LỜI CẢM ƠN
Sau 2 năm học tập và nghiên cứu với sự giảng dạy chỉ bào tận tình của các
thầy cô giáo, các nhà khoa học đến nay tôi đã hoàn thành luận án tốt nghiệp của
mình.
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Đảng uỷ, Ban Giám Hiệu, Khoa Y tế
Công cộng, Phòng Quản lý đào tạo Sau đại học, các phòng ban chức năng cùa
Trường Đại học Y Dược Thái Bình đã tạo điều kiện dế tôi hoàn thành khoá học và
thực hiện đề tài nghiên cứu của mình.
Tôi xin trân trọng cảm ơn nhà giáo ưu tú, Phó Giáo SU' - Tiến sỹ Ninh
Thị Nhung và Tiến sỹ Nguyễn Thanh Bình - những người thầy đã trực tiếp
hướng dẫn chi báo tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án.
Tôi xin trân trọng cám ơn lãnh đạo sở Y tế, lãnh đạo Sớ Lao động Thương
binh Xã hội, Trung tâm Giáo dục Lao động Xã hội II và Bệnh viện tâm thần tinh
Nghệ An, nhóm nghiên cứu, anh chị em đồng nghiệp, các bệnh nhân nhân đã phối
hợp và tạo điều kiện giúp tôi điều tra, thu thập xử lý số liệu kịp thời, ch ính xác
góp phần quan trụng vào việc hoàn thành bản luận án.
Tôi xin cảm ơn tới những người thân trong gia đình cùng bạn bè, đồng
nghiệp đà chia sẻ động viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Hoc viên
Phan Kim Thìn
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu được tiến hành nghiêm
túc. Các số liệu và kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ một công trình nào khác.
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẢT
Tác giả luận án
Phan Kim Thìn
SKTT
Sức khỏe tâm thần
TTGDLĐXH
Truna tâm giáo dục lao động xã hội
UBND
Uy ban nhân dân
VSKTT:
Viện sức khỏe Tâm Thần
XN-CĐHA-TDCN:
Xét nghiệm-chẩn đoán hình ảnh-thăm dò
YHCT:
Y học cỗ fruyen
YHHĐ:
Y học hiện đại
MỤC LỤC
y học hiện đại như: dùng các thuốc hướng thần, dùng liệu pháp tâm lý, cất cơn
nghiện bằng Catapressan (Clonidinc), phẫu thuật thuỳ trán..[28],[38],[39], Điều trị
hồ trợ cắt cơn nghiện ma tuý bằng các phương pháp của V học cổ truyền cũng đã
được triển khai nghiên cứu như: châm cứu, xoa bóp, các bài thuốc Bông sen,
Ccdcmcx.. Kct quà bước đầu cho thấy y học cổ truyền có tác dụng hỗ trợ cắt cơn
nghiện ma túy èm dịu và an toàn [20],[59],
Tại Nghệ An đã triển khai nhiều mô hình, sử dụng nhiều phác đồ điều trị
hồ trợ cắt cơn nghiện chất ma tủy, nhưng đến nay vẫn là một trọng những điếm
nóng về ma túy trong cả nước. Vì vậy việc nghiên cứu đánh giá kết quá quản lý
và điêu trị cai nghiện ma túy tại trung tâm giáo dục lao động xã hội II tỉnh Nghệ
7
An là cần thiết để bố sung các phương pháp, thống nhất các mô hình quản lý, điều
trị cai nghiện chất ma túy trong công tác phòng chống Ma túy hiện nay. Chính vì
vậy chung tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá kết quả điều trị cắt cơn nghiện ma tủy
cho bệnh nhăn và công tác quán ỉỷ cai nghiện tại trung tăm giáo dục lao động
xã hội ¡Ị tinh Nghệ An” nhằm mục tiêu:
1. Đánh giá kết quả điều trị cắt cơn nghiện ma túy tại trung tâm giáo dục
lao động xã hội II tỉnh Nghệ An.
Mô tả thực trạng công tác quản lý điều trị cai nghiện ma túy tại trung tâm giáo dục lao động
xã hội II tỉnh Nehệ An.
Chương 1
TONG QUAN
1.1.
Một số hiểu biết về ma túy
nhiều triệu chứng rất khó chịu, còn gọi là hội chứng cai (biếu hiện tỉnh trạng thiếu
morphin cấp diền) [38],[41],[42].
1.1.3. Phân loại chất ma tủy
a/Phân loại theo công ước quốc tế (1961, 197ỉ, 1988):
Theo công ước quốc tế, hiộn nay tổng số các chất ma tủy đặt dưới sự kiểm
soát quốc tế là 225 chất và 22 tiền chất.
Dựa trên cơ sở tính độc hại, luật kiểm soát, tác dụng dược lý mà 3 Công
ước quốc tế 1961, 1971, 1988 phân loại thành 4 bảng được xếp loại như sau:
- Báng I gồm: heroin, cần sa, acetorphin, Mescalin, brolamphetamin...
Các chất trong bảng này rất độc hại, cấm sử dụng hoặc sử dụng rất hạn chế
trong những trường họp đặc biệt do luật pháp quy định, chịu sự kiêm soát nghiêm
ngặt.
- Bảng II gồm: codein, morphin, opium, acetylmethađol, Amphetamin,
mecloqualone...
Các chất trong bảng này rất độc được sử dụng hạn chế trong y học và
nghiên cứu khoa học, phải chịu sự kiêm soát nghiêm ngặt.
- Bảng III gồm: Amobarbital, barbital, medazepam...
Các chất này độc hại, được sứ dụng trong y học, nghiên cứu khoa học và
công nghệ phải chịu sự kiếm soát.
- Bảng IV gôm: các chât thuộc bảng I, II của Công ước 1988 như:
Ephedrin, lysergic acid, piperidine... Các chất trong bảng này là những hóa chất
được sử dụng trong y học, nghicn cứu khoa học, công nghệ và trong đời sống.
b/ Phán loại theo biêu hiện lâm sàng .
* Các chất gây êm dịu là các thuốc bình thản, giải lo âu, gây ngủ:
Barbituriques, benzodiazépines
- Rượu.
- Thuốc phiện và chế phẩm : Codcin, morphine, hcroinc...
* Các chất kích thần:
+ Ma túy là những chất từ cây cần sa (canabis).
+ Ma túy là các chất gây kích thích (stimulants).
+ Ma túy là các chất gây ức chế (Dcpresants).
+ Ma túy là các chất gâv áo giác (Hallucinorens).
1. 1.4. Cơ chế bệnh sinh cua nghiện ma túy
* Tác động cua các chất dạng thuốc phiện qua các điểm tiếp nhận (hay thụ thể)
morph in:
Các chất dạng thuốc phiện khi vào cơ thể được chuyền hoá thành morphin
rồi vào máu. Thời gian bán huỷ của morphin ờ máu khoảng 2 giờ 30 phút. Sau 24
giờ, 90% morphin bài tiết ra ngoài, chi một lượng nhá vào hệ thần kinh trung
ương và đến các điểm tiếp nhận morphin. Có nhiều điểm tiếp nhận morphin (muy,
kappa, sigma, delta, epsilon...), nhtmg điểm tiếp nhận muy là cơ sở chủ yếu, nằm
rải rác ở năo, tập trung nhiều nhất ở vùng dưới đồi, có một ít ở hệ thần kinh thực
vật [44],[47],[60].
Tại các điểm tiếp nhận muy có sần các peptide nội sinh (endorphine,
enkephaline). Các peptide này tác động với mơrphin và dẫn truyền morphin qua
hệ thần kinh đến các vùng khác nhau của cơ thể gây ra những tác dụng chuyên
biệt.
Morphin có nhiều tác dụng khác nhau, đặc biệt các tác dụng chừa bệnh
như: giảm đau, gây binh thản giảm lo âu, ức chế hô hấp (chống ho), tăng trương
lực cơ trơn dạ dày, ruột (chống tiêu chảy), đặc biệt gây cảm giác sảng khoái. Tuy
nhiên, chính cảm giác sảng khoái đó đă sinh ra hiện tượng nghiện với ba trạng
thái: dung nạp, lệ thuộc cơ thể, lệ thuộc tâm thần [41].
Hình 1.1. Phân bố các thụ thề ịx Opioid ở hệ thần kinh trung ưong.
* Cơ sở sinh học cùa trạng thái dung nạp:
Morphin tác động liên tục vào các điểm tiếp nhận muy sẽ ức chế hoạt động
của enzym adenvlcyclase là enzym súc tác chuyến ATP (adenosin- triphosphate)
việc xóa bá phản xạ này là rất khó. Cảm giác thèm và nhớ sự dề chịu, sảng khoái
do CMT đem lại đà tồn tại tiềm tàng và thường trực trong não. Bởi vậy, khi eặp
một kích thích gợi nhớ chất ma túy thì các dấu vết của phản xạ có điều kiộn lại
được hoạt hóa. Xung động thòm CMT xuất hiện trớ lại và thúc đẩy người nghiện
tái sử dụng CMT. Chính vỉ thế mà một số người nghiộn ma túy đã cai nghiện và
không sử dụng ma túy trong một thời gian dài, lại có thố tái nghiện sau khi ra khái
trại cai nghiện một thời gian ngấn [39],[40],[41],[53].
1.2.
Tình hình nghiện ma túy hiện nay và hậu quả.
1.2.1. Trên thế giới
Nạn NMT đang lan tràn như một bệnh dịch rất nghiêm trọng ở khắp các
nước trên thế giới. Cuối thập kỷ 90, đã có 134 quốc gia và lãnh thổ phải đương
đầu với vấn đề lạm dụng ma túy và có khoáng 180 triệu người NMT. Năm 1985,
trên thế giới có 50 triệu người nghiện các loại thuốc gây nghiện. Đốn nay, ước
tính có khoảng 230 triệu người NMT chiếm 4% dân sổ thố giới [44],[49],[56],
Tại Mỳ, 2006 theo Thống kc của Viện chốnc ma túy hiện nay có 24 triệu
người nghiện cần sa, 7 triệu người nghiện cocain. Tại Pháp năm 2005 cỏ 1 triệu
người nghiện, trong đỏ có 700.000 người nghiện cần sa. Tại Iran, năm 2003 có
80.000 người nghiện thuốc phiện, 50.000 người nghiện heroin. Tại Peru, năm
2005 có 70.000 người NMT. Pakistan có 100.000 người nghiện thuốc phiện và
50.000 người nghiện Canabis. Italia có 65.000 người nghiện heroin. Brazin có
550.000 người nghiện canabis và 100.000 người NMT trong đó có 15.700 người
nghiện heroin. Thái Lan có 700.000 người nghiện, riêng thành phổ Băng Cốc có
300.000 người nghiện [29],[54],[63],[71]. Đa số người NMT (79%) ở lứa tuổi 1735 tuổi và chủ yếu là nông dân (30%), người thất nghiệp (45%). Zhao
c. và cs.
cho rằng ngoài heroin, các loại ma tuý mới được sử dụng ở Trung Quốc là
phòng chống tộ nạn xã hội thì số lượng người nghiện trên thực té có thể gấp nhiều
lần con số đã thống kê. sổ người NMT trong cả nước được điều trị còn chiếm tỷ
lộ thấp so với tổng sổ người nghiện, tỷ lộ tái nghiện còn cao, số người nghiện mới
gia tăng, tập trung ờ giới trẻ [6].
1.2.3. Tinh hình nghiện ma túy hiện nay tại Nghệ An.
Nghệ An là một tinh nghèo, đất rộng (gần 17.000.000 km 2), người đông
(gần 3 triệu người), địa hình phức tạp có 06 huyện miền núi với nhiều dân tộc
thiếu số sinh sống, đường bicn giới giáp nước Lào dài hơn 300 km, có Cảng biển
quốc tế Cửa lò và là nơi có giao thông thuận tiện cả đường không, đường bộ,
đường sắt, là điều kiện thuận lợi giao lưu kinh le và văn hóa. Vì vậy, Nghệ An là
một trong những địa bàn trọng điểm phức tạp về ma túy của cả nước. Toàn tinh có
hơn 6.100 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý ở 346/480 xã, phường, thị trấn
thuộc 20 huyện, thành phố, thị xã. Trong đó, người nghiện sinh sống tại cộng
đồng là 4.200 người, cai nghiện tại các Trung tâm giáo dục lao động xã hội và
phạm tội đang thi hành án gàn 1.900 người, số đáng viên nghiện ma túy và đãng
viên có vợ, chồng, con nghiện ma túy là 419 người.
Đc ngăn chặn tinh trạng trên, Lành đạo tinh và các cơ quan chức năng đã
triển khai nhiều những biện pháp phòng chổng MT, từ năm 1992 Ngành Y tế cũng
đã triển khai các phương pháp cai nghiện MT từ việc sử dụng thuốc TK - 92 của
Tiểu khu 50 Bộ đội biên phòng, phác đồ sử dụng các thuốc an thần kinh và các
thuốc cai nghiện MT, các thuốc chống tái nghiện, các thuốc điều trị thay thế mà
Bộ Y tế đã triển khai (nêu trên). Ngoài ra, năm 2007 được sự hồ trợ của Trường
Dại học Vanderbilt Hoa kỳ Bệnh viện tâm thần Nghệ An và 02 trung tâm cai
nghiện của tỉnh đã được tập huấn Chương trình SMAT nhằm trang bị kiến thức hồ
trợ, củng cố tâm lý cho người nghiện trong quá trình cai CMT và chống tái
nghiện. Cho đến nay việc chi đạo nghiệp vụ chuyên môn về cai NMT trong tỉnh
đều do ngành Y tế đảm nhiệm (Bệnh viện tâm thần), việc thu dung quản lý điều trị
âu căng thẳng, những người sống bên cạnh người NMT cảm thấy không an tâm,
thường phải đề phòng trộm cắp, né tránh người NMT để khái phải tai họa.
Theo báo cáo của Cục phòng chống tệ nạn xã hội: 70% người NMT có liên
quan đến trộm cắp, cướp giật, cờ bạc, mại dâm trong đó có 40% là tội phạm hình
sự. Hàng ngàn người bất chấp luật pháp lao vào con đường buôn bán ma túy kiếm
lời, tổ chức buôn bán ma túy thành những tô điềm, nhiều đối tượng đã lĩnh án tử
hình, tù chung thân.
* Đổi với sức khóe:
Người NMT lâu năm sức khòe giảm sút, gầy gò, ốm yếu, mất khả năng lao
động, về tâm thần trở nên chậm chạp, đờ đẫn, lo âu, trầm cảm, rối loạn ỷ chí và
đạo đức, trớ nôn thân tàn ma dại, có lúc lại bị kích thích cao độ, có the dân tới tự
sát hoặc gây tội ác. Tiêm chích ma túy còn là nguôn lây nhiêm HIV, viêm gan B,
c [1],[9].
1.3.
Chẩn đoán người nghiện ma túy
1.3.1. Các biếu hiện lâm sàng cứa nghiện ma túy
* Hội chứng nghiện:
Ba hoặc nhiều hơn trong số các biểu hiện sau sẩy ra cùng nhau trong vòng
ít nhất một tháng hoặc, nếu tồn tại trong khoảng thời gian ngắn hơn một tháng, thì
cần lặp đi lặp lại cùng nhau trong khoảng thời gian 12 tháng:
+ Ham muốn mạnh mẽ hoặc cảm giác buộc phải sử dụng chất.
+ Tổn thương khả năng kiểm soát tập tính sử dụng chất về mặt thời gian
bắt đầu, kết thúc hoặc mức sử dụng, được minh chứng bởi: chất ma tuý thường
được sử dụng với khối lượng lớn hơn và trong thời gian dài hơn dự định; hoặc bởi
sự thòm muốn dai dắng hoặc những nồ lực không thành đẻ giảm hoặc kiểm soát
việc sử dụng chất [42],[49],[50],[53].
+ Chảy nước mắt
+ Đau cơ hoặc chuột rút
+ Co cứng bông
+ Buồn nôn hoặc nôn
+ ỉa chảy
+ Giãn đồng tử
+ Nổi da gà hoặc ớn lạnh
+ Nhịp tim nhanh hoặc tăng huyết áp
+ Ngáp
+ Ngủ không yên [54],[60],[62].
* Biểu hiện lâm sàng cùa dùng CMĨ quá liều:
Người NMT sững sờ, hôn mê với suy hô hấp, truy tim mạch, hạ thân nhiệt,
đồng tử co hẹp. Nếu không được cấp cún kịp thời người nghiện sẽ tử vong.
* Biểu hiện lâm sàng của nhiễm độc CMT mạn tính:
+ Rối loạn tiêu hoá: chán ăn buồn nôn. nôn, táo bón xcn kẽ với ỉa cháy. +
Rối loạn tiết niệu: đái khó, đái rắt.
+ Rối loạn thần kinh: nhức đầu chóng mặt, run, giật cơ, dị cảm.
+ Nhiễm khuẩn các loại: ghẻ
lờ,
apxe, loét tĩnh mạch, viêm gan B,
nhiễm HIV [13]...
1.4.
Các phưong pháp điều trị cắt con nghiện ma túy
1.4.1. Điểu trị trạng thái nghiện ma túy cấp tính
biệt được phải trái của hành động. Vì vậy, hiện nay ở Italia đă cải tiến thành
phương pháp rạch thùy trán để giảm bớt những hậu quả do phẫu thuật gây ra.
1.4.1.6. Phương pháp dừng thuốc hướng thần
Các thuốc sứ dụng thông thường như thuốc giải lo âu (seduxen), thuốc an
thần kinh (tisersin, nozinan), thuốc trầm cảm (amitriptylin). Phương pháp này có
ưu điểm giá thành rẻ, tiện lợi, dề sử dụng [53],[58],[64],[67].
Thời gian cắt cơn từ 7 - 10 ngày, liều lượng thuốc tùy thuộc vào từng bệnh
nhân và nhất thiết phải có bác sĩ chuyên khoa tâm thần, hoặc bác sĩ đa khoa đã
được tập huấn tham gia điều trị.
1.4.
Ị. 7. Cãt cơn nghiện băng Catapressan (Clonidine)
Catapressan tác động vào thô the alpha 2 làm giảm hàm lượng
noradrenoline xuống giúp cơ thể trớ về trạng thái cân bằng và mất hội chứng cai.
Catapressan có tác dụng phô là gây giảm huyết áp và đau đầu [66],[68],[70].
1.4.1.8. Liệu pháp tâm lý
Dùng liệu pháp tâm lý dơn thuần hay liệu pháp tâm lv kết hợp với dùng
thuốc hướng thần, phương pháp này đòi hái phải có bác sỹ chuyên khoa tâm thần
nắm vững kỹ năng điều trị tâm lý, vì vậy khó thực hiện ở các tuyến cơ sở [5].
ỉ. 4.1.9. Phương pháp châm cứu
Tùy theo từng thể bệnh mà chọn huyệt châm cứu cho thích hợp.
- Các huyệt thường dùng là: Thái xung, Kinh môn, Tâm du, Hành gian,
nA_A
r
r
A
1A
* Điều trị các triệu chứng lâm sàng do nhiễm độc chut ma tuý mạn tính: Rối loạn
tiêu hoá (táo bón hoặc ỉa cháy, buồn nôn...), rối loạn tiết niệu (đái khó, đái
dắt), rối loạn thần kinh (nhức đầu, chóng mặt...), nhiễm khuẩn các loại (ghẻ
lỡ, viêm gan A, B...).
* Điểu trị thay thế hằng methadone:
Methadone là chất dạng thuốc phiện có tác dụng giảm đau mạnh gấp 5 lần
morphin nhưng thời gian tác dụng kco dài từ 24- 36 giờ. Methadone dung nạp
chậm hơn nhiều so với morphin và dung nạp chéo với các chất dạng thuốc phiện
cùng tác động trên một thô thể. Do vậy nó có thể làm mất biểu hiện của hội chứng
cai khi được sứ dụng thay thế các chất dạng thuốc phiện khác. Việc ngừng sử
dụng đột ngột methadone cũng gây ra hội chứng cai nhưng nhẹ hơn so với
morphin [43J,[50],[53],[64].
- ưu điểm: khắc phôc được tình trạng đói ma túy trường diễn, quản lý
được người nghiện, tránh lây lan các bệnh truyền nhiềm.
- Nhược điểm: giá thành đắt, thời gian điều trị kéo dài. Thực chất là thay
thế một chất ma túy này bằng một chất ma túy khác ít nguy hại.
* Điểu trị đối khủng hằng naltrexone (Abernil):
Naltrexone được Martin sử dụng từ năm 1973 đế loại trừ trạng thái phô
thuộc về mặt tâm thần của các đối tượng NMT. Naltrexone vào hệ thần kinh trung
ưong tìm đến các thô thế của các chất dạng thuốc phiện (CDTP), cạnh tranh với
CDTP chủ vận ở đấy, đẩy chất chu vận ra ngoài hay triệt tiêu tác dụng cúa chất
này ngay tại các thô thế. Khi đối tượng đang sử dụng CDTP mà sử dụng
naltrexone thì cơ chế tác động nêu trên sẽ gây hội chứng cai CDTP cấp, có thế
gây tử vong, Do vậy liệu pháp naltrexone chi được sử dụng sau khi đã điều trị cắt
cơn nghiện CDTP và đảm bảo trong cơ thể không còn CDTP nữa. Liệu pháp
naltrexon ít hấp dẫn với nhiều đối tượng NMT. Nhưng với đối tượng có quyết tâm
cao thì liệu pháp này mang lại nhiều kết quả. Liệu pháp đối kháng naltrexon cần
kết hợp chặt chẽ với liệu pháp tâm lý hành vi nhận thức.
* Liệu pháp tâm lý: