
Di dân (migration) hay di cư là một hình thức di chuyển trong không gian
của con người từ một đơn vị địa lý hành chính khác, kèm theo sự thay đổi chỗ ở
thường xuyên trong khoảng thời gian di dân xác định” ( Liên hiệp quốc, 1958)
Định nghĩa của Liên hiệp quốc đã loại ra những trường hợp người sống lang
thang, dân du mục, di dân theo mùa và di dân theo kiểu con lắc (đi về hàng ngày).
Nhìn chung, ở đa số các nước, dân cư di chuyển ra khỏi giới hạn hành chính của
một thành phố, tỉnh, huyện trong một khoảng thời gian xác định được xem là di dân.
Di dân là sự dịch chuyển của con người trong một không gian và thời gian
nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn.
Di dân là sự di chuyển của dân cư từ một đơn vị hành chính lãnh thổ này đến
một đơn vị hành chính lãnh thổ khác nhằm thiết lập một nơi cư trú mới trong một
thời gian nhất định.
+ Theo nghĩa rộng: Di dân là sự dịch chuyển bất kỳ của con người trong một
không gian và thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh

+ Theo độ dài thời gian cư trú, có thể phân di cư thành các loại:
- Di cư lâu dài: Gồm các hình thức thay đổi nơi cư trú thường xuyên và nơi
làm việc đến nơi ở mới với mục đích sinh sống lâu dài, trong đó phần lớn những
người di cư là do chuyển công tác đến nơi khác xa nơi ở cũ, những người tìm kiếm


8

cơ hội mới di chuyển đến những nơi có điều kiện kinh tế - xã hội tốt hơn, có thể tìm
kiếm việc làm và cuộc sống mới;
- Di cư tạm thời: Là sự thay đổi nơi ở cũ lâu dài và đến một lúc nào đó sẽ
quay trở lại nơi ở cũ, di cư này thường là sự di chuyển theo mùa vụ hoặc theo
thời gian;
- Di cư chuyển tiếp: Là sự di cư mà đích đến sẽ là một nơi khác tiếp theo chứ
không phải là nơi vừa mới tới.
+ Theo không gian: Có thể hình thành các loại di cư trong một vùng hoặc
giữa nơi đi và nơi đến; di dân giữa các nước thì gọi là di cư quốc tế, di cư trong
nước hoặc nội vùng thì gọi là di cư nội địa.
+ Theo hình thức tổ chức, di cư được chia thành 2 loại:
- Di dân có tổ chức (di dân theo kế hoạch của Nhà nước): Sự di chuyển này
được thực hiện theo các chương trình, mục tiêu của Nhà nước vạch ra trực tiếp chỉ
đạo, tổ chức thực hiện. Hình thức này được sự hỗ trợ và giúp đỡ cần thiết từ nhà nước
để ổn định đời sống, kinh tế - xã hội của cộng đồng di dân cả ở nơi đi và nơi đến;
hình thức này thường là di dân đến vùng kinh tế mới, bảo vệ an ninh quốc phòng
hoặc di dân để thực hiện các dự án của Nhà nước;
- Di cư không có tổ chức, lại được phân chia thành hai loại: di dân tự do và
di dân bất hợp pháp.
Di dân tự do: Di dân tự do (tự phát) là hiện tượng di dân do một người, một
hộ gia đình, hoặc nhóm hộ tự thực hiện không theo một phương án, chương trình và
sự quản lý, điều hành của bất kỳ một cơ quan hoặc tổ chức nào.

người dân địa phương trong những lúc thời vụ (thu hái cà phê, chăm sóc cây cao su,
thu hái chè và các loại nông sản khác). Dân DCTD đến địa phương nào thì họ cũng
đã tham gia tích cực vào thị trường lao động tại các địa phương đó;
- Di cư tự do đã tạo cơ hội việc làm cho họ và phần đông trong số họ đã có
nguồn thu nhập cao hơn so với nơi ở cũ. Trong các chỉ tiêu so sánh giữa nơi ở cũ và
nơi ở mới, thực tế cho thấy chỉ có hai chỉ tiêu là việc làm và thu nhập tại nơi ở mới
được đánh giá là tốt hơn, các chỉ tiêu khác như nhà ở, tiện nghi sinh hoạt, điều kiện
học hành con cái, ý tế, giao thông, mua bán, thông tin liên lạc là kém hơn hoặc bằng
nơi ở cũ.

- Di cư tạo cơ hội tăng thu nhập, góp phần nâng cao mức sống gia đình và
giảm đói nghèo ở các vùng nông thôn có thu nhập thấp. Ngoài ra, dân di cư tự do đã


10

cung cấp một lực lượng lao động làm thuê cho các nông - lâm trường địa phương
trong những lúc thời vụ (thu hái cà phê, chăm sóc cây cao su, thu hái chè và các loại
nông sản khác). Di cư tự do đến địa phương nào thì họ cũng đã tham gia tích cực vào
thị trường lao động tại các địa phương đó.
- Đối với nơi có dân đi: Các đối tượng di cư để lại một số diện tích đất canh
tác, vườn cây cho những người ở lại sản xuất, tạo thêm cơ hội việc làm cho người
dân ở lại địa phương, giảm sức ép về dân số đối với các vùng "đất chật, người
đông". Một số dân DCTD làm ăn khá đã góp phần giải quyết khó khăn về kinh tế
cho gia đình, bà con thân thích ở quê cũ;
- Về mặt xã hội: DCTD còn góp phần tích cực đưa thêm ngành nghề đến nơi
nhập cư; góp phần thực hiện các chính sách và nghĩa vụ công dân như thuế, nghĩa vụ
quân sự và thực hiện đóng góp xây dựng địa phương mới nhập cư.
+ Những tác động tiêu cực
- Song song với mặt tích cực thì DCTD cũng làm nảy sinh những mặt tiêu cực

hành chính trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng gần như không thực hiện được vì họ
không có gì ngoài hai bàn tay trắng và niềm tin tồn tại bằng sự khai phá đất rừng để
canh tác;
+ Thu nhập và đời sống của số dân DCTD thấp kém lại đến những vùng mà
ở đó dân bản địa đời sống cũng còn khó khăn, cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời
sống chưa có gì đáng kể. Ngân sách địa phương có hạn, nhà nước chưa có chính
sách hỗ trợ về mặt tài chính, trách nhiệm của địa phương có dân đi không được tốt;
+ Các địa phương có dân di cư đến cũng như các địa phương có dân đi chưa
có quy hoạch tổng thể về sử dụng đất đai, về phân bổ lao động và dân cư, về các
vùng định canh định cư, các vùng kinh tế mới nên các dự án xây dựng thường bị
động, phiến diện lại không được đầu tư dứt điểm, không đáp ứng được yêu cầu bức
bách của người dân di chuyển;
+ Sự quản lý của địa phương cũng có nhiều bất cập và tồn tại như chưa tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục một cách liên tục, rộng rãi đối với mọi tầng lớp dân cư
(đặc biệt là vùng nông thôn, miền núi những vùng có dân đi và đến) về các quy định
quản lý hộ khẩu, về di cư và định cư, về bảo vệ môi trường và tài nguyên. Mặt khác
chưa xử lý nghiêm khắc những kẻ coi thường pháp luật, tuỳ tiện di cư, định cư, tuỳ
tiện phá rừng, mua bán đất đai trái phép ở những vùng kinh tế mới, những kẻ dụ dỗ,
lừa đảo người DCTD;


12

+ Chính quyền bị động trong việc đưa ra những chính sách kinh tế - xã hội để
ổn định DCTD và các giải pháp có tính khả thi cho những vùng có dân đến như:
chính sách đất đai, chính sách thuế, chính sách đầu tư và trợ giúp vốn, chính sách
xuất cư và nhập cư… Và cho những vùng có dân đi như chính sách giải quyết về đất
đai và tài sản của người dân DCTD, chính sách hỗ trợ cho người đã ra đi và dân
nghèo ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người vốn có khó khăn triền miên. Nếu
Nhà nước có sự hướng dẫn, chủ động làm tốt trong việc bố trí sản xuất, điều hòa

Ở Việt Nam, các nội dung của phát triển bền vững được nêu trong Chương
trình Nghị sự 21 của Việt Nam được Thủ tướng chính phủ phê duyệt trong Quyết
định số 153/2004/QĐ-TTg, trong đó sự phát triển phải đảm bảo tính bền vững trên
3 khía cạnh: kinh tế - xã hội - môi trường.
Bền vững về kinh tế hướng tới việc đạt được sự tăng trưởng ổn định và cơ
cấu kinh tế hợp lý, tránh được suy thoái và đình trệ, tránh để lại nợ nần lớn cho các
thế hệ mai sau.
Bền vững về xã hội hướng tới mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội, bảo
đảm chế độ dinh dưỡng và chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày càng
được nâng cao, mọi người đều có cơ hội được học hành và có việc làm, giảm đói
nghèo và khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp và nhóm xã hội, giảm các tệ
nạn xã hội, nâng cao mức độ công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các thành
viên và giữa các thế hệ trong một xã hội, duy trì và phát huy được tính đa dạng và
bản sắc văn hóa dân tộc, không ngừng nâng cao trình độ văn minh và đời sống vật
chất và tinh thần.
Bền vững về môi trường hướng tới việc khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm
và có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý và kiểm soát
có hiệu quả ô nhiễm môi trường, bảo vệ tốt môi trường sống, bảo vệ được các
vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu dự trữ sinh quyển và bảo tồn đa dạng
sinh học, khắc phục suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường sống.
1.1.2.2 Khái niệm về sinh kế
Khái niệm sinh kế lần đầu tiên được đề cập trong báo cáo Brundland(1987)
tại hội nghị thế giới vì môi trường và phát triển. Một sinh kế được cho là bền vững
khi con người có thể đối phó và khắc phục được những áp lực và cú sốc. Đồng thời
có thể duy trì hoặc nâng cao khả năng và tài sản ở cả hiện tại và trong tương lai mà
không gây tổn hại đến cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên [ 44 ].


14



15

+ Vốn con người: Con người là cơ sở nguồn vốn này. Vốn con người bao
gồm các yếu tố như cơ cấu nhân khẩu của hộ gia đình, kiến thức và giáo dục của
các yếu tố như cơ cấu nhân khẩu của hộ gia đình, kiến thức và giáo dục của các
thành viên trong gia đình (bao gồm trình độ học vấn, kiến thức truyền được hoặc
được kế thừa trong gia đình), những kỹ năng và năng khiếu của từng cá nhân, khả
năng lãnh đạo, sức khỏe, tâm sinh lý của các thành viên trong gia đình, quỹ thời
gian, hình thức phân công lao động. Đây là một yếu tố được xem như là quan trọng
nhất vì nó quyết định khả năng của một cá nhân, một hộ gia đình sử dụng và quản
lý các nguồn vốn khác.
+ Vốn vật chất: Thể hiện ở các tài sản vật chất đảm bảo cho cuộc sống, sinh
hoạt cũng như làm ăn của người dân. Nguồn vốn vật chất được phân chia làm hai
loại: Tài sản của cộng đồng và tài sản của hộ. Tài sản của cộng đồng trong nghiên
cứu này xem xét các cơ sở vật chật cơ bản phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt
như: điện, đường giao thông, trường học, trạm y tế, công trình thủy lợi, thông tin
liên lạc, thông tin liên lạc. Tài sản của hộ trong nghiên cứu này khá phong phú bao
gồm cả các tài sản phục vụ sản xuất và các tài sản phục vụ sinh hoạt của hộ.
+ Vốn tự nhiên: Nguồn vốn tự nhiên là một yếu tố đặc biệt quan trọng ảnh
hưởng tới sinh kế của người nghèo. Nó bảo gồm các yếu tố như khả năng cung ứng
quỹ đất sản xuất, sông biển ao hồ có thể sử dụng để sản xuất của hộ gia đình cũng
như cộng đồng cùng với điều kiện thuận lợi hay khó khăn của việc khai thác các
nguồn lực ấy là nguồn vốn tự nhiên.
+ Vốn tài chính: Vốn tài chính được thể hiện bằng khả năng tạo ra dòng tiền
cho hộ gia đình. Những khó khăn về tài chính làm cho khả năng trỗi dậy của kinh tế
nông hộ bị giảm sút, muốn cải thiện được kinh tế nông hộ thì việc tăng đầu tư nhằm
mở rộng quy mô sản xuất, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm là một nhu cầu tất
yếu. Trong điều kiện như hiện nay, khi mà khả năng tích lũy của hộ nông dân rất
thấp, sự hỗ trợ của Chính phủ và các tổ chức phi Chính phủ ngày càng giảm, thì việc

được an ninh sinh kế bền vững bằng nhiều cách: sở hữu đất đai, cây trồng và vật
nuôi; có quyền được chăn thả, đánh bắt, săn bắn hoặc hái lượm; có công việc ổn
định với mức thu thập đủ trang trải các nhu cầu của cuộc sống, … Theo WCED,
sinh kế bền vững là một khái niệm lồng ghép và được coi là phương tiện để đạt
được 2 mục tiêu: công bằng và bền vững [ 44 ].


17

Thuật ngữ “sinh kế bền vững” được sử dụng đầu tiên như là một khái niệm
phát triển vào những năm đầu 1990. Tác giả Chambers và Conway (1992) định
nghĩa về sinh kế bền vững như sau: Sinh kế bền vững bao gồm con người, năng lực
và kế sinh nhai, gồm có lương thực, thu nhập và tài sản của họ. Ba khía cạnh tài sản
là tài nguyên, dự trữ, và tài sản vô hình như dư nợ và cơ hội. Sinh kế bền vững khi
nó bao gồm hoặc mở rộng tài sản địa phương và toàn cầu mà chúng phụ thuộc vào
và lợi ích ròng tác động đến sinh kế khác. Sinh kế bền vững về mặt xã hội khi nó có
thể chống chịu hoặc hồi sinh từ những thay đổi lớn và có thể cung cấp cho thế hệ
tương lai [ 38 ].
Dựa trên khái niệm về sinh kế bền vững của Chambers và Conway (1992),
Scoones (1998) định nghĩa sinh kế “bao gồm khả năng, nguồn lực (bao gồm các
nguồn lực vật chất và nguồn lực xã hội) và các hoạt động cần thiết làm phương
tiện sống của con người. Một sinh kế được coi là bền vững khi nó có thể giải quyết
được hoặc có khả năng phục hồi từ những căng thẳng; duy trì và tăng cường khả
năng và nguồn lực hiện tại mà không làm tổn hại đến cơ sở tài nguyên thiên nhiên”
(Scoones, 1998).
Các chính sách để xác định sinh kế cho người dân theo hướng bền vững
được xác định liên quan chặt chẽ đến bối cảnh kinh tế vĩ mô và tác động của các
yếu tố bên ngoài....
Năm 2001, Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) đưa ra khái
niệm về sinh kế để hướng dẫn cho các hoạt động hỗ trợ của mình, theo đó, sinh kế


năng suất của các nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng vì lợi ích của các thế hệ
tương lai.


Một sinh kế được coi là bền vững về kinh tế khi nó đạt được và duy trì

một mức phúc lợi kinh tế cơ bản và mức phúc lợi kinh tế này có thể khác nhau giữa
các khu vực.
Tính bền vững về xã hội của sinh kế đạt được khi sự phân biệt xã hội được
giảm thiểu và công bằng xã hội được tối đa.
Tính bền vững về môi trường đề cập đến việc duy trì hoặc tăng cường
năng suất của các nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng vì lợi ích của các thế
hệ tương lai.
Một sinh kế có tính bền vững về thể chế khi các cấu trúc hoặc qui trình hiện
hành có khả năng thực hiện chức năng của chúng một cách liên tục và ổn định theo
thời gian để hỗ trợ cho việc thực hiện các hoạt động sinh kế.
Theo các tác giả trên, cả 4 phương diện này đều có vai trò quan trọng như
nhau và cần tìm ra một sự cân bằng tối ưu cho cả 4 phương diện. Cùng trên quan
điểm đó, một sinh kế là bền vững khi: (i) có khả năng thích ứng và phục hồi trước
những cú sốc hoặc đột biến từ bên ngoài; (ii) không phụ thuộc vào sự hỗ trợ từ bên
ngoài; (iii) duy trì được năng suất trong dài hạn của các nguồn tài nguyên thiên
nhiên, và (iv) không làm phương hại đến các sinh kế khác.


Tiêu chí đánh giá tính bền vững của sinh kế


19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status