Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh thái học loài du sam đá vôi (keteleeria davidiana (bertrand) beissn ) làm cơ sở đề xuất một số giải pháp bảo tồn tại khu bảo tồn thiên nhiên kim hỷ, huyện na rì, tỉnh bắc kạn - Pdf 44

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
--------------------------------------

PHÙNG THỊ TUYẾN

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ SINH THÁI HỌC LOÀI
DU SAM ĐÁ VÔI (KETELEERIA DAVIDIANA (BERTRAND) BEISSN.)
LÀM CƠ SỞ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO TỒN TẠI KHU
BẢO TỒN THIÊN NHIÊN KIM HỶ, HUYỆN NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN

CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN RỪNG
MÃ SỐ : 60.62.68

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN MINH HỢI

HÀ NỘI - 2010


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Kim Hỷ, tỉnh Bắc Kạn nằm trên địa bàn 7
xã của 2 huyện Na Rì và Bạch Thông trải dài từ xã Vũ Muộn, Cao Sơn (huyện Bạch
Thông) tới xã Lương Thượng, Ân Tình, Côn Minh, Kim Hỷ và Lạng San (huyện Na

Một loài Du sam khác có tên khoa học Keteleeria fortunei (Murr.) Carr.
nguyên sản ở Nam sông Trường Giang (Quảng Đông, Quảng Tây), trên độ cao 400
- 1200m. Mọc trên đất đỏ hoặc vàng, loài này được bảo vệ cấp III. Cành nhánh một
năm, màu đỏ da cam hoặc hồng nhạt; lá hình kim dẹt, dài 1,2 - 1,3cm; đỉnh tù; nón
dài 6 - 18cm, đường kính 5 - 6,5cm; vẩy hạt nằm giữa, hình tròn quạt, không có
lông, mép uốn vào trong. Ra nón tháng 3 - 4, chín vào tháng 10 năm sau.
Ngoài ra còn một số loài Du sam khác nữa tại Trung Quốc là: Keteleeria
calcarea Cheng et L. K. Fu, Keteleeria cyclolepis Flous, Keteleeria oblonga Cheng
et L. K. Fu, Keteleeria pubescens Cheng et L. K. Fu [61].
Tại Đại học sư phạm Bắc Kinh - Khoa Sinh vật học Tác giả Uy An Như
trong tập san Sinh vật học Trung Quốc đã nêu rõ Du sam là loài thực vật cổ còn sót


5

lại trong quá trình chọn lọc tự nhiên. Năm 1979 các nhà nghiên cứu thực vật đã phát
hiện tại khu rừng Thần Nông Giá thuộc tỉnh Hồ Bắc có mặt cây Du sam cổ thụ cao
36m, chu vi ngang ngực 7,5m; thể tích gỗ hơn 60m3. Sau đó phát hiện thêm một cây
cổ thụ nữa tại Vu Sơn tỉnh Tứ Xuyên cao 50m, đường kính ngang ngực 2,8m. Cũng
theo Uy An Như, Du sam thuộc họ Thông (Pinaceae). Việt Nam có 2 loài, 9 loài
còn lại đều ở Trung Quốc phân bố ở nơi có khí hậu ấm áp của Trung Quốc [56].
Năm 1998, tài liệu "Cây lá kim Trung Quốc" đã đưa ra các thông tin về
loài như sau: Du sam đá vôi (Thiết kiên sam - Keteleeria davidiana) là một trong
những loài cây đặc hữu quý hiếm của Trung Quốc. Cây có thân thẳng, hình thái
thân tán đẹp, sinh trưởng nhanh, là cây trồng rừng, trồng lục hoá rất có giá trị.
Tại Trung Quốc hiện nay Du sam đá vôi chỉ còn tồn tại rải rác ở một số nơi, do
các hoạt động của con người đã làm cho diện tích Du sam đá vôi bị thu hẹp, nếu
như không có các biện pháp bảo vệ cấp bách thì tương lai gần khả năng bị tuyệt
chủng của loài là rất cao.
Cũng trong tài liệu này thì các đặc điểm về sinh thái của loài cũng được trình

Tầng cỏ, độ che phủ đạt 40%, gồm có Lô, Chè vè, Cỏ tranh, Cúc sao, Hoà,
Cỏ chét..., chiều cao đạt 10 - 50cm. Ngoài ra ở những khu vực ẩm ướt có nhiều rêu
phân bố. Thực vật ngoại tầng gồm có: Actinidia sp., Dây ruột gà, Thiến thảo, Kim
cang, Mơ leo....
+ Sinh trưởng và phát triển
Du sam đá vôi có đặc tính tỉa cành tự nhiên không tốt. Trong rừng có độ tàn
che 0,5 - 0,6; cây cao 10m trở lên có chiều cao dưới cành chỉ khoảng 2 - 3m. Trong
các rừng có độ tàn che cao hơn, cây tỉa cành tự nhiên cao nhất chỉ đến 1/3 chiều cao
của cây. Những cành mọc ngang, thời gian đầu hơi xoè xuống sau đó mọc hướng
lên trên.
Hệ rễ của Du sam đá vôi rất phát triển, tuy nhiên không rõ rễ chính. Những
cây nhiều tuổi phần rễ ở gốc cây thường nổi lên trên mặt đất, có thể cao 1m, hệ rễ
ăn rộng, rễ nhánh nhiều, gốc nhánh thô, đầu rễ nhánh nhỏ dài, đường kính bao phủ
của bộ rễ khoảng 5m.
Ở các điều kiện lập địa khác nhau, cây ra nón cũng khác nhau, bình thường
khoảng 20 năm cây bắt đầu ra nón, ở nơi lập địa tốt có thể 15 năm cây đã bắt đầu ra
nón, giai đoạn 50 - 60 tuổi là giai đoạn cây cho sản lượng nón cao nhất. Tại Thần


7

Nông Giá, có 1 cây Du sam đá vôi 900 tuổi, đến nay vẫn rất sai quả. Căn cứ vào kết
quả giải tích thân cây Du sam đá vôi (Cây giải tích có tuổi 47 năm, cao 22m, đường
kính ngang ngực 22,7m; thể tích thân cây là 1.2074m³) tại Hồ Bắc, cho thấy:
Sinh trưởng về chiều cao: 5 năm đầu, sinh trưởng bình quân chiều cao là
69cm/năm, 5 năm sau bước vào thời kì sinh trưởng mạnh về chiều cao, giai đoạn 5 10 năm tuổi sinh trưởng bình quân đạt 72cm/năm, giai đoạn 10 - 15 năm đạt
86cm/năm, đến năm 17 tuổi trở đi sinh trưởng về chiều cao giảm dần, đến 20 năm
sinh trưởng bình quân năm chỉ đạt 46cm, năm 20 - 25 năm lại tăng cao, giai đoạn 25
năm trở đi sinh trưởng giảm dần đến giai đoạn 45 tuổi sinh trưởng bình quân chỉ đạt
14cm/năm, các năm sau ổn định ở mức 14 - 15cm/năm.

ra thuận lợi, cây tái sinh sinh trưởng tốt và liên tục có các thế hệ tham gia vào tầng
cây gỗ. Điều này sẽ gìn giữ được tính ổn định của quần thể Du sam.
Du sam đá vôi còn có đặc điểm tái sinh rìa rừng, mở rộng diện tích quần thể.
Theo các số liệu điều tra, ở quần thể có chiều cao trung bình 14,6m; diện tích tái
sinh có thể mở rộng là 15m trở lên, trong cự ly cách quần thể 9m, số lượng cây mạ
cây con nhiều, điều này thể hiện khả năng tái sinh quanh gốc cây mẹ của Du sam đá
vôi rất mạnh. Khi dùng tuổi cây con phân tích cho thấy, trong phạm vi 6m số lượng
cây con chiếm đại đa số, tiếp theo là phạm vi từ 7 - 9m, 10m trở lên số lượng cây
con rất ít. Các chỗ trống trong rừng cũng đều có Du sam đá vôi tái sinh và phân bố
tương đối đều.
+ Đánh giá và kiến nghị trong kinh doanh rừng
Du sam đá vôi là loài đặc hữu quý hiếm của Trung Quốc. Cây có thân cao to,
thẳng, gỗ tốt, có rất nhiều giá trị về kinh tế và cải tạo cảnh quan. Vỏ có thể chiết
xuất tanin, hạt có thể ép dầu cho hàm lượng dầu cao đạt 52,5%; vỏ và nhựa cây có
thể cung cấp vật liệu làm giấy. Mặt khác cây sinh trưởng nhanh, tính thích ứng
rộng, nên Du sam đá vôi là loài cây trồng rừng rất có giá trị tại khu vực xung quanh
ranh giới Bắc Nam của Trung Quốc. Gỗ cây có màu vàng nhạt, có chứa nhựa, độ
cứng ở mức trung, bền khi sử dụng, có thể dùng trong các công trình kiến trúc, cầu
cống, nông cụ, đồ gia dụng. Hệ rễ cây phát triển, tuổi thọ dài, nên đây cũng là loài
cây trồng rừng phòng hộ bảo vệ đất, nước chống xói mòn lý tưởng. Nhưng do một
thời kỳ dài bị con người chặt phá tràn lan, diện tích rừng trồng rất ít, nên số lượng


9

ngày càng ít, hiện nay ngay cả những diện tích có cây mẹ thu hạt giống cũng rất ít,
để bảo vệ và phát triển loài cây quý hiếm này, tài liệu đã đề ra một số kiến nghị sau:
- Bảo vệ tốt những khu vực còn diện tích rừng Du sam đá vôi, thành lập các
khu bảo tồn thiên nhiên bảo vệ loài này, nghiêm cấm chặt phá. Đồng thời tiến hành
điều tra quy hoạch, xây dựng các vườn cây mẹ, rừng cây mẹ, tạo nguồn hạt giống,

Năm 1999, hai tác giả Vương Vĩ Đạc và La Hữu Cường đã có phát hiện mới
về phân bố của loài tại Trung Quốc. Các tác giả cho biết Du sam thường phân bố ở
độ cao 600 - 1000m. Tại Đương Dương tỉnh Hồ Bắc phát hiện có phân bố quần thể
Du sam sinh trưởng ở vùng núi có độ cao từ 100 - 393m so với mực nước biển, đây
là điều hiếm thấy. Trung Quốc đã đưa loài Du sam vào danh lục các loài cây nguy
cấp có khả năng bị tuyệt chủng. Nghiên cứu chứng minh một số đặc tính của Du
sam gần với Sa mộc và Thông mã vĩ. Người dân địa phương gọi là loài Thông mọc
trên mỏm đá (Nham Sa). Cây sống được ở nơi có tầng đất xám, trên mỏm đá, rễ có
thể vươn xa, đâm sâu vào các kẽ hở của các khối đa [54]. Hai tác giả này đã trồng
thử nghiệm bằng cây con 2 năm tuổi (cao 20cm, đường kính gốc 0,38cm) tỷ lệ sống
đạt 61,7%. Như vậy, tỷ lệ sống chỉ đạt mức độ trung bình.
Theo báo cáo của Đinh Thụy Vân và cộng sự trong "Tạp chí Khoa học kỹ
thuật Lâm nghiệp An Huy" (2005) sau khi gieo ươm được hơn 600 cây con đã trồng
thử với cự ly 4 x 4m. Tuy nhiên, chưa có thông tin về sinh trưởng của những cây này.
Ngô Tế Hữu, Trình Dũng, Vương Húc Quân, Liên Đức Chí và Ngô Kỳ Quân
(2007) đã thử nghiệm nhân giống vô tính Du sam đá vôi tại Hồ Nam thấy nồng độ
thuốc kích thích sinh trưởng, số lá hom có ảnh hưởng tới tỷ lệ ra rễ của hom giâm [55].
Như vậy, theo các nghiên cứu ở Trung Quốc việc nhân giống và gây trồng
loài Du sam đá vôi hiện nay cũng còn rất hạn chế, cần thiết phải có những nghiên
cứu tiếp theo.
1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
1.2.1. Nghiên cứu về phân loại và đặc điểm hình thái, sinh thái loài Du sam đá vôi
Ở Việt Nam, Du sam đá vôi được nói đến đầu tiên vào năm 1970. Tác giả
Trần Ngũ Phương đề cập đến một loài Du sam đá vôi mọc thành rừng lá kim trên
đỉnh và sườn đỉnh đá vôi ở Trùng Khánh (Cao Bằng), Đồng Văn, Quản Bạ (Hà
Giang) và Thất Khê (Lạng Sơn) [27].
Trong "Sách Đỏ Việt Nam" (1996) đề cập đến loài Tô hạp đá vôi hay còn gọi


11

Kết quả điều tra Hệ thực vật rừng KBTTN Kim Hỷ của tác giả Trần Ngọc
Hải phối hợp với Phân Viện điều tra quy hoạch rừng Tây Bắc Bộ năm 1997 và
2008, cũng khẳng định sự có mặt của loài Du sam đá vôi tại một số đỉnh núi đá vôi


13

thuộc xã Kim Hỷ với số lượng cá thể rất ít. Đã đề xuất phải bảo tồn loài cây này
bằng cách đầu tư nghiên cứu đặc tính sinh vật học loài, tuyên truyền giáo dục cho
người dân tham gia bảo tồn hay xây dựng vườn thực vật tại khu bảo tồn. Tuy nhiên,
đó mới chỉ là ý kiến đề xuất.
Hiện tại chưa có công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học, sinh thái
học, nhân giống loài Du sam đá vôi ở Việt Nam. Các công trình đã công bố gần đây
mới chỉ có ý kiến đề xuất cần khẩn trương có biện pháp bảo tồn loài cây quý hiếm
đang có nguy cơ bị tuyệt chủng này ở Việt Nam.
Tóm lại: Đã có những nghiên cứu về Du sam đá vôi trên thế giới, Du sam đá
vôi được phát hiện nhiều tại Trung Quốc và đây cũng là nước có nhiều nghiên cứu
về loài cây này. Trung Quốc cũng đã thử nghiệm nhân giống Du sam đá vôi bằng
phương pháp giâm hom và đạt được những kết quả nhất định song còn nhiều hạn
chế. Tại Việt Nam các nghiên cứu về loài cây Du sam đá vôi thường được lồng
ghép trong những đề tài về điều tra rừng, chính vì vậy mà kết quả nghiên cứu về đặc
điểm sinh thái và sinh học thường thiên về những kết quả phân bố và mô tả đặc
điểm hình thái của cây mà chưa đi sâu vào những đặc điểm về giải phẫu, về vật hậu
cũng như chu kỳ sai quả của loài Du sam đá vôi, các đặc tính về gỗ của loài cây này
chưa được nghiên cứu kỹ lưỡng. Đặc biệt là nghiên cứu về nhân giống và gây trồng
loài quý hiếm này vẫn chưa được triển khai. Và đây cũng chính là hướng nghiên
cứu mở ra để đề tài này có cơ hội khám phá thêm những điều bí ẩn chưa được phát
hiện về Du sam đá vôi.
2.2.2. Nghiên cứu về bảo tồn một số loài cây lá kim ở Việt Nam
Nhiều loài cây lá kim có ý nghĩa kinh tế và khoa học đã được nghiên cứu

tốt. Điều này cho thấy rằng việc gây trồng bảo tồn các loài Thông cần phải đặc biệt
chú ý tới điều kiện sinh thái phù hợp với loài và cố gắng tận thu được hạt để nhân
giống hữu tính cho công tác bảo tồn thì kết quả sẽ tốt hơn [8].
Năm 2003, tác giả Tô Văn Thảo đã công bố kết quả thử nghiệm nhân giống
vô tính cho loài Bách vàng (Xanthocyparis vietnamensis) trong luận văn Thạc sỹ
của mình. Việc thử nghiệm nhân giống này cho thấy toàn bộ cành hom thử nghiệm
được thu hái trong tự nhiên tại Khu bảo tồn và giâm hom theo từng dòng riêng biệt
tại Công ty giống Lâm nghiệp Trung ương - Hà Nội và tại Ban quản lý KBTTN Bát
Đại Sơn tỉnh Hà Giang. Kết quả sau 4 tháng giâm hom cho thấy Bách vàng có khả
năng nhân giống từ các cây trưởng thành mọc trong tự nhiên. Khả năng ra rễ của


15

hom Bách vàng giảm theo kích thước đường kính của cây. Hai cấp đường kính
chính có số cá thể nhiều trong quần thể là từ 6 - 14cm có tỷ lệ ra rễ 35% và 30 38cm có tỷ lệ ra rễ 11%. Kết quả giâm hom 26 dòng Bách vàng cũng như phân tích
thí nghiệm giâm hom cho 4 dòng ở độ tuổi có đường kính 7 - 15 cm đều cho thấy tỷ
lệ ra rễ biến động theo dòng, kể cả đối với các dòng có đường kính tương tự nhau.
Đối với những cây ở độ tuổi này khả năng ra rễ không nhất thiết phụ thuộc vào
dạng lá của hom giâm. Lá kim tuy là lá non nhưng khi ở những vị trí cành bên có
thể ra rễ kém hơn các lá vảy ở vị trí chồi đỉnh của cây non. Ngược lại, trên những
cây trưởng thành hơn lá vảy lại có thể ra rễ kém hơn lá kim khi lá kim mọc ở các vị
trí của chồi vượt sát thân. Ảnh hưởng của nồng độ thuốc cũng phụ thuộc nhiều vào
tính chất sinh lý của từng dòng và vị trí trên cây của hom giâm [36].
Tác giả Nguyễn Hoàng Nghĩa (2006) trong tài liệu "Một số loài cây bị đe doạ
ở Việt Nam" tập 2 cho thấy tại Lâm Đồng đã tiến hành thử nghiệm nhân giống bằng
hom cho các loài Bách xanh (Calocedrus macrolepis), Pơ mu (Fokienia hodginsii)
và Thông đỏ (Taxus wallichiana) với vật liệu hom Bách xanh thu hái từ cây 2 tuổi
và 7 - 8 tuổi, Pơ mu cây non 1 tuổi và Thông đỏ từ cây lớn tuổi trong rừng tự nhiên.
Các hom được xử lý với nhiều loại chất điều hòa sinh trưởng với các nồng độ khác

thương mại) có 15 loài, nhóm IIA (thực vật rừng hạn chế khai thác, sử dụng vì mục
đích thương mại) có 37 loài; có một số loài trong số đó phân bố ở vùng Tây Bắc.
Những loài Thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thuộc nhóm IA (nghiêm cấm khai
thác, sử dụng vì mục đích thương mại có ở vùng Tây Bắc như Thông pà cò, Hoàng
liên gai, Sưa, Lan hài..., thuộc nhóm IIA (hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích
thương mại) như: Bách xanh, Pơ mu, Du sam, Thông đỏ bắc, Tuế các loại, các loài
Tế tân, Lim xanh, Đẳng sâm, Trai lý, Vù hương, Hoàng đằng, Bình vôi (các loài),
Nghiến, Hoàng tinh trắng, Cây một lá, Thạch hộc [19].
Kế hoạch hành động quốc gia về ĐDSH được Chính phủ nước CHXHCN
Việt Nam phê duyệt ngày 31 tháng 5 năm 2007 đã đề cập tới các mục tiêu, trong đó
mục tiêu bảo tồn có hiệu quả các giống cây bản địa, quý hiếm, có giá trị kinh tế - xã
hội, bảo vệ có hiệu quả các loài động thực vật quý hiếm, nguy cấp có nguy cơ bị
tuyệt chủng. Trong nhiệm vụ chủ yếu thứ nhất về bảo tồn và phát triển ĐDSH trên
cạn ghi rõ: “Phát triển các hình thức bảo tồn chuyển vị, đặc biệt là đối với các loài
động vật, thực vật đặc hữu, quý hiếm..., xác định các loài nguy cấp có nguy cơ bị
tuyệt chủng để thực hiện, bảo tồn chuyển vị”.
Nhiệm vụ bảo tồn và lưu giữ nguồn gen nông lâm nghiệp và thuỷ sản được
Bộ NN và PTNT rất quan tâm. Nhiều đề tài đã được cấp kinh phí hàng năm để làm
nhiệm vụ này như: Đề tài Bảo tồn nguồn gen thực vật hang năm (Exsitu) của Trung


17

tâm tài nguyên thực vật và cơ quan mạng lưới; Bảo tồn nguồn gen Cao su (Viện
nghiên cứu Cao su); Bảo tồn nguồn gen một số loài cây rừng quý hiếm ở vườn quốc
gia Cúc Phương, Tam Đảo, Bạch Mã, Bến En, Ba Vì, YokDon... đang được triển
khai để góp phần đạt được mục tiêu của Chiến lược bảo tồn.
Trong báo cáo từ năm 2007 - 2009 Trần Ngọc Hải và nhóm nghiên cứu đã
triển khai đề tài nghiên cứu thu thập nguồn gen thực vật của một số loài ở vùng lòng
hồ thủy điện Sơn La về trồng tại Vườn sưu tập của Lâm viên Sơn La, kết quả đã tổ

Mục tiêu cụ thể:
- Nghiên cứu và bổ sung các đặc điểm về sinh học, sinh thái học loài Du sam
đá vôi mà các tài liệu trước đây chưa nói đến.
- Đánh giá được mức độ nguy cấp của loài Du sam đá vôi tại KBTTN Kim Hỷ
- Đề xuất một số giải pháp bảo tồn loài Du sam đá vôi tại khu vực nghiên cứu.
2.2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là cây Du sam đá vôi phân bố tự nhiên tại KBTTN
Kim Hỷ tỉnh Bắc Kạn.
2.3. Giới hạn nghiên cứu
2.3.1.Thời gian nghiên cứu:
Đề tài thực hiện từ tháng 1 năm 2009 đến tháng 9 năm 2010.
2.3.2. Địa điểm nghiên cứu:
Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh thái loài Du sam đá vôi được thực hiện
tại khu vực vùng núi đá vôi xã Kim Hỷ và xã Ân Tình thuộc phía Tây và Tây Nam
KBTTN Kim Hỷ, tỉnh Bắc Kạn.
Thử nghiệm nhân giống tại Trạm thực nghiệm giống cây rừng Ba Vì thuộc
Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng - Viện Khoa học Lâm nghiệp.
2.4. Nội dung nghiên cứu
2.4.1. Nghiên cứu đặc điểm phân bố của loài Du sam đá vôi tại KBTTN Kim Hỷ
2.4.1. Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh thái học của loài Du sam đá vôi


19

2.4.2. Thử nghiệm nhân giống Du sam đá vôi bằng phương pháp giâm hom và ươm hạt
2.4.3. Xác định tình trạng nguy cấp và các nguyên nhân gây nguy cấp cho loài hiện nay
2.4.4. Đề xuất một số giải pháp bảo tồn loài Du sam đá vôi
2.5. Phương pháp nghiên cứu
2.5.1. Phương pháp kế thừa
Kế thừa kết quả của các nghiên cứu khoa học, các công trình nghiên cứu, bài

về động thái của các loài cây có trong rừng của mình. Vì vậy, phỏng vấn người dân
là phương pháp có thể thu thập được các thông tin quan trọng về Du sam đá vôi.
Khi tiến hành phỏng vấn, tập trung vào các vấn đề: thời gian bắt đầu ra chồi, lá non,
thời gian nón xuất hiện, thời gian nón chín...
3. Điều tra tình hình quản lý bảo vệ rừng và ý thức của người dân tại khu vực
nghiên cứu
Thông qua các tài liệu của KBTTN Kim Hỷ, các luật quy định và tình hình chấp
hành luật của người dân, tham khảo ý kiến người quản lý để đánh giá tình hình
quản lý, bảo vệ rừng của cán bộ và chính quyền sở tại, ý thức chấp hành của người
dân địa phương.
Điều tra theo tuyến
Sau khi nghiên cứu kỹ trên bản đồ, tài liệu, với sự cộng tác của các cán
bộ lâm nghiệp chúng tôi tiến hành thiết kế các tuyến điều tra. Tiến hành điều tra
theo các tuyến nhằm xác định sự phân bố của loài.
Tuyến điều tra được bố trí đi qua những khu vực có khả năng cao nhất có
loài Du sam đá vôi phân bố. Khi tuyến điều tra đi qua đỉnh núi, ngoài điều tra trên
đỉnh núi đó, còn dùng ống nhòm hoặc máy ảnh để điều tra phát hiện thêm phân bố
của Du sam đá vôi ở các đỉnh xung quanh. Sử dụng máy định vị GPS (Global
Positioning System) để xác định toạ độ trên tuyến điều tra.
Quan sát và phát hiện toàn bộ các cá thể loài Du sam đá vôi trên mỗi tuyến
(độ rộng tuyến 10m, độ dài tuyến phụ thuộc vào đường đi). Phát hiện và nhận diện


21

loài dựa vào những tài liệu đã công bố. Kết quả điều tra trên tuyến ghi vào biểu điều
tra tuyến (biểu 01, phụ lục)
Tiến hành điều tra nhiều đợt, vào các thời điểm khác nhau nhằm quan sát,
nghiên cứu các đặc điểm hình thái, vật hậu: kích thước lá, thời gian bắt đầu ra
lá, rụng lá, thời gian xuất hiện nón và quá trình biến đổi nón…

Trên ÔTC lập 12 ÔDB có diện tích 4m2 phân bố đều trên ÔTC, thống kê cây
tái sinh vào biểu điều tra (biểu 03, phụ lục) theo các chỉ tiêu:
- Tên loài cây tái sinh
- Đo chiều cao cây tái sinh bằng sào khắc vạch có độ chính xác đến cm.
- Phân cấp chất lượng cây tái sinh
Cây tốt là cây có thân thẳng, không cụt ngọn, sinh trưởng và phát triển tốt,
không sâu bệnh.
+ Cây xấu là những cây cong queo, cụt ngọn, sinh trưởng và phát triển kém,
sâu bệnh, còn lại là những cây có chất lượng trung bình.
- Điều tra tầng cây bụi, thảm tươi
Lập 5 ÔDB có diện tích 25m2
+ Điều tra cây bụi theo các chỉ tiêu: tên loài chủ yếu, chiều cao bình quân, độ
che phủ trung bình của các loài trên ÔDB, kết quả điều tra ghi vào biểu điều tra tầng
cây bụi (biểu 04, phụ lục).
+ Điều tra thảm tươi theo các chỉ tiêu: loài chủ yếu, chiều cao bình quân, độ
che phủ bình quân của loài trên từng ÔDB, kết quả ghi vào biểu điều tra thảm tươi
(biểu 05, phụ lục).
- Điều tra thực vật ngoại tầng:
Thống kê toàn bộ thực vật đặc trưng của khu vực có Du sam phân bố. Kết
quả ghi vào biểu điều tra thực vật ngoại tầng (biểu 06, phụ lục).
Trong quá trình điều tra các tầng cây trên, những cây chưa xác định được tên
cần phải chụp ảnh chi tiết, tỉ mỉ và lấy mẫu cho vào túi nilon cỡ lớn mang về nhà
làm mẫu. Sau đó kết hợp ảnh chụp và mẫu để giám định loài. Quá trình giám định
được thực hiện tại trường ĐHLN.
2. Điều tra các chỉ tiêu về sinh trưởng của Du sam đá vôi


23

Tiến hành điều tra các đặc điểm sinh trưởng của loài bao gồm các chỉ tiêu:

Để xác định ảnh hưởng của đất đến sự phân bố, sinh trưởng của Du sam đá
vôi, chúng tôi tiến hành lấy đất quanh gốc cây mẹ, gốc cây tái sinh và cả các vị trí
không có Du sam đá vôi phân bố. Phương pháp lấy mẫu đất thực hiện như sau:
Xung quanh mỗi cây Du sam tiến hành lấy mẫu đất ở trong vùng có rễ của cây
(đất trong vùng rễ cây) theo 8 hướng ở độ sâu từ 0 - 30 cm. Tổng hợp và trộn đều đất ta
được 01 mẫu đất dùng để phân tích các tính chất hóa học, vật lý của cây. Đối với mẫu
đất tại những vị trí của cây con ta tiến hành lấy mẫu bằng cách chọn vị trí cây con làm
tâm điểm sau đó lấy 4 mẫu đất theo 4 hướng là Đông, Tây, Nam, Bắc với độ sâu tầng
đất từ 0 - 30cm. Trộn đều các mẫu đất thu được ta có 01 mẫu đất phân tích. Đối với các
vị trí lấy mẫu đất không có cây Du sam ta tiến hành lấy mẫu theo các vị trí theo địa
hình: chân - sườn - đỉnh với độ sâu lẫy mẫu đất là: 0 - 30cm.
Mẫu đất được phân tích qua các chỉ tiêu: pHKCL, hàm lượng mùn, hàm lượng
N, P2O5, K2O tổng số, hàm lượng N, P2O5, K2O dễ tiêu, khả năng hấp phụ và thành
phần cấp hạt tại phòng thí nghiệm Đất - Trường Đại học lâm nghiệp (ĐHLN).
6. Thu thập các mẫu về phân tích và thí nghiệm
Tiến hành thu thập các mẫu lá, mẫu gỗ, hoa, quả.... về Trường ĐHLN nhằm
phân tích các đặc điểm giải phẫu của Du sam đá vôi.
- Thu thập mẫu gỗ: Tiến hành lấy mẫu gỗ của cây được giám định chính xác
là cây Du sam đá vôi và tiến hành lấy mẫu gỗ đem về phân tích cấu tạo thô đại, tính
chất vật lý, cơ học gỗ Du sam đá vôi.
Tiến hành gia công mẫu gỗ và đo đếm các chỉ tiêu tại phòng Thí nghiệm gỗ
Trường ĐHLN. Các chỉ tiêu bao gồm:
- Xác định tuổi cây thông qua cấu tạo của vòng năm
- Mô tả cấu tạo thô đại và cấu tạo hiển vi của gỗ
- Xác định khối lượng thể tích (KLTT) gỗ ở độ ẩm 12%
- Xác định giới hạn bên nén dọc của gỗ ở độ ẩm 12%
Khối lượng thể tích được xác định theo tiêu chuẩn TC ISO 4469-1981
Giới hạn bên nén dọc thực hiện theo tiêu chuẩn TC ISO 3787-1976
- Thu thập mẫu lá để nghiên cứu giải phẫu lá của Du sam đá vôi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status