Nghiên cứu đặc điểm biến dị về sinh trưởng và một số chỉ tiêu chất lượng của keo lá tràm (acacia auriculiformis) tại các khu khảo nghiệm dòng vô tính ở ba vì hà nội và đồng hới quảng bình - Pdf 44

Bộ giáo dục và đào tạo
bộ nông nghiệp và PTNT
Trường đại học lâm nghiệp
----------------------------------

Hồ Hải Ninh

Nghiên cứu đặc điểm biến dị về sinh
trưởng và một số chỉ tiêu chất lượng của
Keo lá tràm (Acacia auriculiformis) TạI các KHU
KHảO NGHIệM DòNG vô tính ở Ba Vì - Hà NộI và
Đồng Hới - Quảng Bình

Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp

Hà Nội - Năm 2008


1
Đặt vấn đề
Việt Nam thuộc vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa với đặc trưng khí hậu
nóng ẩm, có 3/4 diện tích lãnh thổ là đồi núi. Diện tích rừng che phủ của nước ta
vào năm 1943 là 14,3 triệu ha, chiếm 48,3% diện tích tự nhiên toàn quốc. Theo
thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, vào thời điểm năm 1999
tổng diện tích rừng của nước ta chỉ còn 10,915,592 ha, trong đó rừng tự nhiên
9,444,298 ha và rừng trồng 1,471,394 ha, với độ che phủ khoảng 33,2% diện tích
tự nhiên (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2000) [1]. Còn theo thống kê mới nhất của
Cục Kiểm lâm, năm 2007 diện tích rừng tự nhiên nước ta đạt 10,283,965 ha, rừng
trồng đạt 2,553,369 ha, với độ che phủ 38,2% diện tích tự nhiên [2]. Vấn đề đặt ra
trước mắt là bảo vệ được diện tích rừng hiện có và nhanh chóng trồng rừng mới.
Song làm thế nào để không những chỉ có diện tích rừng được phục hồi, mà đồng

lọc và xây dựng nhiều khu khảo nghiệm dòng vô tính cho các cây đầu dòng có
kiểu hình xuất sắc theo các mục tiêu chọn lọc. Điển hình là hai khu khảo nghiệm
dòng vô tính tại Ba Vì - Hà Nội v Đồng Hới Quảng Bình, đều được xây dựng
vào năm 2002. Để có căn cứ chọn ra những dòng tốt nhất làm cơ sở cho các bước
cải thiện giống tiếp theo, cũng như cho việc cung cấp nguồn vật liệu giống có
phẩm chất di truyền được cải thiện cho sản xuất trước mắt thì việc đánh giá khảo
nghiệm theo định kỳ từng giai đoạn là đặc biệt có ý nghĩa. Tiếp theo hướng nghiên
cứu đã được thực hiện từ thời điểm làm khoá luận tốt nghiệp đại học (năm 2005),
tôi tiến hành nghiên cứu và đánh giá sâu và rộng hơn về hai khu khảo nghiệm này
với mong muốn có được những kết quả cập nhật tích cực về hoạt động cải thiện
giống đối với Keo lá tràm ở nước ta hiện nay. Được sự đồng ý của lãnh đạo Khoa
Sau đại học Trường ĐHLN và lãnh đạo Trung tâm Nghiên cứu Giống cây rừng Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, đặc biệt của cán bộ hướng dẫn khoa học TS Hà Huy Thịnh, tôi quyết định chọn đề tài: Nghiên cứu đặc điểm biến dị về
sinh trưởng và một số chỉ tiêu chất lượng của Keo lá tràm (Acacia
auriculiformis) tại các khu khảo nghiệm dòng vô tính ở Ba Vì - Hà Nội v
Đồng Hới - Quảng Bình làm nội dung nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ của
mình.


3
Chương I
Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1. Khái quát công tác cải thiện giống cây rừng.

Từ khi con người biết thuần hoá vật nuôi, cây trồng hoang dại để phục vụ
nhu cầu và lợi ích của mình thì cũng là lúc con người biết chọn giống. Vào thời
điểm đó họ chưa hiểu được nguyên nhân hình thành và tính chất của nguồn
nguyên liệu được dùng để chọn lọc, mà đơn thuần chỉ chọn những vật nuôi, cây
trồng đem lại lợi ích lớn nhất cho họ mà thôi. Sau khi học thuyết về nguyên lý di
truyền của Men Đen ra đời thì con người mới hiểu được nguyên nhân của biến dị,
cơ sở vật chất và cơ chế di truyền của các biến dị. Từ đây việc chọn lọc đã được

nghim
hu
th/dòng
vô tính

Lai
ging
Khảo
nghiệm
giống

Rừng giống

Vườn giống

Vật liệu giống
(hạt/hom, mô,)

Rừng trồng mới

Từ sơ đồ trên cho thấy: sau khi chọn được loài cây trồng phù hợp với mục
tiêu kinh doanh và xuất xứ phù hợp với hoàn cảnh sinh thái của các vùng sản xuất,
công việc tiếp theo là chọn lọc cây trội và khảo nghiệm hậu thế/dòng vô tính để
xây dựng rừng giống, vườn giống nhằm cung cấp vật liệu giống phục vụ trồng
rừng đại trà. Từ rừng trồng mới lại tiếp tục công việc chọn lọc cây trội để rồi xây
dựng rừng giống, vườn giống cung cấp giống cho trồng rừng luân kỳ tiếp theo. Cứ


5
như thế, việc làm này được thực hiện thường xuyên, liên tục qua nhiều thế hệ, nhờ

6
truyền trên toàn quốc cần phải có thời gian từ 5 10 năm và kinh phí lên đến hàng
chục tỷ đồng [9]. Đây là một việc làm không đơn giản, trước tiên cần có sự nỗ lực
vượt bậc của những người làm công tác giống. Song về phía Nhà nước cũng phải
cần có sự đầu tư về vốn để mua sắm trang thiết bị, đào tạo nhân lực phục vụ đắc
lực cho công tác này. Có như vậy mới có thể đưa công tác giống của chúng ta tiếp
cận dần với các nước trên thế giới và trước tiên là để phục vụ cho nền sản xuất lâm
nghiệp nước nhà.
1.2. Những thành tựu của công tác cải thiện giống cây rừng.

Giống là một trong những khâu có tầm quan trọng hàng đầu trong trồng
rừng công nghiệp. Có giống tốt kết hợp với những biện pháp kỹ thuật trồng rừng
thâm canh phù hợp sẽ góp phần đưa năng suất rừng trồng tăng lên đáng kể. Theo
tính toán của các nhà chọn giống thì hiệu quả di truyền của chọn giống có thể đạt
40 46%, tăng thu do sử dụng hạt từ thế hệ 1 là 10 15%, từ lai giống có định
hướng có thể lên tới 45 50% [10].
Trên thế giới, nhờ chọn giống kết hợp với trồng rừng thâm canh, người ta đã
tạo được rừng Dương có năng suất 400 m3/ha/năm và Bạch đàn hơn 100 m3/ha/
năm [11].
Công tác giống cây rừng ở nước ta được bắt đầu đồng thời với sự ra đời của
ngành Lâm nghiệp vào những năm 1960, đến nay đã ngót 50 năm. Tuy chưa phải
là dài, lại hoạt động trong thời kỳ đất nước có chiến tranh trước đây cũng như nền
kinh tế gặp rất nhiều khó khăn sau này, song cũng đạt được một số thành tựu đáng
ghi nhận. Chúng ta đã xây dựng được một mạng lưới các trạm trại cung cấp giống
cho các vùng lâm nghiệp trọng điểm trong cả nước, đã cung cấp giống cho những
loài cây trồng rừng quan trọng, như : Keo, Thông, Bồ đề, Tếch, Mỡvà một số
loài khác.Chúng ta đã chuyển hoá được một số rừng kinh tế thành rừng giống cho
các loài Keo ở Quảng Bình, Đồng Nai; Thông nhựa, Thông ba lá ở Lâm Đồng,
Quảng Ninh, Nghệ An; cây Mỡ ở Xí nghiệp giống 97 và Trung tâm Lâm sinh
Cầu Hai. Và gần đây là Thông đuôi ngựa ở Xí nghiệp cổ phần giống Đông Bắc

của những người làm công tác giống. Nó là điểm tựa vững chắc giúp cho công tác
giống cây rừng nước ta bước những bước vững chắc tiếp theo.


8
1.3. vai trò của khảo nghiệm hậu thế và khảo nghiệm dòng
vô tính trong cải thiện giống cây rừng.

Khảo nghiệm hậu thế là khảo nghiệm được tiến hành để so sánh đời sau
(tức hậu thế) của từng cây trội riêng lẻ với giống đại trà và đời bố mẹ để kiểm tra
tính di truyền của chúng. Hậu thế của mỗi cây trội được gọi là một gia đình, còn
bản thân cây trội được gọi là cây mẹ. Như vậy đối tượng gây trồng trong các khảo
nghiệm là các cây con thực sinh được tạo ra từ hạt của các cây trội đã được chọn
lọc và đánh giá.
Trong trường hợp khi đối tượng gây trồng khảo nghiệm là các cây con phân
sinh được tạo ra từ các bộ phận sinh dưỡng của cây trội thì được gọi là khảo
nghiệm dòng vô tính. Tập hợp tất cả các cây con phân sinh tạo ra từ cùng một cây
trội được gọi là một dòng vô tính, còn bản thân cây trội được gọi là cây đầu dòng.
Do được sinh ra trên cơ sở của phân bào nguyên nhiễm, các cây phân sinh mang
đầy đủ các đặc tính di truyền của cây đầu dòng, nên khảo nghiệm dòng vô tính là
phương thức đánh giá tốt nhất đặc điểm di truyền của các cây trội. Như vậy đối
với những loài cây mà việc nhân giống sinh dưỡng (bằng giâm hom, chiết, ghép
hay nuôi cây mô - tế bào) có thể thực hiện được thì người ta thường tiến hành
khảo nghiệm dòng vô tính thay vì hình thức khảo nghiệm hậu thế.
Cây trội được chọn lọc dựa theo kết quả đánh giá thông qua kiểu hình, mà
kiểu hình (P) là thể hiện sự tác động tổng hợp giữa kiểu gen (G), giai đoạn phát
triển (D) của cây cá thể (như tuổi cây hay các pha phát triển của chúng) và điều
kiện hoàn cảnh (E).
P = G + D + E (cho rừng khác tuổi)
Trong rừng trồng đồng tuổi thì cây trội là thể hiện sự tác động của kiểu gen

giống có hệ số di truyền thấp thì phải áp dụng phương pháp chọn lọc cá thể mới
có thể có được những giống tốt.
Mặt khác hệ số di truyền còn là cơ sở để nhà sản xuất lựa chọn phương thức
cải thiện năng suất và chất lượng sản phẩm phù hợp với đối tượng kinh doanh. Cụ
thể, khi sản phẩm mục tiêu của đối tượng kinh doanh được tạo bởi các tính trạng
có hệ số di truyền thấp thì việc cải thiện năng suất hay chất lượng sản phẩm có thể
được thực hiện bằng cách lựa chọn lập địa gây trồng phù hợp hay bằng các biện


10
pháp kỹ thuật lâm sinh tác động hợp lí. Còn khi sản phẩm mục tiêu của đối tượng
kinh doanh được cấu thành từ những tính trạng có hệ số di truyền cao (tính trạng
trơ) thì việc chọn lập địa gây trồng hay áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh là
ít có tác dụng. Trong trường hợp này chỉ có giải pháp chọn giống mới có thể đem
lại hiệu quả.
ý nghĩa quan trọng hơn cả của hệ số di truyền là giúp nhà chọn giống có
thể phỏng đoán trước được lượng tăng thu di truyền mà giống tốt có thể đem lại,
tức là lượng tăng thu có được nhờ việc sử dụng giống tốt qua tuyển chọn so với
việc sử dụng nguồn vật liệu giống đại trà. Hay nói cách khác, từ giá trị chênh lệch
theo các chỉ tiêu chọn lọc của bộ phận cây trồng được chọn so với toàn quần thể
trong rừng sản xuất hay ở khu khảo nghiệm hiện tại (được gọi là phân sai chọn
lọc), nhà chọn giống có thể ước tính trước được (theo lý thuyết) năng suất và chất
lượng sản phẩm tăng thêm ở rừng trồng thế hệ sau nhờ việc sử dụng nguồn vật liệu
giống chọn lọc này. Đây là cơ sở đặc biệt quan trọng giúp nhà sản xuất thuyết
minh được giá trị kinh tế của việc sử dụng giống tốt được cải thiện di truyền và
định lượng được giá thành của chúng.
1.4. Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và công dụng của
Keo lá tràm.

Keo (Acacia) là một chi thực vật họ phụ Trinh nữ (Mimosoideae), thuộc họ

quả. ở nhiều nơi người dân đã dùng Keo lá tràm như là một trong những loài cây
tiên phong để cải tạo đất trống, đồi núi trọc. Keo lá tràm là loài cây có bộ rễ phát
triển rất mạnh, nhất là hệ thống rễ phụ phân bố gần mặt đất. Trong thời kì cây con
ở vườn ươm rễ cọc phát triển rất nhanh, cây 2 tháng tuổi rễ cọc đạt 12 - 17cm, 4-5
tháng tuổi rễ cọc dài trên 20 cm và rễ phụ bắt đầu phát triển mạnh. ở tuổi 6 rễ cọc
chỉ ăn sâu được 80cm, nhưng rễ phụ phân bố theo chiều ngang lại rộng tới 460
cm (Cao Thọ ứng v Nguyễn Xuân Quát, 1986) [25]. Đặc biệt hệ thống rễ bàng
của Keo lá tràm có khả năng cộng sinh với các vi khuẩn cố định đạm. Được một
tháng tuổi ở rễ cây con trong bầu ươm đã bắt đầu xuất hiện các nốt sần, sau 3
tháng tuổi bộ rễ của một cây có thể có 16 - 17 nốt sần, tương dương với 0.15g nốt


12
sần tươi/cây (Lê Đình khả, Ngô Đình Quế, Nguyễn Đình Hải, 1999). Rừng trồng
5 tuổi trên đất bazan thoái hoá ở Tây Nguyên với mật độ 1660 cây/ha có thể sản
xuất được từ 380 - 570 kg nốt sần/ha/năm và có thể cố định đạm sinh học từ 15 34kgN/ha/năm (Nguyễn Huy Sơn, 1999).
Chu kỳ kinh doanh của cây Keo lá tràm thường từ 8 đến 12 năm với mục
tiêu làm gỗ nguyên liệu. Vỏ và giác Keo lá tràm thường chiếm khoảng 30% thể
tích thân cây (Chomcharn và cộng sự, 1986) [29], lõi có màu nâu nhẹ đến đỏ
thẫm, thớ gỗ mịn, có thể dùng đóng đồ mộc rất tốt. ở nước ta hiện nay gỗ Keo lá
tràm được dùng làm nguyên liệu giấy sợi, gỗ xây dựng, gỗ chống lò và đóng đồ
gia dụng, đồ mỹ nghệ. Do gỗ có vân đẹp và có màu phù hợp nên có nơi gọi là
Cẩm lai giả (Lê Đình Khả, 1993) [15], điều đó chứng tỏ gỗ Keo lá tràm được
dùng rộng rãi và được người dân chấp nhận khi gỗ của một số loài như Đinh, Lim,
Lát .v.v. ngày càng hiếm và đắt. Với những ưu điểm vừa nêu mà Keo lá tràm
nhanh chóng được các nước ở vùng nhiệt đới sử dụng như là một loài cây chủ yếu
để trồng rừng kinh tế, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, nhất là các nước vùng Đông
Nam á và Trung Quốc.
1.5. Các nghiên cứu về cải thiện giống Keo lá tràm.


có khả năng sinh trưởng nhanh và thích hợp với nhiều dạng lập địa gây trồng khác
nhau. Đặc biệt các xuất xứ sinh trưởng nhanh nhất của Keo lá tràm là Coen River
và Mary River (Lê Đình Khả, Nguyễn Hoàng Nghĩa, 1991).
Sau đó, trong các năm 1992 1994 một số khảo nghiệm khác đã được thực
hiện tại Sông Mây, Bầu Bàng (Đồng Nai), Măng Giang (Gia Lai) và Phù Ninh
(Phú Thọ). Đến nay một số khảo nghiệm vẫn còn được duy trì, một số khác không
còn nữa (Lê Đình Khả và cộng sự, 2001) [13]. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy
trong 5 loài Keo khảo nghiệm thì chỉ có 3 loài sinh trưởng nhanh là Keo tai tượng,
Keo lá liềm và Keo lá tràm. Mặt khác, sinh trưởng của các xuất xứ đã có sự khác
biệt rõ rệt. Những xuất xứ tốt nhất có thể tích cây bình quân gấp đôi những xuất
xứ kém nhất. Kết quả cho thấy các xuất xứ của Keo lá tràm có triển vọng sinh
trưởng tốt ở nước ta là Mibini (PNG), Coen River (QLD), Manton (NT) và Kings


14
Plains (QLD) (Lê Đình Khả và cộng sự, 2001) [13], (Nguyễn Hoàng Nghĩa, Lê
Đình Khả, 2000) [18].
Năm 1994 khảo nghiệm các xuất xứ Keo lá tràm được tiến hành theo dự án
ACIAR 9310 hợp tác với Autralia. Khảo nghiệm được tiến hành tại Cẩm Quỳ (Ba
Vì, Hà Nội), Đông Hà (Quảng Trị) và Sông Mây (Đồng Nai). Kết quả cho thấy
không những giữa các xuất xứ có sinh trưởng khác nhau, mà còn có những xuất xứ
tốt cho từng vùng, như: Halroyed (Qld) cho Ba Vì, Wondo Village (Qld) cho
Đông Hà, Morehead (PNG) cho Bầu Bàng và có những xuất xứ sinh trưởng tốt cho
tất cả các vùng khảo nghiệm, đó là Coen River. Riêng nòi địa phương Đồng Nai
thuộc nhóm sinh trưởng trung bình và kém ở cả ba nơi khảo nghiệm. Kết quả khảo
nghiệm cũng cho thấy trong các lô hạt của xuất xứ Coen River thì lô hạt số 16142
là có sinh trưởng và hình dáng thân cây khá nhất. Điều này chứng tỏ rằng các
quần thể khác nhau và lô hạt khác nhau của cùng một địa phương vẫn có sinh
trưởng rất khác nhau (Lê Đình Khả và cộng sự, 2001) [13].
Kết quả khảo nghiệm xuất xứ trong nhiều năm ở nước ta cho thấy trong

2001) [13].
Song song với các khảo nghiệm loài và xuất xứ, trong khoảng 10 năm gần
đây các kỹ thuật di truyền phân tử cũng đã được áp dụng rộng rãi trong nghiên
cứu chọn giống cây rừng. Các nghiên cứu di truyền phân tử được dùng để đánh giá
mức độ đa dạng di truyền trong quần thể và giữa các quần thể, tỷ lệ giao phấn
chéo trong quần thể. Các nghiên cứu của Wickneswari. R và Norwati. M (1993)
sử dụng chỉ thị phân tử isozyme trong đánh giá đa dạng di truyền của quần thể
Keo lá tràm tự nhiên tại Australia cho thấy sự sai khác khá cao giữa các quần thể
và sự sai khác di truyền là do sự sai khác giữa các cá thể trong quần thể. Điều này
có thể lý giải cho sự sai khác về sinh trưởng cũng như khả năng thích nghi của các
xuất xứ trong các khảo nghiệm và là cơ sở quan trọng trong chọn lọc cá thể.
Sau khảo nghiệm loài và xuất xứ, việc chọn lọc cây trội để xây dựng các
khảo nghiệm hậu thế/dòng vô tính và vườn giống để cung cấp hạt giống là bước
tiếp theo của một chương trình cải thiện giống. Khảo nghiệm hậu thế các gia đình
cây trội Keo lá tràm được chọn lọc từ nơi nguyên sản và từ các lâm phần địa
phương tại Thái Lan năm 1989 đã cho thấy có sự sai khác rất lớn về sinh trưởng


16
giữa các xuất xứ cũng như giữa các gia đình trong cùng xuất xứ. Các gia đình
được chọn lọc trong các rừng sản xuất tại Thái Lan có sinh trưởng kém đã bị chặt
bỏ khi khảo nghiệm này được chuyển hoá thành vườn giống. Sự sinh trưởng kém
của các gia đình địa phương đã được lý giải là do nền tảng di truyền hẹp, tình
trạng giao phối cận huyết và chọn lọc âm tính (các cá thể có sinh trưởng kém được
chọn để thu hái hạt giống cho sản xuất đại trà) đã xảy ra qua nhiều thế hệ
(Pyniopusarerk và cộng sự, 1997).
Cũng từ năm 1996, nghiên cứu chọn cây trội và khảo nghiệm dòng vô tính
cho Keo lá tràm đã được thực hiện trong khuôn khổ đề tài KH 08- 04. Bước đầu
đã xác định được một số dòng có triển vọng ở Ba Vì (Hà Nội) là các dòng 81, 82,
83, 84 và 85. Đây là những dòng vô tính ưu trội đã được công nhận là giống tiến

Dựa trên mục tiêu của đề tài, các nội dung nghiên cứu được xác định như
sau:
2.2.1. Đánh giá mức độ biến dị của các chỉ tiêu chọn lọc
2.2.1.1. Theo các chỉ tiêu sinh trưởng
2.2.1.2. Theo chỉ tiêu chất lượng thân cây
2.2.1.3. Theo chỉ tiêu tỷ trọng gỗ
2.2.1.4. Theo chỉ tiêu sức khoẻ
2.2.2. Xác định hệ số di truyền và ước lượng tăng thu di truyền lý thuyết
2.2.3. Đánh giá tương quan về kiểu gen và kiểu hình giữa các chỉ tiêu chọn lọc
2.2.4. Chọn lọc các dòng vô tính ưu trội trong hai khu khảo nghiệm
2.2.5. Đề xuất phương án tỉa thưa hai khu khảo nghiệm


18
2.2.6. Đánh giá hiệu quả tương tác kiểu gen (dòng vô tính) hoàn cảnh (lập địa
gây trồng) của Keo lá tràm
2.3. Phương pháp nghiên cứu.
2.3.1. Ngoại nghiệp.
Điều tra các chỉ tiêu sinh trưởng: điều tra tất cả các cây trong các ô của khu
khảo nghiệm theo phương pháp được trình bày trong giáo trình Điều tra rừng Trường Đại học Lâm nghiệp, trong đó:
- Chiều cao vút ngọn: đo bằng thước đo cao (đơn vị: m)
- Đường kính thân cây:đo bằng thước đo vanh (đo tại vị trí 1.3m tính từ mặt đất)
(đơn vị: cm ).
Điều tra các chỉ tiêu phản ánh chất lượng thân cây: điều tra tất cả các cây trong
các ô của khu khảo nghiệm, trong đó:
- Chiều cao dưới cành: đo bằng thước đo cao (đơn vị: m)
- Độ thẳng thân: được xác định bằng mục trắc và cho điểm theo 5 cấp (1 5):
+ Cây rất cong

1 điểm

+ Cành trung bình:

= 1/6 1/5 đường kính gốc cành

3 điểm.

+ Cành lớn:

= 1/4 1/3 đường kính gốc cành

2 điểm.

+ Cành rất lớn:

> 1/3 đường kính gốc cành

1 điểm

- Độ duy trì trục thân: được thực hiện theo phương pháp của Luangviriyasaeng &
Pinyopusarerk (2002) [32]. Mức độ duy trì trục thân được xác định bằng mục trắc
với những cành có độ lớn bằng 1/3 trục thân và cho điểm theo 6 cấp (1 6):
+ Cấp 1: chia cành, nhánh ngay sát gốc của trục thân chính

1 điểm


19
+ Cấp 2: chia cành, nhánh tại vị trí 1 /4 thân chính

2 điểm

Tỷ trọng gỗ (của thân cây đứng): được xác định ngay tại hiện trường điều tra
thông qua một chỉ tiêu gián tiếp có tên là Pilodyn (hình vẽ 3.1). Đối với Keo lá
tràm, đường kính kim Pilodyn được sử dụng = 2mm. Trước khi bắn Pilodyn tiến
hành mở 2 cửa sổ nhỏ theo hai hướng Đông Tây - Nam Bắc ở vị trí 1,3m bằng
cách đục bỏ vỏ cây. Bắn pilodyn tại 2 cửa sổ này và xác định độ sâu của kim tiến
vào thân cây (Greaves và các cộng sự, 1996 & Wang, 1999) [31] [39].
Chỉ tiêu sức khoẻ: được xác định bằng mục trắc và cho điểm theo 5 cấp (1 5):
+ Cây rất kém phát triển: ngọn bị khô, teo hoặc mất ngọn chính, tán lá rất thưa
hay lá úa vàng

1 điểm

+ Cây kém phát triển: ngọn chính cong queo, thiếu sức sống, tán lá thưa, lá
xanh nhạt

2 điểm


20

Hình 2.1. Pilodyn và phương pháp thu thập số liệu Pilodyn

Hình 2.2. Cửa sổ Pilodyn và lỗ kim sau khi bắn để lại trên thân cây
+ Cây phát triển trung bình: ngọn chính phát triển bình thường, tán lá vừa phải
3 điểm
+ Cây phát triển khá: ngọn chính phát triển khá, tán lá cân đối, lá xanh


21
4 điểm

Fk

(cm)

( m)

(m)

(điểm)

(điểm)

(điểm)

Pilodyn

Sk

Ghi

( điểm)

chú

1
2
1
2

3

D1,3 là đường kính ngang ngực

(đơn vị :cm)

Hvn là chiều cao vút ngọn

(đơn vị : m)

f

là hình số thường và được giả định là 0.5

2.3.2.2. Đánh giá mức độ biến dị giữa các dòng vô tính bằng phương pháp phân
tích phương sai 2 nhân tố. Số liệu được xử lý bằng các phần mềm thống kê thông
dụng trong cải thiện giống bao gồm DATAPLUS 3.0 và Genstat 7.0 (CSIRO),
SAS 8.0 (SAS Institute, 2002) và ASREML 1.0 (VSN International).
Mô hình toán học được sử dụng để xác định phương sai thành phần nhằm
xác định ảnh hưởng của các nhân tố thí nghiệm, như: lập địa, dòng vô tính, lặp,
hàng, cột, ô là:
Yijkln = + Bi +Bi.Rj+BiCk+Pl +fn+eijkln
Trong đó:

Yijkln : là chỉ số quan sát
: là giá trị bình quân quần thể

Bi: là ảnh hưởng của lặp
Bi.Rj: là ảnh hưởng của tương tác lặp i và hàng j
BiCk: là ảnh hưởng tương tác của lặp i và cột k
Pl: là ảnh hưởng của ô l
fn: là ảnh hưởng của dòng vô tính n

Xi

i 1

1
n 1

n



( Xi X )2

(3)

i 1

- Hệ số biến động (V%) được tính theo công thức
Sd
V% =

x 100

(4)

X
- Khoảng sai dị đảm bảo (Least Significant Diference).
LSD = t/2*SN*
Trong đó:



Tổng biến Bậc tự do
động (SS)

Phương sai (MS)

(DF)

F

Xác suất của

tính

F (Sig) mức
ý nghĩa

Nhân tố A

VA

a-1

S2a=VA/(a-1)

S2a/S2N

Nhân tố B

VB

a

Va =
Vn =

a

n .x c
i 1

a

(7)

i

ni

x
i 1 j 1

2
ij

a

ni . x i

với c =


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status