TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
**********
ĐỖ THỊ THU THÙY
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NẶN CHO
TRẺ 5 – 6 TUỔI TRƯỜNG MẦM NON VĂN KHÊ
MÊ LINH – HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình
Người hướng dẫn khoa học
ThS. VŨ LONG GIANG
Hà Nội - 2017
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến các Thầy, Cô
giáo trong khoa Giáo dục Mầm non, các giáo viên trường Mầm non Văn Khê,
đặc biệt là Thầy Thạc sĩ Vũ Long Giang - người đã hướng dẫn tận tình và
giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài này.
Do thời gian có hạn nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất
mong nhận được sự góp ý của Thầy, Cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện
hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN………………………………………………5
1.1. HOẠT ĐỘNG NẶN CỦA TRẺ 5 – 6 TUỔI ............................................. 5
1.1.1. Đặc điểm tâm sinh lí của trẻ 5 - 6 tuổi. ................................................... 5
1.1.2. Đặc điểm hoạt động nặn.......................................................................... 8
1.2. NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG NẶN TRONG TRƯỜNG MẦM NON ........ 9
1.2.1. Vật liệu .................................................................................................... 9
1.2.2. Nội dung tổ chức ................................................................................... 10
1.3. VAI TRÒ, NHIỆM VỤ, Ý NGHĨA CỦA HOẠT ĐỘNG NẶN CHO
TRẺ 5 – 6UỔI ................................................................................................. 17
1.3.1. Vai trò của hoạt động nặn cho trẻ 5 - 6 tuổi.......................................... 17
1.3.2. Nhiệm vụ của hoạt động nặn đối với trẻ 5 – 6 tuổi............................... 21
1.3.3. Ý nghĩa của hoạt động nặn với trẻ 5 – 6 tuổi ........................................ 23
Tiểu kết chương 1............................................................................................ 24
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NẶN CHO TRẺ 5 –
6 TUỔI TRƯỜNG MẦM NON VĂN KHÊ - MÊ LINH - HÀ NỘI VÀ ĐỀ
XUẤT BIỆN PHÁP ........................................................................................ 25
2.1. KHẢO SÁT THỰC TRẠNG ................................................................... 25
2.1.1. Mục đích khảo sát ................................................................................. 25
2.1.2. Nội dung khảo sát.................................................................................. 25
2.2. NỘI DUNG KHẢO SÁT ......................................................................... 25
2.2.1. Khái quát về khách thể khảo sát............................................................ 25
2.2.2. Nội dung khảo sát về thực trạng hoạt động nặn ở trường mầm non Văn
Khê .................................................................................................................. 25
2.2.3. Tiến hành khảo sát ................................................................................ 26
2.2.4. Kết quả khảo sát .................................................................................... 31
2.2.5. Phân tích nguyên nhân của kết quả khảo sát......................................... 32
2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG ............................................. 32
2.4. ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP NÂNG CAO VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
thực hiện tốt tổ chức hoạt động nặn cho trẻ trong trường mầm non sẽ góp
phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng giáo dục nhằm phát triển toàn
diện cho trẻ. Trẻ biết đánh giá, khái quát cao, biết phản ánh thế giới xung
quanh, biết thể hiện cảm xúc của mình vào sản phẩm nặn. Trẻ rất thích sử
dụng màu sắc sặc sỡ mang tính chất phản ánh biểu tượng. Trẻ tham gia vào
hoạt động nặn giúp trẻ hình thành các đức tính tốt như: yêu cái đẹp và mong
muốn tạo ra cái đẹp. Trong cuộc sống hàng ngày, trẻ tiếp thu được khối lượng
kiến thức đáng kể về thế giới xung quanh do trẻ được trực tiếp tri giác hoặc
được nghe kể qua các câu chuyện, phim ảnh. Từ đó thế giới biểu tượng của
trẻ cũng phong phú dần lên và làm nay sinh tính ham hiểu biết, hứng thú nhận
thức, khám phá những điều mới lạ. Xuất phát từ đó trẻ bắt đầu quan tâm đến
1
hình dáng, kích cỡ, màu sắc, bố cục được thể hiện qua sản phẩm nặn một cách
tượng trưng. Cách nặn hồn nhiên, bình dị rất cần thiết trong quá trình hình
thành khả năng cảm thụ và sáng tạo của trẻ.
Trong quá trình thực tập tại trường mầm non Văn Khê tôi nhận thấy quá
trình tổ chức hoạt động nặn, giáo viên thường cho trẻ nặn một số đối tượng cụ
thể, hướng trẻ quan tâm nhiều đến hình ảnh mô tả, đến cách tạo ra hình mà ít
chú ý đến các hình thức tổ chức hoạt động. Những phương pháp đó chưa thực
sự đáp ứng và chưa phát huy được khả năng sáng tạo của trẻ. Các hoạt động
nặn còn mang tính rập khuôn, theo mẫu, sao chép, chưa thực sự phát huy
được tính sáng tạo, linh hoạt của người giáo viên khi tổ chức hoạt động tạo
hình, phương pháp. Chính vì vậy mà hiệu quả tổ chức các hoạt động nặn ở
các trường mầm non chưa cao, trong đó có tổ chức hoạt động tạo hình nói
chung và tổ chức hoạt động nặn nói riêng.
Nhận thấy rõ được các hạn chế trên và để nâng cao chất lượng giáo duc
nói chung cũng như tổ chức hoạt động nặn nói riêng chúng tôi đã lựa chọn
tổ chức hoạt động nặn phù hợp để nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động nặn
cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non Văn Khê.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động nặn cho trẻ 5 - 6 tuối Trường Mầm
non Văn Khê - Mê Linh - Hà Nội.
-
Khách thể nghiên cứu: Quá trình tổ chức hoạt động nặn cho trẻ mẫu
giáo lớn.
5. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động nặn của trẻ 5 – 6 tuổi tại trường Mầm non Văn Khê
– Mê Linh – Hà Nội.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lí luận về tổ chức hoạt động nặn.
3
- Khảo sát hoạt động nặn của trường mầm non Văn Khê – Mê Linh – Hà
Nội.
- Đề ra biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động nặn ở trường mầm non
Văn Khê – Mê Linh – Hà Nội.
7. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: thông qua những tài liệu về tâm lí học,
giáo dục học, mĩ thuật học, phương pháp hoạt động tạo hình…
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp quan sát: dự giờ và quan sát tiết học nặn.
+ Phương pháp điều tra: phiếu hỏi, trò chuyện.
+ Phương pháp thống kê toán học.
Về hệ hô hấp, nhịp thở của trẻ giảm dần, cơ quan phát âm của trẻ cũng
phát triển và hoàn thiện làm cho ngôn ngữ của trẻ cũng phát triển.
1.1.1.2. Đặc điểm tâm lý
Trẻ mẫu giáo lớn đã sử dụng được tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hang
ngày. Sự hoàn thiện tiếng mẹ đẻ này ở trẻ được diễn ra theo các hướng:
Nắm vững ngữ âm, ngữ điệu một cách phù hợp với nội dung giao tiếp
hay nội dung của câu chuyện mà trẻ kể. Trẻ thường dung ngữ điệu êm ái để
5
biểu thị tình cảm yêu thương trìu mến. Ngược lại, khi giận giữ, trẻ lại dung
ngữ điệu thô và mạnh.
Phát triển vốn từ và cơ cấu ngữ pháp. Vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn tích
lũy được khá phong phú, không chỉ về danh từ mà cả về động từ, tính từ, liên
từ,… không chỉ hiểu được từ ngữ mà trẻ còn sử dụng ngữ pháp đủ để diễn đạt
các mặt trong đời sống hàng ngày.
Sự xác định ý thức bản ngã và tính chủ định trong hoạt động tâm lý.
Tuổi mẫu giáo lớn, trẻ có biểu hiện ý chí tương đối lâu. Trong sự phát triển
các hành động ý chí của trẻ có thể thấy được sự liên kết giữa ba mặt: Thứ nhất
là sự phát triển tính mục đích của hành động, thứ hai là sự xác lập quan hệ
giữa mục đích của hành động với động cơ, thứ ba là tăng vai trò điều chỉnh
của ngôn ngữ trong việc thực hiện các hành động.
Xuất hiện kiểu tư duy trực quan hình tượng mới – Tư duy trực quan sơ
đồ và những yếu tố của kiểu tư duy logic. Trẻ mẫu giáo lớn có khả năng hiểu
về cách biểu diễn sơ đồ và sử dụng có kết quả những sơ đồ đó để tìm hiểu sự
vật. Trong thời gian này, trẻ bắt đầu hiểu rằng, có thể biểu thị một sự vật hay
một hình tượng nào đó bằng từ ngữ hay các kí hiệu khác nhau khi phải giải
những bài toán tư duy độc lập.
Cả tư duy trực quan hành động và tư duy trực quan hình tượng đều liên
Trình độ phát triển ngôn ngữ được coi là một điều kiện hết sức quan
trọng trong việc lĩnh hội các tri thức về khoa học tự nhiên cũng như khoa học
xã hội. Bởi vậy, lứa tuổi mẫu giáo lớn, để trẻ em sử dụng thông thạo tiếng mẹ
đẻ được coi là yêu cầu nghiêm túc. Trước khi đến trường, trẻ phải biết nói
năng mạch lạc khi giao tiếp với người xung quanh, biết sử dụng ngôn ngữ
như một phương tiện để tư duy, để giao tiếp.
Cuối cùng, trình độ chuẩn bị sẵn sàng về mặt tâm lý cho việc học tập ở
trường phổ thông bao gồm những phẩm chất của nhân cách giúp trẻ nhanh
chóng gia nhập vào tập thể lớp, tìm được vị trí của mình trong tập thể đó, có ý
7
thức trách nhiệm khi tham gia vào hoạt động chung. Đó là những động cơ xã
hội của hành vi, là cách ứng xử với người xung quanh, là kĩ năng xác lập và
duy trì những mối quan hệ qua lại lẫn nhau với các bạn cùng lứa tuổi.
1.1.2. Đặc điểm hoạt động nặn
Ở tuổi mẫu giáo lớn, các quá trình tâm lí như chú ý, trí nhớ, tưởng
tượng phát triển tốt hơn, giúp trẻ có thể hình dung hình ảnh của kết quả hoạt
động nặn từ trước khi bắt tay vào quá trình thể hiện. Do vậy cần tăng cường
cho trẻ độc lập tìm kiếm, lựa chọn nội dung miêu tả và hình thành dự định
sáng tạo để định hướng cho hoạt động.
Khả năng cảm nhận đặc điểm hình khối của sự vật bằng xúc giác vận
động. Đồng thời phát triển khả năng so sánh, ước lượng bằng mắt để giúp trẻ
dễ dàng xác định bằng mắt các đặc điểm trực quan như kích thước, tỉ lệ, tính
hợp lí, vẻ cân đối trong khối hình của vật thể.
Trẻ 5 – 6 tuổi đã có các kĩ năng nặn cơ bản như: lăn dài, xoay tròn, ấn
dẹt, đập tạo khối, vuốt, dính, ghép, tạo dáng để tạo ra các sản phẩm như quả
cây, các con vật quen thuộc, dáng người rõ đặc diểm qua các bộ phận chính.
Nặn được các chi tiết phù hợp với đối tượng như: cuống, lá khi nặn quả; tai,
Hoạt động nặn theo đề tài tự chọn: trẻ được chủ động, tích cực, tự do
lựa chọn và thể hiện nội dung miêu tả (đề tài cụ thể). Để giúp trẻ tự chọn
được đề tài, giáo viên cần tung ra một vấn đề, chủ đề lớn để giúp trẻ hình
thành những ý tưởng để tạo ra sản phẩm nặn của riêng mình.
1.2. NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG NẶN TRONG TRƯỜNG MẦM NON
1.2.1. Vật liệu
- Vật liệu nặn:
+ Đất sét tự nhiện: dạng ướt dẻo và dạng khô
+ Sáp nặn màu (có sáp màu)
9
+ Bột nặn màu (có nguồn gốc từ ngũ cốc)
+ Cát ướt
+ Ngoài ra có thể dùng mùn cưa, bột giấy,…
+ Màu bột và keo để tô tượng đất đã khô
- Dụng cụ nặn:
+ Bảng lót (20x20 cm)
+ Bảng đế xoay (đương kính 20- 25 cm)
+ Dao nhựa, gỗ tre
+ Thìa, dĩa, kẹp ghim
+ Que tăm, lược, dây thép
+ Khay để đất, khăn giấy, khăn vải
1.2.2. Nội dung tổ chức
Theo tính chất của biểu tượng hình tượng người ta phân ra ba hình thức
hoạt động chính:
- Hoạt động tạo hình theo mẫu
Đây là một hình thức hoạt động rất quan trọng không thể thiếu được, bởi lẽ
nó có vai trò là nền tảng, môi trường bồi dưỡng, phát triển ở trẻ óc quan sát,
Trước đây, người ta quen gọi các hình thức hoạt động này là “Tiết tạo hình
theo ý thích”. Cách gọi này không chính xác, bởi nó hướng tới sự hiểu sai về
tính chất, yêu cầu của hoạt động. “Ý thích” của trẻ nhỏ thường là những ý
nghĩ, mong muốn nhất thời, dễ thay đổi làm trẻ khó định hướng trong việc
xây dựng hình tượng. Cái “ý thích” chug chung không được định hướng
thường làm cho trẻ bị bỏ mặc với việc tự lựa chọn. Kêt quả là một số trẻ cảm
thấy bất lực, đành “biểu diễn” lại không phải cái chúng thích, chúng muốn cái
mà chúng đã từng làm và có thể làm được. Ngược lại; một số trẻ thích tung
hoành với những thứ có thể không liên quan gì tới mục đích, nội dung của giờ
học. “Tự chọn” là có ý định trước, và tất nhiên phải theo ý thích, theo khả
năng.
11
Để giúp trẻ tự chọn được đề tài, giáo viên cần nêu ra một vấn đề, hay một
chủ đề lớn và dựa vào đó mà giúp trẻ hình thành “dự định tạo hình” để thể
hiện nội dung nghệ thuật của đề tài đó. Dự định này bao gồm ý tưởng tạo hình
và kế hoạch thực hiện ý tưởng đó, nó là kết quả của sự tìm kiếm, khám phá,
kiến tạo cái mới, cái độc đáo trong cách suy nghĩ, cách làm của từng đứa trẻ.
Hình thức tạo hình theo đề tài tự chọn – vì lí do này còn được gọi là “Tạo
hình theo biểu tượng của tưởng tượng sáng tạo”
1.2.2.1. Hình thức tổ chức
Sự phát triển của trẻ là nhờ sự tiếp xúc với cuộc sống hằng ngày, trẻ
được giao tiếp, tiếp xúc với cuộc sống xung quanh. Hình thức tổ chức hoạt
động cho trẻ mầm non vui chơi là chủ yếu nên nội dung và cách thức tổ chức
các hoạt động ở trường mầm non có nhiệm vụ cung cấp cho trẻ những kiến
thức xác thực về khoa học, sơ đẳng về sự vật hiện tượng xung quanh. Hình
thức tổ chức hoạt động nặn cho trẻ mầm non chủ yếu xuất phát từ các biểu
hiện:
thời điểm khác nhau trong ngày một cách hợp lí không theo qui trình chặt chẽ
về giờ giấc.
Ở hoạt động này, trẻ có thể kết hợp vui chơi, tạo được sự hứng thú cho
trẻ khi tham gia vào hoạt động.
Hình thức dạy và học gồm có:
+ Trong lớp học (có bàn, ghế, bảng, đất nặn, các đồ dùng cần thiết,…)
+ Ngoài lớp học (sân trường, phòng triển lãm,…)
Nội dung dạy và học rất đa dạng, phong phú, gồm có:
+ Thực hành nặn ngoài sân để củng cố kiến thức.
+ Mở rộng phát triển trí tuệ theo chủ đề, chuyên đề.
Theo qui mô tổ chức lớp học
13
Hoạt động nặn theo nhóm nhỏ: số lượng trẻ từ 2 – 7 trẻ, gồm những trẻ
có hứng thú, có năng khiếu hoặc ngựơc lại.
Mục đích: bồi dưỡng trẻ có năng khiếu, giúp trẻ yếu kém nhanh chóng
hòa nhập với lớp học
Hoạt động tạo hình theo nhóm lớn: số lượng trẻ từ 8 – 15 trẻ. Gồm
những trẻ đồng đều về trình độ, khả năng.
Mục đích: củng cố, ôn luyện, bồi dưỡng, mở rộng vốn kinh nghiệm của
hoạt động nặn nhằm chuẩn bị cho giờ học của toàn lớp.
Hoạt động nặn chung theo toàn lớp học: với sự tham gia của hầu hết
các trẻ trong lớp học.
Mục đích: tạo nhiều cơ hội để trẻ nắm được sâu hơn, chắc hơn những
tri thức và kinh nghiệm hoạt động nặn, giáo viên dễ đánh giá trình độ chung
của cả lớp.
Hoạt động phối hợp cá nhân với các nhóm: đây là một hình thức tổ
chức lớp học có hiệu quả giáo dục, phù hợp với tính chất của hoạt động nghệ
Hoạt động theo nhóm
Chia trẻ ra thành các nhóm. Số lượng trẻ trong nhóm có thể nhiều hay ít
(nhóm lớn hay nhóm nhỏ) tùy thuộc vào không gian lớp học, loại bài học.
Nhóm trẻ ít sẽ giúp trẻ phát huy được tính tích cực và sàn tao của mình nhiều
hơn.
Giáo viên có thể chia nhóm theo nhiều cách như: theo loại bài, theo mục
đích, yêu cầu chung; theo tổ học tập, chia xen kẽ trẻ học giỏi, khá, tung bình;
chia theo ý thích của trẻ,…
- Hoạt động nặn theo chủ đề ngoài tiết học
Hoạt động nặn theo chủ đề ngoài tiết học được xem là hoạt động dạy và
học mang tính hỗ trợ (ngoại khóa). Hoạt động này có vai trò bổ sung, củng cố
kiến thức, kĩ năng cho trẻ trên tiết học.
15
Phương pháp dạy học:
Để hoạt động nặn theo chủ đề ngoài tiết học đem lại hiệu quả, giáo viên
nên chọn các phương pháp trọng tâm như: phương pháp trực quan, quan sát,
thực hành,… Đồng thời lựa chọn nội dung bổ sung sao cho phù hợp, ngắn
gọn, súc tích.
- Phương pháp tổ chức hoạt động nặn:
Nhóm phương pháp thông tin – tiếp nhận: trong nhóm phương pháp
này có 3 phương pháp cơ bản: quan sát, chỉ dẫn, trực quan và dùng lời. Nhóm
phương pháp này giúp trẻ có được những thông tin về các sự vật, hiện tượng
xung quanh, hiểu biết về nội dung, phương thức tạo hình, hình thành hứng
thú, bồi dưỡng khả năng cảm thụ thẩm mĩ.
Nhóm phương pháp thực hành – ôn luyện: bao gồm các cách thức
huong dẫn, các bài tập thực hành. Nhóm phương pháp này cần được sử dụng
ở lớp, nhóm trong trường mẫu giáo, cần phù hợp với độ tuổi. Nhóm phương
em có nhiều cơ hội tìm hiểu các đối tượng miêu tả để có hiểu biết, sự hình
dung về các đối tượng để xây dựng các biểu tượng, hình tượng. Từ đó ta
khẳng định rằng, hoạt động nặn là một trong những phương tiện tích cực để
phát triển ở trẻ các khả năng hoạt động như: óc quan sát, trí nhớ, tư duy,
tưởng tượng.
Trong quá trình tri giác các đối tượng miêu tả, các tính chất, các thuộc
tính của đối tượng như màu sắc, kích thước,… được trẻ tích cực ghi nhận, đối
với các loại chuẩn mẫu cảm giác mà tre đã biết, để tiếp đó trẻ được phân loại,
bổ sung, hình thành những biểu tượng, dần dần đến những hình tượng mang
tính nghệ thuật. Quá trình này đòi hỏi hoạt động nỗ lực của các thao tác trí tuệ
như phân tích, đối chiếu, so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, cụ thể
hóa.
Khi thực hiện nhiệm vụ của hoạt động nặn, trẻ cần huy động vốn hiểu
biết, vốn biểu tượng đã tích lũy được để “nhào nặn”, “chế biến” thành những
17
hình tượng mới. Các điều kiện và yêu cầu sáng tạo của hoạt động nặn làm cho
các biểu tượng được hình thành ở trẻ trong quá trình tri giác sẽ luôn được đổi
mới, bổ sung và trở nên phong phú hơn. Như vậy, nhờ hoạt động nặn mà vốn
hiểu biết của trẻ về thế giới xung quanh luôn được tăng lên, ngày càng trở nên
“giàu có” hơn cả về lượng và chất.
Quá trình nặn đòi hỏi trẻ phải tìm hiểu, khám phá, phát hiện ra tính chất
của các loại vật liệu cũng như khả năng tạo hình, khả năng tạo ra sức tuyền
cảm của chúng. Trong quá trình nặn trẻ được lĩnh hội các kĩ năng sử dụng các
loại dụng cụ như những công cụ lao đông của con người. Đây chính là điều
kiện rất thuận lợi cho sự phát triển trí tuệ và nhân cách.
Hoạt động nặn với các quá trình tìm hiểu, đánh giá đối tượng miêu tả
và sản phẩm nặn sẽ tạo điều kiện phất triển ở trẻ vốn từ, lời nói, ngôn ngữ
để hình thành ở trẻ tính chu đáo, ý thức cộng đồng, thói quen chia sẻ, quan
tâm chăm sóc tới người khác và các kĩ năng giao tiếp xã hội.
1.3.1.3. Giáo dục thẩm mĩ cho trẻ
Hoạt động nặn giúp tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cảm
giác, tri giác thẩm mĩ: việc quan sát, tìm hiểu các sự vật, hiện tượng giúp trẻ
nhận ra các đặc điểm thẩm mĩ (hình dáng, màu sắc, cấu trúc, tỉ lệ, sự sắp xếp
không gian,…) nhận ra nét độc đáo của đối tượng được miêu tả.
Các đặc điểm thẩm mĩ phong phú, đa dạng của các đối tượng miêu tả là
những yếu tố kích thích sự xuất hiện của những rung động, những xúc cảm
thẩm mĩ. Từ đó tạo nên nhũng tình cảm thẩm mĩ, thái độ thẩm mĩ giúp trẻ
nhận ra cái đẹp từ thiên nhiên và trong các tác phẩm nghệ thuật.
Quá trình thể hiện sản phẩm nặn là điều kiện thuận lợi cho trẻ vận dụng
tích cực vốn biểu tượng hình tượng đã tích lũy được để phối hợp, xây dựng
hình tượng mới làm cho sản phẩm nặn của trẻ ngày càng trở nên sinh động,
hấp dẫn và mang màu sắc nghệ thuật.
19